Ñeà aùn KTCT Maùc-Leânin GVHD: Ths Nguyeãn Thò Thanh Lieân
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
IV- Sắp xếp, củng cố các doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã
V- Vấn đề ngân sách, tài chính, tiền tệ và tín dụng
VI- Những vấn đề bức xúc về xã hội
.
MỞ ĐẦU
Những năm gần đây, Việt Nam tiếp tục và tăng cường cơng cuộc Đổi mới
kinh tế trên nhiều lĩnh vực và đã đạt được những thành tựu quan trọng về phát
triển kinh tế.
Tuy giành lại được độc lập từ ngày 2/9/1945, nhưng Việt Nam phải trải qua
30 năm kháng chiến, đến năm 1975 đất nước mới hồn tồn thống nhất. Tuy
nhiên, do xuất phát điểm của nền kinh tế q thấp, hậu quả chiến tranh q nặng
nề cùng với những thiếu sót, sai lầm trong chỉ đạo kinh tế, duy trì q lâu cơ chế
tập trung bao cấp nên đến năm 1985 kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng
nghiêm trọng.
Trước tình hình đó, Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam diễn ra vào
tháng 12/1986 đã đưa ra đường lối Đổi mới trong đó đổi mới kinh tế là trọng tâm
mà nội dung chủ yếu là xố bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần dưới sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Tiếp đó, tháng 6/1991, Đại hội VII của Đảng đã tiến hành đánh giá
thành quả Đổi Mới và tiếp tục thực hiện đường lối Đổi Mới, đề ra chính sách đối
ngoại phù hợp với xu thế lớn của thế giới là đa dạng hố, đa phương hố quan hệ
quốc tế để tạo thêm thế mạnh, tranh thủ thêm vốn và cơng nghệ cho phát triển
kinh tế quốc dân và hội nhập vào nền kinh tế thị trường
Những thành tựu to lớn về kinh tế xã hội trong thời gian này đã đưa đất
nước ra khỏi khủng hoảng và đặt nền móng cho giai đoạn phát triển mới. Đại hội
lần thứ VIII (tháng 6/1996) khẳng định quyết tâm tiếp tục và phát triển hơn nữa
đường lối Đổi mới kinh tế tồn diện, đẩy mạnh cơng cuộc cơng nghiệp hố, hiện
đại hố đất nước.
SVTH : âNguyễn Thị Trang Lớp CĐ20D2 - 5 -
Đề án KTCT Mác-Lênin GVHD: Ths Nguyễn Thò Thanh Liên
nơng thơn.
Xét về mặt kinh tế -kỹ thuật , kinh tế nơng thơn có thể bao gồm nhiều kinh
tế như nơng nghiệp, lâm nghiệp ,như nghiệp là ngànnh kinh tế chủ yếu .Xét về
mặ kinh tế xã hội,kinh tế nơng thơn cũng bao gồm nhiều thành phần kinh tế:kinh
tế nhà nước,kinh tế tập thể,kinh tế cá thể …Xét về khơng gian và lãnh thổ,kinh tế
nơng thơn bao gồm các vùng như :vùng chun canh lúa,cùng chun canh cây
màu,vùng trồng cây ăn quả
II. Các giai đoạn phát triển kinh tế Việt Nam từ 1945
2.1 Từ 1945-1975: Nền kinh tế trong thời kỳ chiến tranh.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành cơng giữa lúc giặc đói, giặc dốt,
giặc ngoại xâm vẫn còn rình rập. Ngày 2/9/1945, nước Việt Nam dân chủ Cộng
hồ ra đời nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, cả dân tộc lại phải đứng lên dốc sức
người, sức của cho cuộc kháng chiến chống ngoại xâm kéo dài 9 năm. Với chiến
thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954, hồ bình được lập lại nhưng đất nước tạm
thời bị chia cắt làm hai miền. Ở miền Bắc bắt đầu thời kỳ khơi phục và phát triển
kinh tế sau chiến tranh thơng qua khơi phục nhanh nơng nghiệp và giao thơng
vận tải. Nền kinh tế có nhiều thành phần tham gia. Từ năm 1958, miền Bắc thực
hiện cải tạo XHCN về kinh tế, hình thành mơ hình phát triển kinh tế tập trung và
cơng hữu hố tư liệu sản xuất, kế hoạch hố nền kinh tế quốc dân từ trung ương.
Nhà nước thực hiện chế độ phân phối sản phẩm bằng tiền lương định mức và bao
cấp qua tem phiếu. Với kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) miền Bắc bước
vào thời kỳ xây dựng. Nhà nước quan tâm phát triển giáo dục, y tế và xây dựng
nhiều cơng trình cơng cộng. Tính ưu việt của chế độ mới được phát huy mạnh
mẽ, nơng nghiệp được phục hồi nhanh chóng và nhiều cơ sở cơng nghiệp nặng
đầu tiên được xây dựng , nhưng từ năm 1964 bắt đầu bộc lộ các nhược điểm
của mơ hình kinh tế. Từ năm 1964, Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc.
