Báo cáo thực tập : Quản lý nhà nước đối với mặt hàng sữa bột trên địa bàn Hà Nội - Pdf 18

TRƯỜNG
KHOA………………

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
Quản lý nhà nước đối với mặt hàng
sữa bột trên địa bàn Hà Nội
1
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI MẶT HÀNG SỮA BỘT 3
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 3
CHƯƠNG II: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI MẶT HÀNG SỮA BỘT 6
2.1 Một số khái niệm 6
2.1.1 Khái niệm về mặt hàng sữa bột 6
CHƯƠNG III :PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI MẶT
HÀNG SỮA BỘT TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 18
3.1 Phương pháp hệ nghiên cứu: 18
Phương pháp phân tích tổng hợp : Sử dụng phương pháp duy vật biện
chứng để phân tích tổng hợp, ngoài ra còn sử dụng phương pháp logic và
phương pháp triển khai, quy nạp trong qua trình phân tích lí luận và thực
tiễn 18
3.2 Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến
QLNN đối với mặt hàng sữa bột trên địa bàn Hà Nội 18
3.2.1 Thực trạng thị trường sữa bột trên địa bàn Hà Nội 18
4.2 Triển vọng và dự báo QLNN về thị trường sữa bột 49
4.2.1 Triển vọng quản lý nhà nước và giá sữa 49
4.3 Các giải pháp, kiến nghị về quản lý nhà nước đối với mặt hàng sữa trên
địa bàn Hà Nội 52

3
cở sở phân tích thực trạng đề ra các biện pháp để quản lý thị trường sữa bột tại
Hà Nội một cách hiệu quả.
Do đó, chúng em đã lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước đối với mặt
hàng sữa bột trên địa bàn Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu khoa học.
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về sữa bột và quản lý thị trường sữa bột
của nhà nước. Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và thực trạng thị trường sữa bột
trên địa bàn Hà Nội, phát hiện ra những mặt hạn chế trong quản lý thị trường sữa
bột trên địa bàn Hà Nội của nhà nước và đưa ra các giải pháp quản lý thị trường
sữa bột hữu hiệu.
1.4 Các câu hỏi đặt ra cho nghiên cứu
Tình hình thị trường sữa bột trên địa bàn Hà Nội như thế nào?
Tình hình quản lý nhà nước về thị trường sữa bột trên địa bàn Hà Nội ra sao?
Khi kinh doanh sữa bột cần chú ý gì?
Vấn đề đặt ra lớn nhất cho thị trường sữa bột là gì?
Thuận lợi, khó khăn trong quản lý nhà nước trên thị trường sữa bột?
Có thể đưa ra những giải pháp nào để cải thiện thị trường sữa bột hiện nay và đề
ra hững biện pháp gì để nâng cao quản lý nhà nước trên thị trường sữa bột trong
tương lai?
1.5 Phạm vi nghiên cứu:
+Phạm vi không gian: Do hạn chế về không gian, chúng em đã lựa chọn nghiên
cứu đề tài này với phạm vi trên địa bàn Hà Nội hiện nay.
+ Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng thị trường sữa bột,
quản lý nhà nước đối với thị trường sữa bột trên địa bàn Hà Nội trong khoảng
thời gian 5 năm từ năm 2006 đến năm 2010.
+ Phạm vi nội dung: Nội dung nghiên cứu là thực trạng thị trường sữa bột hiện
nay trên địa bàn Hà Nội và quản lý nhà nước về thị trường sữa, nhấn mạnh vấn
4
đề quản lý nhà nước về thị trường sữa bột, chủ yếu bằng nội dung chính sách

