Nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng FDI ở Việt Nam potx - Pdf 18

Bạn chưa có blog? Đăng ký!
Đăng nhập
Trợ giúp
Yahoo! Việt Nam
Mail

Tìm kiếmTÌM KIẾM WEBTrang chính
Blog của tôi
Viết blog
Hình ảnh
Kết nối
.

Yahoo! 360plus Blog Search
Tìm trên 360plus

Khoa Đầu tư - Đại học Kinh tế Quốc dân
Chia sẻ một số thông tin về các hoạt động của khoa Đầu tư - Đại học Kinh tế Quốc dân cùng với các bạn
quan tâm đến lĩnh vực đầu tư cũng như các bạn đã và đang học chuyên ngành Kinh tế Đầu tư của
trường.

Chào bạn! Rất vui vì bạn đã vào thăm blog của Khoa Đầu tư - Đại học Kinh tế Quốc dân:-)
Trả lời

Bài viết
Tìm bài viết:
.
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG FDI Ở VIỆT NAM

góp phần tạo nên nhiều ngành nghề, sản phẩm mới góp phần làm tăng đáng kể năng lực của các ngành
công nghiệp Việt Nam. Nhiều công nghệ mới, hiện đại thiết bị đồng bộ và có trình độ kỹ thuật tương đối
cao đã được các nhà đầu tư đưa vào triển khai hoạt động ở nước ta, nhất là trong lĩnh vực dầu khí, viễn
thông, hoá chất, điện tử, tin học, sản xuất ô tô tạo ra bước ngoặt về công nghệ, năng suất lao động
trong một số ngành công nghiệp - dịch vụ mũi nhọn của đất nước, góp phần nâng cao năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế Việt Nam. Với các nhà đầu tư đến từ hơn 66 quốc gia, vùng lãnh thổ và hơn 100
tập đoàn xuyên quốc gia (trong tổng số 500 tập đoàn xuyên quốc gia có tiềm lực công nghệ và tài chính
mạnh nhất thế giới), quan hệ kinh tế đối ngoại và vị thế của Việt Nam ngày càng được mở rộng và nâng
cao. Kim ngạch xuất, nhập khẩu của nền kinh tế tăng lên nhanh chóng, năm 2001 đạt 31.189 triệu USD
(trong đó xuất khẩu: 15.027 triệu USD, nhập khẩu 16.162 triệu USD); năm 2002 đạt 35.800 triệu USD
(trong đó xuất khẩu: 16.500; nhập khẩu 19.300). Kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI cũng tăng từ 52
triệu USD năm 1991 lên 4.500 triệu USD vào năm 2002 (chiếm hơn 27% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nước), ước tính năm 2003 cũng chiếm hơn 28% trong tổng số 20 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam, góp phần mở rộng thị trường, làm lành mạnh cán cân thương mại, thúc đẩy các hoạt động dịch
vụ, đặc biệt là dịch vụ du lịch; khách sạn và dịch vụ khác phát triển mạnh mẽ. Tỷ trọng xuất khẩu so với
doanh thu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng tăng nhanh (bình quân giai đoạn 1991 –
1995 đạt gần 30%, giai đoạn 1996 – 2000 đã tăng lên 45,7% năm 2001, 2002 đạt 47%, năm 2003 ước đạt
trên 48%) đã thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phát triển các dịch vụ cho xuất khẩu, tham gia xuất
khẩu tại chỗ và tiếp cận thị trường quốc tế. Tuy phần lớn các doanh nghiệp FDI đang trong thời kỳ
hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, nhưng các khoản thu của NSNN từ khu vực này tăng
nhanh, từ 52 triệu USD năm 1991 lên 459 triệu USD năm 2002 đến nay đạt trên 8,5% số thu NSNN (nếu
tính cả thu từ dầu khí thì tỷ lệ này đạt gần 30% thu NSNN). Đây chính là nguồn thu rất quan trọng để cân
đối NSNN, giảm bội chi và tăng cường đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng của đất nước. Một điều rất
quan trọng là khu vực FDI hiện nay đã tạo ra 498 ngàn chỗ làm việc trực tiếp và hàng triệu việc làm gián
tiếp với mức thu nhập tương đối cao so với thu nhập bình quân của công nhân Việt Nam. Trong đó có
khoảng 7.000 cán bộ quản lý và khoảng hơn 26.000 nhân viên đã được các doanh nghiệp FDI đào tạo
nâng cao tay nghề, kỹ năng với công nghệ tiên tiến và tác phong lao động công nghiệp. Cũng chính các
doanh nghiệp FDI là nhân tố thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam tự đổi mới và nâng cao sức cạnh
tranh; đồng thời, là nhân tố thúc đẩy việc hoàn thiện nhanh chóng hệ thống pháp lý làm cơ sở hoạt động
cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