Nhân dân miền Bắc vừa sản xuất, vừa chiến đấu và vừa chi viện cho miền Nam.
Tình hình này kéo dài trong suốt 10 năm (1965-1975).
Trong khi đó, cũng từ 1954, nền kinh tế miền Nam Việt Nam tiến theo mơ
hình thị trường, nhưng chủ yếu là mơ hình kinh tế phục vụ chiến tranh.
Vào những năm cuối của thập kỷ 80, tình hình bắt đầu biến chuyển rõ rệt.
Riêng lĩnh vực nơng nghiệp có sự tiến bộ đột biến. Năm 1988, Việt Nam đưa ra
chế độ khốn nơng nghiệp, giao đất cho nơng dân, lấy hộ nơng dân làm đơn vị
kinh tế. Kết quả là nếu năm 1988 phải nhập 450 nghìn tấn lương thực thì năm
1989 trở thành nước xuất khẩu gạo gần 1 triệu tấn và năm 1990 thành nước xuất
khẩu gạo đứng thứ 3 trên thế giới với 1,5 triệu tấn. Một số ngành cơng nghiệp
then chốt như điện, thép cán, xi măng, dầu thơ đạt mức tăng trưởng khá.
Giá trị xuất nhập khẩu bình qn tăng 28,0%/năm, tỷ lệ nhập siêu giảm
nhanh. Nếu trong các năm 1976-1980 tỷ lệ giữa xuất và nhập là 1/4,0 thì những
năm 1986-90 chỉ còn 1/1,8. Một thành cơng lớn là siêu lạm phát đã được kiềm
chế và đẩy lùi (năm 1986 lạm phát là 774,7 %, thì năm 1987 là 223,1 %, 1989 là
34,7% và 1990 là 67,4 %).
SVTH : âNguyễn Thị Trang Lớp CĐ20D2 - 8 -
Đề án KTCT Mác-Lênin GVHD: Ths Nguyễn Thò Thanh Liên
Tóm lại, thành cơng của Đổi mới trong các năm 1986-90 là sản xuất được
phục hồi, kinh tế tăng trưởng, lạm phát bị đẩy lùi. Điều quan trọng hơn là đã
chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới.Thành cơng này
càng có ý nghĩa hơn bởi Đổi mới được thực hiện trước khi các nước Đơng Ấu và
Liên Xơ cũ bị khủng hoảng tồn diện.
b. Giai đoạn 1991-1996: Đổi mới đạt kết quả quan trọng.
Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 6/1991 đã đưa ra chiến
lược "Ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000" đồng thời đề ra
phương hướng, nhiệm vụ cho kế hoạch 5 năm 1991-95. Khó khăn lớn lúc này là
nền kinh tế vẫn bị bao vây, cấm vận trong bối cảnh các nước Đơng Ấu và các
nước thuộc Liên Xơ (cũ) rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Tổng mức lưu chuyển
ngoại thương của Việt Nam với khu vực này giảm sút đột ngột, năm 1991 chỉ
bằng 15,1% năm 1990. Song, thuận lợi lúc này là Đổi mới đã phát huy tác dụng,
các cơ sở kinh tế thích nghi dần với cơ chế quản lý mới. Những thành tựu nổi bật
là:
1.Cơ chế quản lý kinh tế đã thay đổi căn bản:
Lần đầu tiên trong lịch sử, Việt Nam có quan hệ bình thường với tất cả các
nước và trung tâm kinh tế- chính trị lớn trên thế giới. Ngày 28/07/1995, Việt
Nam trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các nước Đơng Nam á
(ASEAN). Cũng trong tháng 7/1995, Việt Nam và Liên minh Châu Ấu đã ký
Hiệp định khung về hợp tác kinh tế thương mại và khoa học kỹ thuật và bình
thường hố quan hệ ngoại giao với Mỹ. Việt Nam cũng đã nộp đơn xin gia nhập
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á- Thái Bình Dương (APEC) và Tổ chức thương
mại thế giới (WTO). Đến cuối năm 1996, Việt Nam có quan hệ kinh tế thương
mại chính thức với trên 120 nước, kim ngạch ngoại thương gia tăng nhanh
chóng, bình qn trên 20%/năm. Nhiều nước và tổ chức quốc
tế đã dành cho Việt Nam viện trợ khơng hồn lại hoặc cho vay để đầu tư phát
triển kinh tế xã hội.