CHƯƠNG II: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI MẶT HÀNG SỮA BỘT
2.1 Một số khái niệm
2.1.1 Khái niệm về mặt hàng sữa bột
Sữa bột là loại sữa được làm khô trong chu trình chế biến để chuyển từ
dạng nước thành dạng bột đồng thời khi chế biến còn được bổ sung thêm một số
chất : canxi, DHA,AA,ARA, hỗn hợp prebitoric….và một số các chất phụ gia
khác tùy theo tính chất của từng sản phẩm. ( theo tạp chí về thực phẩm)
Các dạng sữa bột hiện nay : sữa bột nguyên kem, sữa bột tan nhanh, sữa
bột gầy.
+ Sữa bột nguyên kem : Là sữa bột chứa từ 26% đến 42% hàm lượng chất béo.
+ Sữa bột tan nhanh: Là sữa bột chứa từ 1,5% đến 26% hàm lượng chất béo.
+ Sữa bột gầy :Là sữa bột chứa nhỏ hơn 1,5% hàm lượng chất béo.
2.1.2 Đặc điểm của mặt hàng sữa bột
Trên thị trường Việt Nam hiện nay có hai nhóm sản phẩm là: sữa bột
nguyên kem, sữa bột gầy.Nhóm nguyên liệu và vật liệu phụ trong thành phần sữa
bột thường bao gồm: (1) độ tinh khiết cảu tất cả các loại nguyên liệu và vật liệu
phụ phải đảm bảo yêu cầu đối với sản xuất thực phẩm, (2) chủng sữa tinh khiết,
(3) các vitamin, (4) dầu thực vật,(5) đạm, ( 6) đường sữa, đường sacaroza,
glucoza,lactoza, (7) tinh bột, (8) axit lacticDL, axit xitric, (9) muối khoáng, (10)
nước uống, (11) các chất phụ gia khác tùy theo tính chất của từng sản phẩm.
Để phân biệt được các loại sản phẩm sữa bột trên thị trường có rất nhiều
cách, dưới đây là một số cách đơn giản:
+) Tùy theo công dụng sản phẩm được chia ra các loại như sau:
6
- Loại sản phẩm dùng cho trẻ đẻ non và trẻ đến 3 tháng tuổi.
- Loại sản phẩm dùng cho trẻ từ 4 đến 12 tháng.
- Loại sản phẩm dùng cho trẻ từ 1 tới 3 tuổi.
- Loại sản phẩm dùng cho bà mẹ mang thai.
- Loại sản phẩm dùng cho người già.

Bảng 2.1 – Các chỉ tiêu cảm quan của sữa bột
Tên chỉ tiêu Đặc trưng của sữa bột
1. Màu sắc Từ màu trắng sữa đến màu kem nhạt
2. Mùi, vị Thơm, ngọt đặc trưng của sữa bột, không có mùi, vị lạ
3. Trạng thái Dạng bột, đồng nhất, không bị vón cục, không có tạp chất lạ
(Nguồn: Theo cục vệ sinh an toàn thực phẩm)
Chỉ tiêu vi sinh: tổng số vi khuẩn hiếu khí, số VSV gây bệnh như ecoli,
salmonella,clostridium…
- Chỉ tiêu hóa lý: độ ẩm, tỷ trọng, khả năng hòa tan, độ chua, kích thước hạt, hàm
lượng các chất dinh duwongx như hàm lượng chất béo,lactose, vitamin, protein,
- Khả năng hòa tan của sữa bột được xác định qua các chỉ tiêu: chỉ số hòa tan, độ
thấm ướt, độ phân tán…
- Chỉ số hòa tan: phương pháp chung xác định chỉ số hòa tan là cho 10g sữa bột
gầy ( hoặc 13g sữa bột nguyên kem) vào 100ml nước ở 20 khuấy trộn trong
một thời gian xác định, sau đó đem li tâm trên thiết bị chuẩn với số vòng quay và
thời gian xác định. Sau quá trình li tâm, ta tách bỏ một thể tích xác định phần
8
lỏng, tiếp cho một lượng nước cất vào ống ly tâm, lắc đều rồi đem ly tâm lần hai.
Thể tích cặn thu được chính là chỉ số hào tan của sản phẩm sữa bột. Vậy chỉ số
hòa tan càng lớn thì độ hòa tan càng thấp.
- Độ thấm ướt: Là thời gian cần thiết tính bằng giây để làm ướt 10 g sữa gầy hoặc
13g sữa bột nguyên cream khi ta đổ sữa vào 100ml nước ở 20 .
- Độ phân tán: Là tỉ lệ % sữa bột không tan, thông thường người ta thường cho
10g sữa bột gầy hoặc 13g sữa bột nguyên cream vào 100ml nước ở 20 , khuấy
đều trong 20 giây rồi cho hỗn hợp vào bình thử.
2.1.5 Quản lý nhà nước về mặt hàng sữa bột
Quản lý có thể hiểu với ý nghĩa thông thường, phổ biến, với phạm vi rất
rộng là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức của chủ thể vào đối tượng
nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của con người, nhằm
duy trì tính ổn định và sự phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định.