- Các hình thức đầu tư nước ngoài chưa phong phú, hạn chế khả năng góp vốn và hiệu quả sử dụng
vốn của các nhà đầu tư nước ngoài.
- Chất lượng lao động của Việt Nam còn thấp, thiếu lao động lành nghề, lao động có kĩ thuật, có khả
năng vận hành các thiết bị hiện đại; vì vậy, đã đánh mất lợi thế về lao động do giá nhân công có kỹ thuật
tăng nhanh. Hơn nữa, cán bộ trong các liên doanh, cán bộ quản lý FDI còn thiếu kiến thức về kinh tế thị
trường, không nắm vững pháp luật và trình độ ngoại ngữ còn yếu, chưa phát huy hết khả năng trong
công việc.

2. Một số giải pháp tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng FDI

Để tăng cường thu hút FDI thì điều quan trọng là phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn FDI đã thu hút
được, làm cho vốn đã thực hiện phát huy cao nhất hiệu quả và mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư cũng
như mang lại lợi ích cho quốc gia. Muốn vậy cần thực hiện các giải pháp sau:

Tiếp tục giữ vững ổn định về chính trị, xã hội
Giữ vững ổn định về chính trị có ý nghĩa quyết định đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, yếu tố
này luôn được các nhà đầu tư xem xét đầu tiên, họ chỉ muốn đầu tư ở những khu vực, những quốc gia
có sự ổn định về chính trị xã hội, có đủ năng lực và điều kiện thực hiện đầy đủ các cam kết của mình với
độ tin cậy cao. Điều này không mới, nhưng có ý nghĩa rất quan trọng trong điều kiện còn những thế lực
rắp tâm gây mất ổn định ở Việt Nam.

Nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế và hệ thống pháp luật có liên quan tới hoạt động
đầu tư trực tiếp nước ngoài
Sau gần 20 năm đổi mới nền kinh tế, Nhà nước ta đã ban hành và sửa đổi rất nhiều văn bản pháp luật
điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế cho phù hợp với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Tuy nhiên, chúng ta còn phải nhanh chóng ban hành các luật mới như: Luật thương mại, Luật lao
động, Luật sở hữu trí tuệ, Luật đất đai, Luật cạnh tranh, Luật phá sản, Luật chống bán phá giá để có
thể điều chỉnh một cách đồng bộ các mối quan hệ trong nền kinh tế. Đồng thời, cần sớm nghiên cứu và
ban hành các luật có liên quan tới lĩnh vực đầu tư nói chung như Luật đầu tư, Luật chống độc quyền,
Luật kinh doanh bất động sản, Luật tín dụng, Luật kinh doanh chứng khoán nhằm tạo mặt bằng pháp lý