Đời sống của nhân dân đã dần dần được cải thiện. Giáo dục, y tế được củng
cố và tăng cường. Đời sống vật chất và tinh thần của phần lớn nhân dân được cải
thiện. Số hộ có thu nhập trung bình và số hộ giàu tăng lên, số hộ nghèo giảm.
Mỗi năm thêm hơn một triệu lao động có việc làm. Cơng tác nghiên cứu khoa
học- cơng nghệ được đẩy mạnh.
c. Giai đoạn từ 1996 đến nay tiếp tục tăng cường đổi mới.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 6/1996) đã đưa ra
mục tiêu phấn đấu từ nay đến năm 2020 đưa Việt Nam "trở thành một nước cơng
nghiệp, có cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản
xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật
chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã
hội cơng bằng, văn minh."
Trong 2 năm 1996- 1997, nền kinh tế phát triển tốt, GDP bình qn đạt hơn
9%, cao hơn cả mức trung bình của 5 năm trước. Nhiều ngành sản xuất kinh
doanh tiếp tục đạt được những tiến bộ đáng kể. Giá trị sản xuất nơng- lâm- ngư
nghiệp tăng bình qn 4,8%; giá trị sản xuất cơng nghiệp tăng 13,8%, kim ngạch
SVTH : âNguyễn Thị Trang Lớp CĐ20D2 - 10 -
Đề án KTCT Mác-Lênin GVHD: Ths Nguyễn Thò Thanh Liên
khách du lịch nước ngồi ngày càng tăng, các dịch vụ của ngành cũng có chất
lượng tốt hơn. Đặc biệt, lĩnh vực hợp tác lao động nước ngồi đã có nhiều tiến
bộ, mở ra một hướng quan trọng góp phần tăng thu nhập ngoại tệ, giải quyết việc
làm. Hiện Việt Nam có hơn 54.000 lao động ở ngồi nước, thị trường được mở
rộng từ 15 nước năm 1995 lên 38 nước năm 1999. Các lĩnh vực giáo dục, y tế,
văn hố, xã hội vẫn duy trì được đà phát triển. Đời sống vật chất và tinh thần của
SVTH : âNguyễn Thị Trang Lớp CĐ20D2 - 11 -
Đề án KTCT Mác-Lênin GVHD: Ths Nguyễn Thò Thanh Liên
nhân dân tiếp tục được cải thiện. Cơng tác xố đói giảm nghèo được đẩy mạnh
nhằm từng bước nâng cao cơng bằng xã hội, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển.
Trong những năm qua, tình trạng nghèo khổ ở Việt Nam đã giảm đi đáng kể.
Chính phủ đã và đang áp dụng nhiều biện pháp thúc đẩy kinh tế như ban hành và
thực thi Luật Doanh nghiệp, cải cách thủ tục hành chính, sắp xếp lại các doanh
nghiệp Nhà nước, cải thiện mơi trường đầu tư, thơng qua Luật Đầu tư nước
ngồi sửa đổi, cải cách tài chính, tiếp tục thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực
Tháng 4 năm 2001, Đại hội Đảng tồn quốc lần thứ IX đã thơng qua Chiến
lược phát triển Kinh tế - xã hội 2001 - 2010 và Phương hướng, Nhiệm vụ kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005 nhằm đẩy nhanh hơn nữa tốc
độ tăng trưởng kinh tế và chất lượng phát triển xã hội của đất nước.
Chiến lược phát triển Kinh tế - xã hội 2001 - 2010 đã đề ra mục tiêu tổng
qt là "Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống
vật chất, văn hố, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta
cơ bản trở thành một nước cơng nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con
người, năng lực khoa học và cơng nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc
phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta
trên trường quốc tế được nâng cao” theo quan điểm phát triển gồm 5 nội dung
chính: (i) phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đơi với
thực hiện tiến bộ, cơng bằng xã hội và bảo vệ mơi trường; (ii) coi phát triển kinh
Tốc độ tăng trưởng GDP vẫn duy trì được xu hướng tăng dần, năm 2001 đạt
6,89% và 2002 đạt 7,05%, năm 2003 đạt 7%. Cơng nghiệp là ngành kinh tế có
tốc độ tăng trưởng giá trị cao nhất, đạt trên 10% mỗi năm. Tốc độ tăng của lĩnh
vực dịch vụ đạt xấp xỉ tốc độ tăng GDP, trong khi giá trị sản xuất nơng nghiệp
phục hồi trở lại với mức tăng trên 4% sau khi sụt
giảm xuống mức gần 3% năm 2001 (do biến động giá sản phẩm nơng nghiệp
trên thị trường thế giới). Với mức tăng như vậy, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch
theo hướng đã định, năm 2002 tỷ trọng nơng nghiệp còn khoảng 23%GDP, cơng
nghiệp đạt cao nhất 38,6% và dịch vụ 35,5%.
Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển, kinh tế nhà nước tiếp tục được
đổi mới, tuy còn chậm nhưng đã từng bước nâng cao hiệu quả trong hoạt động
sản xuất kinh doanh. Các hình thức đổi mới doanh nghiệp nhà nước cũng đã đa
dạng hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đẩy nhanh tiến trình này.
Thành phần kinh tế tư nhân có bước phát triển mạnh mẽ và ngày càng mở
rộng quy mơ và ngành nghề. Luật Doanh nghiệp ban hành năm 2000 tạo điều
kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân hoạt động.
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi cũng phát triển mạnh. Đến nay
Việt Nam đã thu hút thêm được tổng số trên 40 tỷ USD vốn FDI (vốn đăng ký).
Các doanh nghiệp có vốn nước ngồi đã có nhiều đóng góp tích cực cho sự phát
triển kinh tế, đặc biệt là cơng nghiệp của Việt Nam, góp phần nâng cao chất
lượng và tăng thêm sức cạnh tranh cho sản phẩm trong nước.
SVTH : âNguyễn Thị Trang Lớp CĐ20D2 - 13 -
Đề án KTCT Mác-Lênin GVHD: Ths Nguyễn Thò Thanh Liên
Hoạt động kinh tế đối ngoại cũng có bước phát triển ổn định. Kim ngạch
xuất nhập khẩu cũng khơng ngừng tăng lên, năm 2001 đạt trên 15 tỷ USD xuất
khẩu và trên 16 tỷ USD nhập khẩu, năm 2002 lần lượt là trên 16,5 tỷ và 19,3 tỷ
USD. Đã hình thành những mặt hàng xuất khẩu chủ lực gồm hàng cơng nghiệp
nhẹ, hàng nơng, lâm, hải sản và hàng điện tử. Tuy tỷ lệ nhập siêu vẫn còn cao và
biến động nhưng ngoại thương Việt Nam đã đóng góp lớn cho sự phát triển kinh
tế của đất nước. Hoạt động du lịch cũng có bước phát triển vượt bậc với khoảng
trước hết lại phải bắt đầu từ phát triển nơng nghiệp, phải coi nơng nghiệp là
ngành chủ yếu, là gốc mà cơng nghiệp, thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao
thơng, kiến trúc, văn hố, giáo dục, y tế v.v phải lấy phục vụ nơng nghiệp làm
trung tâm, bởi vì:
Nếu khơng phát triển nơng nghiệp thì khơng có cơ sở để phát triển cơng nghiệp
và các ngành khác.
SVTH : âNguyễn Thị Trang Lớp CĐ20D2 - 15 -
Đề án KTCT Mác-Lênin GVHD: Ths Nguyễn Thò Thanh Liên
1.2 Nơng nghiêp
Nơng nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm cho cơng nhân và nhân dân nói
chung. Nơng nghiệp cung cấp ngun liệu cho nhà máy và cung cấp nơng sản
xuất khẩu. Nơng thơn là thị trường tiêu thụ to nhất hiện nay. Nơng thơn tăng gia
sản xuất, thực hành tiết kiệm thì ngày càng giàu có. Nơng thơn giầu có sẽ mua
nhiều hàng hố của cơng nghiệp. Như thế là nơng thơn giầu có giúp cho cơng
nghiệp phát triển. Cơng nghiệp phát triển lại thúc đẩy nơng nghiệp phát triển thì
dân giàu, nước mạnh.
C.Mác cũng từng nhấn mạnh rằng xét trên phạm vi tồn xã hội thì nơng
nghiệp chỉ gồm lao động cần thiết. Bởi vậy, muốn có lao động thặng dư rút ra
khỏi ngành này để phát triển các ngành phi nơng nghiệp thì phải tăng năng suất
lao động trong nơng nghiệp sao cho chỉ cần một bộ phận lao động xã hội làm
nơng nghiệp cũng đủ để sản xuất ra tư liệu sinh hoạt cần thiết cho tồn xã hội,
“do đó, để cho sự phân cơng lớn giữa những người làm nơng nghiệp và những
người làm cơng nghiệp, cũng như sự phân cơng giữa những người làm nơng
nghiệp sản xuất lương thực và những người làm nơng nghiệp sản xuất ngun
liệu, có thể thực hiện được”. Cơng nghiệp và nơng nghiệp phải phát triển cân đối
như hai chân của con người, có như vậy mới đi khoẻ và đi đều, tiến bước nhanh.
Vì vậy:Cơng nghiệp và nơng nghiệp như hai chân của nền kinh tế. Nơng
nghiệp phải phát triển mạnh để cung cấp đủ lương thực cho nhân dân, cung cấp
đủ ngun liệu cho nhà máy, đủ nơng sản để xuất khẩu đổi lấy máy móc; cơng
nghiệp phải phát triển mạnh để cung cấp đủ hàng tiêu dùng cần thiết cho nhân
Thương nghiệp “phải bảo đảm chất lượng hàng hố và có tinh thần phục vụ
người mua. Người ta cần thứ gì, bán thứ đó, người mua chỉ cần phân bón, lại bắt
mua cả vơi kèm theo thì khơng được”.
