Giải pháp huy động vốn đầu tư (trong và ngoài nước) cho phát triển kinh tế - Pdf 71

Giải pháp huy động vốn đầu tư (trong và ngoài nước) cho phát triển kinh tế
Trần Bắc Hà - TGĐ NH Đầu tư và Phát triển VN
Năm 2005, năm cuối cùng của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm
(2001-2005) đã đi qua, đánh dấu những thành tựu mang tính toàn diện và
quyết định cho sự chuyển mình của đất nước. Những nỗ lực bền bỉ trong
đổi mới cơ chế, chính sách, pháp luật về tài chính, tiền tệ và đầu tư đã tạo dựng được một
môi trường đầu tư và kinh doanh ngày càng thuận lợi, thông thoáng và minh bạch, tạo điều
kiện thu hút tối đa các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội.
Trong 5 năm qua, tỷ trọng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội bình quân đạt trên 35% GDP, vượt
mục tiêu đã đề ra tại Đại hội Đảng IX (31-32%GDP). Trong cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội, mức
huy động các tiềm năng trong nước đạt 70%, vượt mục tiêu Đại hội IX - 66%. Nhờ vậy, tổng sản
phẩm quốc nội GDP đã đạt mức tăng trưởng cao và liên tục, đặc biệt, năm 2005 đạt mức kỷ lục
8,4%.
Phát huy những thành tích đã đạt được trong tăng trưởng kinh tế và huy động nguồn vốn cho phát
triển, Quốc hội và Chính phủ đã đề ra mục tiêu cho giai đoạn 2006 - 2010 tăng trưởng GDP bình
quân trên 8%/năm. Để thực hiện được mục tiêu này, ước tính nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế 5
năm tới lên đến 140 tỷ USD; tỷ trọng huy động vốn đầu tư xã hội trung bình cả giai đoạn là 38% -
40% GDP, với tốc độ tăng trung bình 12% - 13%/năm, trong đó nguồn vốn trong nước chiếm từ
60% - 65%.
“Giải pháp huy động vốn đầu tư trong và ngoài nước cho phát triển kinh tế”. Dưới đây xin đi
thẳng vào 3 nội dung chính:
1. Nội dung thứ nhất: Về những thành tựu và tiến bộ của hệ thống ngân hàng và của BIDV
Trong giai đoạn 2001-2005, Ngân hàng Nhà nước đã thực thi chính sách tiền tệ thận trọng, linh
hoạt, về cơ bản đã đạt được mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, đảm bảo sự ổn định và phát triển của hệ thống các TCTD. Việc điều hành chính
sách tiền tệ thông qua các công cụ gián tiếp như nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn, dự trữ bắt
buộc đã tăng cường khả năng điều tiết vốn khả dụng của các NHTM, qua đó nâng cao khả năng
cung ứng vốn của hệ thống NHTM cho nền kinh tế.
Cùng với đó, NHNN đã thực hiện điều chỉnh hành lang pháp lý, cơ chế chính sách theo hướng tiếp
cận với các thông lệ quốc tế, nhất là trong điều hành lãi suất, tỷ giá, quản lý ngoại hối, tín dụng và
hoạt động thanh toán. Luật Các tổ chức tín dụng đã được sửa đổi vào giữa năm 2004, kèm theo

hệ thống ngân hàng, dẫn đến việc người dân chuyển sang đầu tư vào bất động sản, hoặc tích trữ
dưới dạng USD và vàng.
Ba là, xu hướng tăng lãi suất USD tại Mỹ đã làm gia tăng tình trạng đô la hoá trong nền kinh tế,
gây sức ép rất lớn lên lãi suất đối với Đồng Việt Nam và gây nhiều khó khăn cho công tác huy
động vốn.
Bốn là, mức độ cạnh tranh trên thị trường vốn ngày càng cao, việc huy động vốn của các NHTM
phải cạnh tranh với các kênh thu hút vốn khác như tiết kiệm bưu điện, bảo hiểm nhân thọ, hoạt
động đầu tư bất động sản, đầu tư cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường tài chính.