các vùng, các địa phương; mua vào hoặc bán ra hàng hoá dự trữ; kiểm soát hàng
tồn kho; quy định giá tối đa, tối thiểu, khung giá; kiểm soát các yếu tố hình thành
giá.
- Nhà nước áp dụng các biện pháp kiểm soát giá độc quyền, chống bán phá giá.
Các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh có quyền tự quyết định giá mua, giá
bán hàng hoá, dịch vụ không thuộc danh mục Nhà nước định giá; được quyền
khiếu nại về các quyết định giá của cơ quan Nhà nước làm thiệt hại lợi ích hợp
pháp của mình. Đồng thời các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phải niêm yết giá
hàng hoá, dịch vụ tại cửa hàng, nơi giao dịch mua bán, cung ứng dịch vụ và phải
bán đúng giá niêm yết. Nhà nước nghiêm cấm việc liên kết độc quyền về giá; bán
phá giá hàng hoá, dịch vụ; bịa đặt, loan tin không có căn cứ về việc tăng hoặc hạ
giá; định giá sai; tăng hoặc giảm giá giả tạo bằng cách thay đổi số lượng, chất
10
lượng, địa điểm giao nhận hàng; lợi dụng thiên tai, địch họa để đầu cơ tăng giá,
ép giá.
- Pháp lệnh quy định, cơ quan có thẩm quyền quản lý Nhà nước về giá có quyền:
đình chỉ việc thực hiện giá bán hàng, dịch vụ do tổ chức, cá nhân liên kết độc
quyền về giá quy định. Trường hợp cần điều chỉnh giá thì tổ chức, cá nhân phải
lập phương án giá trình cơ quan có thẩm quyền quản lý Nhà nước về giá xem xét,
quyết định. Các hành vi không bị coi là bán phá giá là: hạ giá bán hàng tươi sống,
hàng tồn kho do chất lượng giảm, lạc hậu về hình thức, hàng theo mùa vụ; hàng
để khuyến mại theo quy định của pháp luật.
2.2.2. Quản lý nhà nước về chất lượng
Trước hết phải thấy rằng quản lý nhà nước về chất lượng là hoạt động tổng hợp
mang tính kỹ thuật, kinh tế và xã hội, có mục tiêu, biến đổi theo thời gian và
thông qua các cơ chế, chính sách và hệ thống tổ chức.
Mục tiêu quản lý chất lượng của Nhà nước Việt Nam là “để đảm bảo nâng cao
chất lượng hàng hóa, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng, sử dụng hợp
lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động, bảo vệ môi trường, thúc đẩy tiến bộ

mại.
Bài viết gồm 3 chương :
Chương I : Một số vấn đề lý luận về quản lí Nhà nước đối với lĩnh vực Thương
mại ở nước ta.
Chương II: Thực trạng công tác quản lí Nhà nước về Thương mại .
Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN về Thương mại ở
nước ta hiện nay.
12
Nghị quyết đại hội, đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ :
"Vận dụng cơ chế thị trường đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý vĩ mô Nhà
nước, đồng thời xác lập đầy đủ chế độ tự chủ của các đơn vị kinh doanh, nhằm
phát huy những tác động tích cực to lớn đi đôi với ngăn ngừa, hạn chế và khắc
phục những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường".
Đề tài thứ 3:
Theo luận văn tốt nghiệp: Một số biện pháp chống gian lận thương mại qua giá
trong hoạt động nhập khẩu tại chi cục Hải quan Gia Thụy- Gia Lâm- Hà Nội
Về mặt lý luận các công trình trên đã hệ thống lại và nói rõ những lý luận cơ bản
QLNN về thương mại, về thực tiễn các đề tài đó đi sâu tìm hiểu và phân tích thực
trạng tình hình thương mại nói chung, phát hiện những tồn tại, nguyên nhân và
đề xuất những giải pháp thích hợp để giải quyết những vấn đề còn tồn tại. Đó là
những thành công của các nghiên cứu trước.
Sự khác biệt của đề tài:
Bước vào năm 2009 đứng trước thực tiễn khủng hoảng của nền kinh tế thế giới,
thị trường Việt Nam nói chung và thị trường Hà Nội nói riêng trở thành vấn đề
mang tính thời sự hết sức nóng bỏng vì Hà Nội là một trong hai thị trường có
khối lượng tiêu thụ sữa lớn. Xuất phát từ tính cấp thiết ấy chúng em mạnh dạn
nghiên cứu sang vấn đề mới mẻ mang tính thực tiễn đó là tập trung vào vấn đề
QLNN về thương mại đối với mặt hàng sữa bột trên địa bàn Hà Nội. Đó là sự
khác biệt về phạm vi, không gian nghiên cứu.
Trên cơ sở kế thừa những lý luận của công trình đi trước, chúng em đã giải quyết