Luận điểm trên được nêu ra trong thời kinh tế bao cấp, nhưng vẫn thể hiện
rõ tư duy kinh tế thị trường, cơng nghiệp và nơng nghiệp làm thị trường lẫn cho
nhau thơng qua mơi giới của thương nghiệp và thương nghiệp phải bán cái mà
người mua cần chứ khơng phải chỉ bán cái mà mình có
Dovậy:Cơng nghiệp và thương nghiệp liên hệ với nhau thơng qua thương
nghiệp, thương nghiệp là cái khâu giữa cơng nghiệp và nơng nghiệp, thể hiện
liên minh cơng nơng.
Tóm lại:Trong nền kinh tế quốc dân có ba mặt quan trọng: nơng nghiệp,
cơng nghiệp, thương nghiệp. Ba mặt cơng tác quan hệ mật thiết với nhau.
Thương nghiệp là cái khâu giữa nơng nghiệp và cơng nghiệp. Thương nghiệp
đưa hàng đến nơng thơn phục vụ nơng dân, thương nghiệp lại đưa nơng sản,
ngun liệu cho thành thị tiêu dùng. Nếu khâu thương nghiệp bị đứt thì khơng
liên kết được nơng nghiệp với cơng nghiệp, khơng củng cố được cơng nơng liên
minh. Cơng tác thương nghiệp khơng chạy thì hoạt động nơng nghiệp, cơng
nghiệp sẽ bị rời rạc.
Những điểm trên cũng thể hiện rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu ngành
kinh tế ở một nước nơng nghiệp khi tiến hành cơng nghiệp hố. Trước đổi mới,
khơng qn triệt tư tưởng trên, nên chúng ta đã mắc sai lầm về xác định cơ cấu
kinh tế và cơ cấu đầu tư. Như Đại hội Đại biểu tồn quốc lần thứ VI đã nhận
SVTH : âNguyễn Thị Trang Lớp CĐ20D2 - 17 -
Đề án KTCT Mác-Lênin GVHD: Ths Nguyễn Thò Thanh Liên
định: “Thiên về xây dựng cơng nghiệp nặng và những cơng trình quy mơ lớn,
khơng tập trung sức giải quyết về căn bản vấn đề lương thực, thực phẩm, phát
triển sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Kết quả là đầu tư nhiều, nhưng
hiệu quả rất thấp”. Do nhận rõ thiếu sót trên, Đại hội VI đã đề ra chủ trương
đúng đắn: bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư, tập trung sức
Người, sức của vào việc thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu về
SVTH : âNguyễn Thị Trang Lớp CĐ20D2 - 18 -
Đề án KTCT Mác-Lênin GVHD: Ths Nguyễn Thò Thanh Liên
bộ ta tuyệt đối chớ vì bạn ta giúp nhiều mà đâm ra ỷ lại. Trái lại, chúng ta phải
học tinh thần tự lập tự cường, tinh thần hăng hái thi đua sản xuất và tiết kiệm của
nhân dân các nước bạn”.
Lời khun trên khiến chúng ta liên tưởng đến một câu rất hay của một nhà
kinh tế ở nước láng diềng: ngoại lực phải biến thành nội lực, nếu khơng, ngoại
lực vào rồi lại ra đi, niềm vui phồn vinh ngắn hạn sẽ bị thay thế bằng cảnh tiêu
điều dài hạn!
Quả vậy, nếu khơng khéo dùng cái vốn bên ngồi để bồi bổ lực lượng của
ta, phát triển khả năng của ta, mà tiêu dùng lãng phí thì sẽ khơng có hiệu quả,
thậm chí còn để lại hậu quả tiêu cực.
Bối cảnh lịch sử hiện nay ở nước ta khác với tình hình sinh thời của Hồ Chí
Minh, nên chúng ta phải nhớ lời căn dặn của Người: “Cách mạng chuyển biến
đòi hỏi phải có một sự chuyển biến sâu sắc về tư tưởng và nhận thức, đòi hỏi
phải có những chính sách, những biện pháp về cơng tác tổ chức phù hợp với tình
hình mới”. Tuy nhiên, những điểm
II Những thành tựu và khó khăn để phát triển nơng thơn
2.1.Thành tựu đạt được
Tồn bộ thể chế kinh tế được xây dựng trên cơ sở bao cấp cho nên xố bao
cấp sẽ tạo ra đột phá cho tăng trưởng. Bên cạnh đó, xố bao cấp một cách thiếu
bài bản cũng có thể tạo ra khoảng trống cho các tiêu cực nẩy sinh. Điều này lý
giải tại sao hầu hết các nước chuyển đổi trong khi đạt nhiều thành tích phát triển
kinh tế thì giáo dục, y tế và nhiều dịch vụ cơng cộng khác lại bị xuống cấp
nghiêm trọng. Việt Nam rất thành cơng trong xố bao
cấp về giá sản phẩm nơng nghiệp (đi đầu trong số các nước Xã hội chủ nghĩa cũ
về áp dụng cơ chế giá thị trường trong mua, bán sản phẩm của nơng dân), nhưng
lại rất chật vật trong xóa bao cấp về vốn cho các xí nghiệp quốc doanh và cải tổ
khu vực này.