Từ phân tích và lường đón những yếu tố thuận lợi cũng như bất lợi, BIDV đã chủ động xây dựng
Chiến lược phát triển giai đoạn 2006-2010 với mục tiêu cơ bản là: Nâng cao chất lượng, khả năng
sinh lời và đảm bảo an toàn trong hoạt động; Chủ động tham gia các chương trình kinh tế trọng
điểm như năng lượng, vật liệu xây dựng, công nghiệp tàu thuỷ, viên thong.. Cơ sở để thực hiện là
phải triển khai được chiến lược huy động vốn với các nội dung cơ bản:
Một là, phấn đấu thực hiện huy động vốn tăng trưởng với tốc độ bình quân 20%/năm để đáp ứng
cho nhu cầu tín dụng.
Hai là, đa dạng hoá hình thức huy động vốn: có tính đến hình thức phát hành trái phiếu quốc tế
vay vốn nước ngoài nhằm tài trợ cho các dự án của các DN khách hàng có những dự án đầu tư
dài hạn, có tính khả thi cao, dự kiến huy động khoảng 1 đến 1,3 tỷ USD.
Ba là, tiếp tục tăng cường tỷ trọng huy động vốn từ dân cư để đảm bảo duy trì nguồn vốn ổn định;
tích cực huy động các nguồn vốn trung và dài hạn để đảm bảo cân đối giữa cơ cấu huy động và
cho vay.
Bốn là, tiếp tục thực hiện tốt vai trò ngân hàng bán buôn cho dự án Tài chính Nông thôn II do Ngân
hàng thế giới tài trợ, đồng thời tiếp tục hoàn thiện đủ các điều kiện để tiếp nhận vốn vay giai đoạn
III vào đầu năm 2006, góp phần cung ứng nguồn vốn với lãi suất ưu đãi cho phát triển khu vực
nông thôn.
Năm là, tích cực xây dựng Liên doanh Quản lý Quỹ đầu tư giữa BIDV với đối tác Mỹ nhằm thúc
đấy chương trình đầu tư trực tiếp và gián tiếp của BIDV và các đối tác kinh doanh vào các doanh
nghiệp Việt Nam.
Bên cạnh đó, một nội dung quan trọng trong định hướng hoạt động của BIDV đã được khởi động
từ năm 2005 là tiến hành cổ phần hoá. Vấn đề này vừa phù hợp với chủ trương của Đảng và

khoán còn ở trình độ thấp, qui mô nhỏ bé, chất lượng dịch vụ chưa cao, chưa trở thành một kênh
huy động vốn dài hạn cho đầu tư phát triển.
Đối với hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước (chiếm 75% thị phần tín dụng, huy động vốn
của toàn ngành), việc tài trợ cho các DNNN gặp rất nhiều khó khăn trong công tác thu hồi vốn để
tái đầu tư Nợ xấu, nợ quá hạn lớn phần nhiều cũng nảy sinh từ hoạt động tài trợ cho các DN này,
dẫn đến khả năng sinh lời của các NHTM thấp do phải thực hiện trích lập dự phòng rủi ro lớn theo
quy định hiện hành.
Về huy động vốn ngoài nước, nhiều tiềm năng vốn vốn nước ngoài chưa được khai thác triệt để.
Thực hiện ODA và FDI còn thấp so với mức cam kết và đăng ký của các nhà tài trợ, các nhà đầu
tư tại Việt Nam. Sự cạnh tranh trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang ngày càng trở
nên gay gắt trong khu vực và trên thế giới trong khi môi trường đầu tư của Việt Nam vẫn bị đánh
giá là thiếu nhất quán và kém cạnh tranh; thông tin kém minh bạch, chi phí của một số yếu tố đầu
vào còn cao, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp còn hạn chế. Bên cạnh đó, thu hút vốn đầu tư gián tiếp
(FII) còn chưa tương xứng với tiềm năng. Việc khơi thông nguồn vốn FII vào các doanh nghiệp
của Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Phần nhiều là do Việt Nam chưa thực sự có những
quy định pháp lý rõ ràng trong thu hút nguồn vốn này.