2.4.1.2. Quy định về thành lập quỹ bình ổn giá
Thương nhân đầu mối có nghĩa vụ trích lập Quỹ Bình ổn giá để tham gia bình
ổn giá theo quy định. Quỹ Bình ổn giá được lập để tại doanh nghiệp, được hạch
toán riêng và chỉ sử dụng vào mục đích bình ổn giá.
14
Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế hình thành, quản lý và sử dụng Quỹ Bình ổn
giá. Theo đó, Bộ Tài chính tổ chức ngay các đoàn kiểm tra, thanh tra việc chấp
hành pháp luật về thuế và pháp luật về giá đối với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân
sản xuất kinh doanh các mặt hàng thuộc danh mục bình ổn giá, đăng ký giá, kê
khai giá, niêm yết giá tại các thành phố sau: xi măng, sắt thép, khí hoá lỏng, xăng
dầu, phân bón, đường, sữa, thức ăn chăn nuôi, thuốc chữa bệnh cho người, cước
vận tải bằng ôtô và hàng hoá dịch vụ thiết yếu khác thuộc danh mục bình ổn giá,
đăng ký giá. Bộ Tài chính và cơ quan chức năng liên quan sẽ xử lý nghiêm các
hành vi vi phạm pháp luật về thuế, pháp luật về giá. Đối với DN vi phạm, cơ
quan này sẽ thực hiện công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại
chúng các hành vi vi phạm để nhân dân biết và giám sát kiểm tra, tránh bị lợi
dụng. Riêng đối với mặt hàng thuốc phòng, chữa bệnh cho người, Bộ Tài chính
đã có công văn gửi Bộ Y tế đề nghị tăng cường giám sát giá thuốc kê khai theo
chức năng, nhiệm vụ được giao. Như vậy, sữa cũng là một mặt hàng đang được
bộ tài chính cân nhắc việc bình ổn giá.
2.4.1.3. Giá bán sữa bột
Nguyên tắc quản lý giá bán sữa bột
a) Giá bán sữa bột được thực hiện theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà
nước.
b) Thương nhân đầu mối được quyền quyết định giá bán buôn; việc điều chỉnh
giá bán lẻ sữa bột được thực hiện theo nguyên tắc, trình tự và có trách nhiệm
tham gia bình ổn giá theo quy định của pháp luật hiện hành và được bù đắp lại
những chi phí hợp lý khi tham gia bình ổn giá.
c) Thời gian giữa hai (02) lần điều chỉnh giá liên tiếp tối thiểu là mười (10) ngày
dương lịch đối với trường hợp tăng giá, tối đa là mười (10) ngày dương lịch đối