Tình trạng thiếu khung pháp lý cộng với cơ chế bao cấp đã làm cho tham
mạng kỹ thuật mà chính là thay đổi cơ chế (xố bao cấp, bao biện) đã dẫn đến
cuộc bứt phá ngoạn mục trong nơng nghiệp khiến Việt Nam từ chỗ nhập khẩu
trên dưới một triệu tấn gạo
một năm trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ nhì thế giới.
Sự thay đổi cơ chế đã giải phóng sức sáng tạo của nơng dân, họ khơng dừng
lại ở tăng sản lượng mà còn thay đổi cách làm ăn, tăng vụ, thay đổi cơ cấu kinh
tế. Do tiềm năng nhỏ bé của nền tiểu nơng nên sự chuyển đổi cơ cấu trong nơng
nghiệp diễn ra chậm chạp trong những năm đầu “đổi mới” (1990 - 2000), nhưng,
như "mưa dầm thấm lâu", q trình này đã dẫn đến sự đột phá trong kinh tế mấy
năm gần đây. Nếu như chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật ni trong những năm
trước chủ yếu là hành động tự phát của từng hộ nơng dân, từng chủ trang trại thì
từ 2002 - 2003 q trình này đã được sự đỡ đầu, bảo trợ của chính quyền.
SVTH : âNguyễn Thị Trang Lớp CĐ20D2 - 20 -
Đề án KTCT Mác-Lênin GVHD: Ths Nguyễn Thò Thanh Liên
Thí dụ: Nơng dân Hải Dương đã thành cơng trong việc chuyển từ trồng lúa
sang trồng cây ăn quả (táo, dưa hấu, cam Canh đường), nay chính quyền tỉnh
đang vận động nơng dân tham gia dự án trồng hoa hồng xuất khẩu với cam kết:
"nếu trồng hoa hồng hiệu quả thua lúa tỉnh đền nơng dân". Uỷ ban Nhân dân xã
Đồn Thượng, Huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương hợp tác với Cơng ty Nhân Văn
đầu tư cho nơng dân có ruộng tham gia dự án trồng hoa hồng với mức 480.000
đ/sào, hỗ trợ 50% tiền mua giống và đào tạo những nơng dân chủ chốt của dự án
thành các kỹ thuật viên, hưởng lương kỹ thuật 320.000 đ/người/tháng trong vòng
4 năm. Sản phẩm của những diện tích tham gia dự án được Cơng ty Nhân Văn
bao tiêu (mua hết sản phẩm). Có một bước tiến vượt bậc về thu nhập trên một ha
tại vùng đất "thuần lúa" xưa kia: từ chỗ chỉ thu được do trồng lúa mỗi năm từ 5
đến 10 triệu đồng/ ha, nay thu nhập đã tăng lên tới 200 - 270 triệu đồng/ ha nếu
trồng dưa hấu và 500 triệu đồng/ ha nếu trồng hoa hồng xuất khẩu. Lần đầu tiên
nơng dân ở đây đã trồng được hoa hồng xanh, hoa hồng đen. Có cán bộ thường
đi nước ngồi cơng tác đã nhận xét: thị trường hoa của Việt Nam mấy năm gần
đây đã phong phú hơn ở Mỹ và nhiều nước châu Âu.
chỉ có 14% qua các lớp trung cấp, sơ cấp kỹ thuật hoặc quản lý.
Khu vực được hưởng lợi thứ hai nhờ xố bao cấp là cơng thương nghiệp
ngồi quốc doanh, nay gọi là khu vực dân doanh. Do nhận thức cũ, coi doanh
nghiệp dân doanh là thành phần "phi xã hội chủ nghĩa" nên q trình chuyển từ
cấm đốn sang khơng cấm rồi khuyến khích doanh nghiệp dân doanh diễn ra
chậm hơn so với nơng nghiệp. Mãi đến năm 2000, cùng với thi hành Luật Doanh
nghiệp, khu vực dân doanh mới có được khung pháp lý thuận lợi để phát triển.