* Dưới giác độ hệ thống NHTM
Hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vốn nhỏ bé trong khi phải thực hiện
những nhiệm vụ chiến lược, những dự án có tổng vốn đầu tư lớn nên việc đảm bảo đủ 15% vốn
tự có (hoặc 30% đối với các dự án đầu tư theo hình thức B.O.T) để được vay vốn các Ngân hàng
thương mại với hình thức đảm bảo nợ vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay là rất khó khăn.
Ngoài ra, cơ sở pháp lý để xác định phần vốn này đôi khi còn chưa rõ ràng. Thực tế, có rất ít
doanh nghiệp đạt được tỷ lệ vốn tự có này.
Nợ tồn đọng trong các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là doanh nghiệp ngành xây lắp chưa
được giải quyết thoả đáng. Các doanh nghiệp không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng
trong khi các NHTM lại chưa nhận được sự hỗ trợ để thu hồi nợ vay từ các cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền.
Tài sản đảm bảo nợ vay, phát mại tài sản bảo đảm hiện nay là trở ngại lớn cho các NHTM (đặc
biệt là tài sản của các doanh nghiệp Nhà nước) vì đa phần các tài sản chưa đủ cơ sở pháp lý để
thế chấp, cầm cố. Vì vậy, khi xử lý tài sản đảm bảo Ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn và làm

đầu, lựa chọn hình thức CPH (1 bước, 2 bước) và những vấn đề khác liên quan..
- Trước khi CPH cần có cơ chế khuyến khích người lao động như việc bán cổ phần cho CBCNV
một cách hợp lý.
Tiếp tục tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân và
trú trọng trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ,
Tiếp tục cải thiện môi trường thu hút đầu tư nước ngoài, kể cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
Bảo đảm quyền kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được mở rộng phù
hợp với các cam kết mở cửa thị trường theo các hiệp định thương mại song phương, trong đàm
phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới.
Cần định hướng về thu xếp vốn cho các dự án có tổng vốn đầu tư lớn, các dự án lớn nên cơ cấu
tỷ lệ vốn trong nước, vốn nước ngoài, vốn của NHTM, vốn từ Ngân sách Nhà nước, vốn của chủ
đầu tư...)
2. Đối với các Bộ: Tài Chính, NHNN, Tư Pháp, Tài nguyên Môi trường
Bộ Tài Chính cần nghiên cứu phát triển thị trường chứng khoán trở thành kênh huy động nguồn
lực có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư dài hạn cho phát triển kinh tế - xã hội.
Đẩy mạnh việc phát hành trái phiếu trong nước và quốc tế: Rà soát nhu cầu thực tế của các DN
lớn (nhóm ngành chiến lược cần đầu tư mạnh mẽ) để hướng dẫn thủ tục phát hành trái phiếu
quốc tế; xem xét phát hành trái phiếu dài hạn trong nước 10 năm, với lãi suất và khối lượng phù
hợp nhằm thu hút vốn trong dân và dần tạo lập thước đo lãi suất chuẩn cho thị trường vốn trong
nước.
Bộ Tài chính cho phép các NHTMNN có lộ trình tách bạch dư nợ KHNN, chỉ định ra khỏi bảng tổng
kết tài sản chậm nhất đến 2010, thời điểm cổ phần hoá toàn bộ các NHTM NN theo định hướng
của Chính phủ.
Hoàn thiện các cơ chế pháp lý về thế chấp đối với tài sản của các doanh nghiệp nhà nước trên
nguyên tắc đảm bảo thuận lợi, đủ căn cứ pháp lý và đặc biệt cần lưu ý đến điều kiện kế thừa và
chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hiện nay. Cần quy định sao cho khi xử lý tài sản đảm bảo, các
Ngân hàng có đầy đủ cơ sở và điều kiện thuận lợi để thu hồi vốn.
Cần sớm thống nhất việc đăng ký giao dịch bảo đảm vào một cơ quan duy nhất là Cục đăng ký
quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp để giảm bớt thủ tục, chi phí.
Bộ Tài Chính, NHNN phối hợp hoàn chỉnh khung pháp lý điều chỉnh hoạt động thị trường vốn, tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status