Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá trên thế giới
Nghiên cứu về bệnh học thuỷ sản trên thế giới có lịch sử
phát triển gần 100 năm. Người ta bắt đầu quan tâm tới bệnh
cá từ cuối thế kỉ XIX nhưng chỉ dừng lại ở mô tả những
dấu hiệu bệnh lí chưa có những nghiên cứu tìm hiểu
nguyên nhân gây bệnh. Sang đầu thế kỉ XX, các nhà khoa
học bắt đầu nhiên cứu và viết sách về bệnh cá mà đầu tiên
là những bệnh do ký sinh trùng gây ra.
ở Liên Xô (cũ) có thể nói là một cái nôi đầu tiên của
nghành ký sinh trùng học. Viện sỹ V.A.Dogiel (1882-1956)
người đầu tiên đặt nền móng cho nghiên cứu ký sinh trùng
cá. Năm 1929, ông đưa ra “phương pháp nghiên cứu ký
sinh trùng cá” đã mở ra một hướng mới cho nhiên cứu về
khu hệ ký sinh trùng ký sinh trên cá và các loại bệnh cá do
ký sinh trùng gây ra.
Tiếp bước viện sỹ V.A.Dogiel, vào năm 1962 Viện sỹ
Bychowsky và các cộng sự xuất bản cuốn “Bảng phân loại
ký sinh trùng của cá nước ngọt Liên Xô cũ”, trong đó tác
giả đã mô tả 1211 loài ký sinh trùng của khu hệ cá nước
ngọt Liên Xô cũ.
Tiếp tục những năm 1984, 1985, 1987 công trình của
O.N.Bauer và nhiều tác giả khác như Schulman, Gussev đã
mô tả hơn 2000 loài ký sinh trùng của 233 loài cá thuộc 25
họ cá nước ngọt Liên Xô. Cho đến tận bây giờ nó vẫn là
cuốn tài liệu được lưu hành ở hầu hết các nước và được
dùng làm tài liệu tham khảo phân loại ký sinh trùng.
Ở Trung Quốc việc nghiên cứu ký sinh trùng – bệnh cá và
động vật thủy sản nói chung khá phát triển so với các nước
ASEAN. Vào năm 1973, Chen Chin Leu và ctv đã xuất bản
cuốn ký sinh trùng cá nước ngọt tỉnh Hồ Bắc, trong đó đã
phân loại được 379 loài ký sinh trùng trên 50 loài cá nước
đối với bệnh này sự điều trị bằng thuốc hóa học không
mang lại hiệu quả vì sự chết chóc luôn luôn xảy ra trước
khi phép điều trị có hiệu lực.
Ở Malaysia, từ năm 1961- 1973 J.I. Furtado và C.H.
Fernanda đã có báo cáo về phân loại và hình thái một số
giun sán ký sinh trên ở cá nước ngọt Malaysia
(Leong,1992). Đến giai đoạn 1983- 1987, khi nghiên cứu
về ký sinh trùng trên một số cá nước ngọt ở vùng bán đảo
Malaysia, Lim và J.I Furtado đã phát hiện ra 54 loại
Monogenema . Hiện nay, ở Malaysia nhiều tác giả không
chỉ đi sâu nghiên cứu riêng về cá nước ngọt mà cả ở cá biển
với nhiều hình thức nuôi khác nhau.
Năm 1947, ở Philippin M.A.Tubangui đã có kết quả
nghiên cứu về một số loại thuộc bọn sán lá đơn chủ
(Monogenea), sán lá song chủ (Trematoda), giun tròn
(Nemapoda) và giun đầu móc (Acanthocephara). Trong
cuốn sách dày 30 trang, tác giả C.C. Velasquez 1958 đã đề
cập đến sự phân loại và chu trình sống của ký sinh trùng
giun sán. Mãi tới năm 1975 C.C Velasquez đã cho ra đời
cuốn sách nói về sán lá song chủ ở Philippin một cách
hoàn thiện, đây cũng là tài liệu chuyên khảo rất có giá trị
hiện đang được lưu hành.
Ngoài ra ở một số nước như Ấn Độ có công trình
nghiên cứu của Thapar, 1976 đã tổng kết về sán lá đơn chủ
(Monogenea) có 100 loài ký sinh trùng ký sinh ở các loài
cá ở Ấn Độ. Năm 1973 – 1974 A.V.Gussev, nghiên cứu
khu hệ sán lá đơn chủ ở 38 loài cá nước ngọt Ấn Độ, đã
phát hiện được 40 loài sán lá đơn chủ là loài mới đối với
khoa học.
Ở bên cạnh nước láng giềng Ấn Độ, Banglades có các tác