Nhiều người đánh giá Luật Doanh nghiệp đã tạo ra bước đột phá tương tự như
"khốn 10" trong nơng nghiệp. Chỉ sau 3 năm thi hành Luật Doanh nghiệp, đã có
gần 73000 doanh nghiệp đăng ký mới với số vốn xấp xỉ 9,5 tỷ USD (tương tự
khối lượng FDI đạt được cùng thời gian), tạo việc làm cho gần một nửa số lao
động tăng thêm hàng năm. Nếu Luật Doanh nghiệp được thi hành nghiêm túc
hơn, doanh nghiệp dân doanh được dễ dàng hơn trong vay vốn ngân hàng và
th mặt bằng sản xuất thì hiệu quả mà khu vực này đem lại còn lớn hơn.
Mặc dù vẫn duy trì bao cấp trong các lĩnh vực cơng cộng và phúc lợi xã hội
như y tế, giáo dục, văn hố, giao thơng cơng cộng, vệ sinh mơi trường v.v
nhưng việc thực hiện "xã hội hố" cũng đã giảm nhiều tình trạng xuống cấp của
khu vực này. Đặc biệt, chính sách đồn kết nêu ra tại Đại Hội lần thứ 9 Đảng
cộng sản việt Nam (4/2003) "phát huy sức mạnh đại đồn kết tồn dân" "lấy
mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước
mạnh, xã hội dân chủ, cơng bằng, văn minh làm điểm tương đồng " đã làm n
lòng giới kinh doanh tư nhân và động viên được các nguồn nội lực. Trong các
năm 2001 - 2003 đầu tư của khu vực tư nhân đã bù lại được sự giảm sút của đầu
tư trực tiếp nước ngồi.
Khu vực được bao cấp lớn nhất trong kinh tế Việt Nam cho đến nay vẫn là
khối các doanh nghiệp nhà nước. Với lý thuyết "ưu tiên phát triển cơng nghiệp"
(có thời kỳ còn đề ra khẩu hiệu "ưu tiên phát triển cơng nghiệp nặng"), Việt Nam
đã dành sự bao cấp to lớn cho cơng nghiệp. Các xí nghiệp quốc doanh sở hữu
SVTH : âNguyễn Thị Trang Lớp CĐ20D2 - 22 -
Đề án KTCT Mác-Lênin GVHD: Ths Nguyễn Thò Thanh Liên
Ví dụ :sinh động nhất mới đây là chủ trương giảm thuế nhập khẩu thép
thành phẩm từ 20% - 40% xuống mức 0% trong cơn sốt giá thép thế giới từ đầu
năm 2004 bất chấp phản ứng mạnh mẽ của các doanh nghiệp sản xuất thép trong
nước. Thời hạn thực hiện cam kết AFTA giảm thuế hải quan xuống mức 0% -
5% đang đến gần đã khiến doanh nghiệp quan tâm đến đầu tư chiều sâu, áp dụng
cơng nghệ mới và tiếp thị để nâng cao sức cạnh tranh.
SVTH : âNguyễn Thị Trang Lớp CĐ20D2 - 23 -
Ñeà aùn KTCT Maùc-Leânin GVHD: Ths Nguyeãn Thò Thanh Lieân
CHƯƠNG III:NHỮNG GIẢI PHÁP CỦA NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN
I -Thực hiện chính sách kích cầu, phát triển nông thôn bền vững
Trước tình trạng tuy được mùa, nhưng thu nhập của nông dân bị giảm sút do
giá nông sản xuống thấp (Theo đại biểu Hà Văn Phụng, Bắc Cạn, thì năm nay,
giá sụt giảm 20 - 30% so với năm 2000); giá nông sản xuất khẩu trên thị trường
thế giới có chiều hướng đi xuống cũng làm tăng thêm sức ép đối với đời sống
nông dân; Chính phủ đã đề ra chính sách cho mua tạm trữ một triệu tấn gạo với
giá ưu đãi (1300 đồng/kg lúa). Nhiều đại biểu Quốc hội đã nêu vấn đề ai là người
hưởng lợi nhiều hơn từ chính sách này? thay vì nông dân, thì chính mạng lưới
thu mua trung gian được hưởng lợi nhiều hơn.