16
2.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước đối với sữa bột
a. Nhân tố môi trường vĩ mô
-Các nhân tố được nói đến ở nhóm này là những nhóm nhân tố môi trường liên
quan đến tình hình kinh tế, xã hội, chính trị - luật pháp, nhân khẩu học . . có sự
tác động trực tiếp hay gián tiếp tạo nên sự biến động thị trường đối với mặt hàng
sữa bột. Tình hình kinh tế trong nước và thế giới ảnh hưởng trực tiếp tới việc
quản lý của nhà nước tới từng mặt hàng, không chỉ riêng gì mặt hàng sữa. Ngoài
ra, sự phát triển của xã hội theo từng giai đoạn cũng kéo theo hệ thống quản lý
thay đổi theo từng giai đoạn, ở mỗi một giai đoạn khác nhau thì nhà nước có
những chính sách phù hợp khác nhau. Để từ đấy, nhà nước ban hành các văn bản
luật pháp về các ngành nghề kinh doanh cho từng loại danh mục hàng hóa tương
ứng.
b. Nhân tố môi trường vi mô:
Khi nói đến sự tác động của nhân tố này không thể không nhắc tới đó là chính
doanh nghiệp kinh doanh sữa, điều kiện nội tại của ngành sữa, đội ngũ nhân viên
từ phía các doanh nghiệp này. Các nhân tố ảnh hưởng được nói đến trong môi
trường vi mô là những lực lượng tác động qua lại từ phía doanh nghiệp với các
lực lượng khác như những người cung ứng, đối thủ cạnh tranh, khách hàng
Trong môi trường các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng sữa, khi soạn thảo các
chiến lược phải chú ý đến lợi ích của các nhóm trong nội bộ bản thân công ty.
17
CHƯƠNG III :PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC
KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI MẶT HÀNG SỮA BỘT TRÊN ĐỊA BÀN
HÀ NỘI
3.1 Phương pháp hệ nghiên cứu:
3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu
 Thu thập và tham khảo số liệu qua những kết quả điều tra trong các trang
web, các đề tài nghiên cứu trong nước và thế giới có nội dung liên quan,

chất ngoài các bữa chính. Trong những năm gàn đây nền kinh tế ngày một phát
triển , chất lượng cuộc sống của người dân Hà Nội ngày càng đượ nâng cao. Do
vậy, sản phẩm sữa không còn chỉ giành riêng cho trẻ em như trước nữa, mà bây
giờ thành phần tiêu dùng sản phẩm này ở mọi lứa tuổi.
Theo phiếu điều tra ý kiến người tiêu dùng đối với câu hỏi 1:” Bạn có biết đến
sẩn phẩm sữa bột không?” có tới 98% người tiêu dùng trả lời rằng họ có biết sản
phẩm sữa bột, 2% còn lại là chưa nghe thây.Điều này cho thấy sản phẩm sữa bột
đã trở lên quen thuộc đối với người tiêu dùng. Như vậy sữa đang là vấn đề được
đông đảo người ân quan tâm, đối với câu hỏi 2 “ bạn biết sản phẩm sữa bột qua
phương tiện nào ?”. Phần lớn người tiêu dùng trả lời rằng biết qua bạn bè và
người thân (45%), qua internet (25%), qua sách vở, báo chí, hay phương tiện
truyền thông khác là 30%.
Khi hỏi về địa điểm mua sữa, chúng em đã thu được ý kiến của người tiêu dùng
thông qua bảng sau:
19
Bảng 3.1: Địa điểm mua sữa của người tiêu dùng
STT Địa điểm Số
lượng(người)
Tỷ lệ(%)
1 Siêu thị 30 30
2 Của hàng chuyên kinh
doanh về sữa
10 10
3 Các của hàng bán tổng hợp,
ở gần nhà, cơ quan làm việc
60 60
Tổng 100 100
( Nguồn tổng hợp của nhóm nhiên cứu)
Nhu cầu về sữa còn tiếp tục gia tăng và tiềm năng phát triển thị trường sữa việt
Nam còn rất lớn. theo các chuyên gia kinh tế dự báo rằng, năm 2011 nhu cầu sữa

thụ sữa cũng sẽ gia tăng cả ở khu vực thành thị và nông thôn.Cơ cấu tiêu dùng
đang có nhiều thay đổi. Năm 2007 sữa bột chiếm khoảng 27% tổng khối lượng
sữa tiêu thụ trên địa bàn Hà Nội, năm 2010 là 32% Hiện nay trên thị trường Hà
Nội có tới hơn 300 loại sản phẩm sữa do các công ty trong nước sản xuất và nhập
khẩu, cạnh tranh nhau khá gay gắt. Các loại sản phẩm sữa có giá bán đắt nhất và
Tiêu chí 2006 2007 2008 2009 2010
Dân số (triệu người) 5.824 6.164 6.233 6.301 6.37
TT sữa nội địa(triệu lít
quy đổi)
47.116 75.324 79.22 92.94 94.34
TTbình
quân(lit/người/năm)
8.09 12.22 12.71 14.75 14.81
21
cũng là các loại sữa được tiêu thụ mạnh nhất là sữa cho trẻ em, người lớn tuổi và
phụ nữ mang thai.Theo nghiên cứu của các nhà khoa học cũng như từ lời khuyên
của các nhà dinh dưỡng, bác sĩ cho thấy nhóm trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ phải được
dùng sữa mẹ hoặc sữa công nghiệp sản xuất riêng cho nhóm tuổi này mà không
nên thay thế bằng các loại sữa khác. Ví dụ, trẻ sơ sinh chỉ nên dùng sữa bột công
thức dành cho trẻ từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi mà không nên uống trực tiếp sữa
tươi, vì sữa bò tươi không giàu các vi chất dinh dưỡng như sữa mẹ hay sữa bột.
Vì thế nếu cho trẻ chuyển sang dùng sữa tươi sớm, cơ thể trẻ sẽ nhanh chóng bị
thiếu hụt những vi chất cần thiết, giúp phát triển thể chất như sắt.Bên cạnh đó
hàm lượng sắt và phốtpho trong thành phần sữa tươi không thích hợp với hệ tiêu
hóa còn non của trẻ sơ sinh. Mặt khác, trong giai đoạn tiến tới 12 tháng tuổi, bộ
máy tiêu hóa của trẻ vẫn chưa đủ men để chuyển hóa các loại protein phức hợp
có trong sữa bò tươi. Khi đó, chúng không chỉ gây “quá tải” cho dạ dày của trẻ
mà nghiên cứu còn cho thấy chúng làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường (đặc
biệt là trong những gia đình có tiền sử mắc bệnh này) đồng thời trẻ cũng dễ mắc
các bệnh dị ứng như eczema và hen.

và nguyên liệu sữa. Thuế giá trị gia tăng cho các sản phẩm sữa bột tại Việt Nam
hiện cũng ở mức trung bình so với các nước trong khu vực. Đây cũng là điều
kiện có lợi cho việc phát triển thị trường sữa bột Việt Nam.
Theo đánh giá của các công ty sữa, các chuyên gia marketing và chuyên gia thị
trường thì hiện tại trên 85% giá trị của thị trường sữa bột, đặc biệt là sữa bột dành
cho trẻ em thuộc về các hãng sữa ngoại.Trong đó dẫn đầu là các hãng Abbott,
Mead Johnson, và FrieslandCampina chiếm thị phần lần lượt vào khoảng 26,8%,
13,9%, và 26,7%. Tiếp sau đó là các hãng sữa ngoại khác như Dumex, Nestlé…
Đại diện cho doanh nghiệp sữa trong nước có Vinamilk chiếm thị phần khoảng
12,6%. Theo nhóm thực hiện báo cáo thì những con số này chưa chính xác vì
trên thị trường ngoài các hãng, doanh nghiệp lớn kể trên có sự góp mặt của một
số hãng sữa khác cả trong và ngoài nước tuy rằng thị phần không lớn.
23
Biểu đồ 3.1: Thị phần của một số hãng sữa lớn trên thị trường sữa bột

( Thông tin ghi
nhận từ các
buổi trao đổi, phỏng vấn với đại diện công ty Vinamilk do Cục QLCT tổ chức.)
Trên thị trường sữa Việt Nam hiện nay có rất nhiều hãng sữa cung cấp,
ngoài sữa nội, thì trên thị trường Hà Nội còn có rất nhiều hãng sữa ngoại,
nguồn cung sản phẩm sữa ngày một đa dạng và phong phú. Cụ thể dưới
đây là một số hãng cung cấp trên thị trường sữa Việt Nam
24
Bảng 3.3: Thị phần của một số hãng sữa theo giá trị và sản lượng bán tại 6 thành phố
lớn trong tháng 9 năm 2009.
STT Tên hãng % Theo sản lượng % Theo giá trị
1 Abbott 42.4 28.2
2 Dutch Lady 18.7 25.3
3 Mead Johnson 9.7 7.6
4 Vinamilk 8.6 15.5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status