SVTH : âNguyễn Thị Trang Lôùp CÑ20D2 - 24 -
Đề án KTCT Mác-Lênin GVHD: Ths Nguyễn Thò Thanh Liên
Ðời sống của nơng dân do thu nhập ít, lại phải chi nhiều khoản đóng góp để
duy trì sản xuất và đời sống cộng đồng; giá nơng sản đi xuống, giá hàng cơng
nghiệp lại đi lên dẫn đến chi phí sản xuất cao, do đó hố giàu nghèo giữa thành thị
và nơng thơn ngày càng tăng. Nhiều đại biểu Quốc hội kiến nghị một số giải
pháp bổ sung vào những giải pháp của Chính phủ đưa ra; trong đó có đề nghị
miễn hẳn thuế nơng ngh-iệp cho nơng dân; xem lại hiệu quả của chủ trương bù
giá và nghiên cứu hỗ trợ bằng hàng, vật tư trợ giá xuống cơ sở, tổ chức mạng
lưới tiêu thụ theo hợp đồng dài hạn để giảm nạn ép cấp, ép giá trong tiêu thụ sản
phẩm. Giải pháp đối với khâu tiêu thụ có thể là đầu tư xây dựng nhiều cơ sở chế
hàng loạt các biện pháp hỗ trợ qua thuế để giảm chi phí đầu vào cho nơng dân và
tăng khả năng và hiệu quả ổn định tiêu thụ hàng nơng sản như: Miễn tồn bộ
khơng phân biệt hoặc miễn giảm thuế sử dụng đất nơng nghiệp theo hạn điền: đất
canh tác lúa từ 1-2 ha thì miễn, diện tích đất trên 2 ha thì giảm 50% thuế giảm
miễn thuế nhập khẩu vật tư nơng nghiệp, thuế từ dịch vụ thủy lợi cho nơng dân;
hạn chế nhập khẩu nơng sản qua chính sách thuế nhập khẩu đối với nơng sản; có
chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp chế biến nơng sản.
Giải pháp kích cầu phải đi đơi với các chính sách giáo dục cộng đồng khác
về ý thức tiêu thụ hàng sản xuất trong nước; nhất là sản phẩm mua bằng nguồn
kinh phí của Nhà nước thì phải ưu tiên mua sản phẩm trong nước; kết hợp với
tăng cường có hiệu quả mặt trận chống bn lậu và áp dụng các biện pháp
nghiêm khắc đối với hành vi bn lậu.
Về giải pháp vốn, Nhà nước cần giúp đỡ hình thành quỹ bảo lãnh tín dụng
nhằm hỗ trợ tích cực việc tiêu thụ các sản phẩm trong nước. Song song với chính
sách hỗ trợ có vấn đề đặt ra là khơng sợ ít mà chỉ sợ khơng cơng bằng. Sơ quan
tham mưu của chính phủ cần khách quan hơn trong việc giúp Chính phủ ấn định
danh sách các xã đặc biệt khó khăn.
Ðể kích cầu tiêu thụ, nên nghiên cứu các cơ chế tín dụng ưu đãi khuyến
khích các doanh nghiệp trong nước thực hiện bán hàng, vật tư trả chậm cho sản
xuất nơng nghiệp và sinh hoạt nơng thơn. Ðối với việc đưa điện về nơng thơn,
cần có đầu tư từ ngân sách cơng và nỗ lực của ngành điện để thúc đẩy nhanh các
cơng trình đưa điện về nơng thơn, giảm bớt chênh lệch giá điện giữa thành thị và
nơng thơn.
II- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật ni, cơ cấu nền kinh tế: Hiện nay có
tình trạng nơng dân rất linh hoạt trong việc tự chuyển đổi cây trồng, vật ni có
giá trị cao để tự cứu mình, nhưng cấp huyện, cấp tỉnh chạy theo nơng dân còn
Trung ương thì bị bỏ lại ở sau khá xa, hỗ trợ khơng hiệu quả, khơng lâu dài, bền
vững. Quảng Bình cho rằng việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật ni còn nhiều
lúng túng và bị động, chủ yếu là tự phát nên thường dẫn đến sự mất cân đối giữa
được quan tâm; chủ trương lồng ghép các chương trình định canh, định cư,
chương trình trung tâm cụm xã, chương trình hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt
khó khăn vào Chương trình 135 là đúng nhưng khi thực hiện còn chưa tốt. Thanh
Hố đánh giá cao việc Chương trình 135 đã đến được xã, tuy nhiên việc giám sát
chất lượng cơng trình còn có nhiều vấn đề, khơng được chính xác dẫn đến chất
lượng khơng cao. Ðể hồn thành chương trình 135, Chính phủ cần xây dựng
phương án bổ sung vốn để hồn thành 5 cơng trình thiết yếu và điều tra thêm các
xã đặc biệt khó khăn.
Cần đề cao trách nhiệm phối hợp của các cấp, các ngành trong việc chỉ đạo,
điều hành kể cả việc hợp nhất các mục tiêu của Chương trình, tập trung đầu tư
mạnh vào thủy lợi, xây dựng đường sá, trung tâm cụm xã, Quảng Nam hoan
nghênh Chính phủ đề ra biện pháp nhằm cải tiến đơn giản thủ tục cùng với việc
SVTH : âNguyễn Thị Trang Lớp CĐ20D2 - 27 -