khích đầu tư áp dụng chung cho các loại hình doanh nghiệp. Hoàn thiện các loại thuế thu nhập doanh
nghiệp, VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu theo yêu cầu của hội nhập khu vực và quốc tế
theo hướng đảm bảo nguồn thu cho NSNN nhưng phải ưu tiên đầu tư, khuyến khích phát triển sản xuất
và áp dụng chung cho các loại hình doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI. Nhanh chóng cải cách
giá dịch vụ và xoá bỏ chế độ hai giá. Rà soát và thống nhất mức tiền thuê đất theo từng khu vực, từng
địa bàn phù hợp với yêu cầu phát triển và thu hút đầu tư. Giải quyết dứt điểm vấn đề đền bù, giải phóng
mặt bằng. Thực hiện việc giao đất đã đền bù giải phóng mặt bằng cho các doanh nghiệp FDI và doanh
nghiệp trong nước, tránh việc đẩy giá đất lên cao quá mức như hiện nay. Có các văn bản pháp quy về
cầm cố, thế chấp giá trị quyền sử dụng đất, chuyển sang chế độ Nhà nước cho thuê đất. Có các quy định
về vay vốn rõ ràng, tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI dễ dàng tiếp cận
thị trường vốn, thị trường tín dụng trung và dài hạn. Thí điểm việc cổ phần hóa các doanh nghiệp FDI và
đa dạng hóa các hình thức đầu tư như cho phép thành lập công ty cổ phần có vốn đấu tư nước ngoài,
công ty hợp doanh, thực hiện hình thức mua lại, sáp nhập và cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham
gia vào quá trình sắp xếp lại các DNNN. Giảm dần tỷ lệ kết hối ngoại tệ, tiến tới xoá bỏ việc kết hối bắt
buộc khi có điều kiện, từng bước thực hiện mục tiêu hoán chuyển ngoại tệ đối với các giao dịch vãng lai.
Có chính sách bổ sung đảm bảo việc bán ngoại tệ cho các doanh nghiệp FDI đã thực hiện nghĩa vụ kết hối
để đáp ứng nhu cầu hợp lý của doanh nghiệp. Xây dựng quy chế quản lý hoạt động tài chính doanh
nghiệp đầu tư nước ngoài, ban hành các chuẩn mực kế toán, kiểm toán phù hợp với thông lệ quốc tế.
Xây dựng các chuẩn mực về định giá tài sản, đánh giá tài sản đối với các doanh nghiệp FDI nhằm tạo
thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo sự quản lý của Nhà nước.

Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài
Cải cách hành chính có liên quan chặt chẽ đến việc lành mạnh hoá môi trường đầu tư, giảm các thủ tục
phiền hà của hệ thống hành chính với quá trình đầu tư, nâng cao hiệu quả đầu tư vốn. Cần thực hiện
việc đơn giản hoá các thủ tục cấp phép đầu tư, công khai hoá và minh bạch hoá quá trình cấp phép, giải
quyết các thủ tục hành chính; kiên quyết xử lý những trường hợp sách nhiễu, vô trách nhiệm của các cán
bộ, cơ quan công quyền. Cần thực hiện tốt sự kết hợp giữa việc chỉ đạo tập trung, thống nhất và kiên
quyết của Chính phủ với việc chấp hành nghiêm túc, đúng pháp luật của các bộ, các ngành, các địa
phương. Xây dựng quy chế phối hợp, các bộ chủ quản và UBND các địa phương theo đúng thẩm quyền,

thuật tại các địa phương, đặc biệt là tại các vùng sâu, vùng xa, hoặc những địa phương có thế mạnh về
lao động. Việc đào tạo cần được tiến hành đồng thời, có hệ thống cả về chuyên môn nghiệp vụ, văn hoá,
ngoại ngữ, luật pháp Cần cải tiến nội dung chương trình đào tạo theo hướng coi trọng thực hành,
thường xuyên kiểm tra phân bậc tay nghề thông qua hình thức thi tay nghề, thi tuyển công nhân tài
năng Cần gắn chặt vịệc đào tạo nghề tại các trường với các doanh nghiệp FDI, có chính sách khuyến
khích các doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo và đào tạo lại lực lượng lao động phù hợp với
đặc thù doanh nghiệp.
Cần nghiên cứu, rút kinh nghiệm và phát triển mô hình liên doanh đào tạo như dự án Trung tâm đào tạo
kĩ thuật Việt Nam – Singapore (VSTTC) tại Bình Dương. Tranh thủ tối đa sự hợp tác, đầu tư của nước
ngoài, các dự án quốc tế để từng bước đưa cán bộ quản lý và công nhân ra học tập và làm việc ở nước
ngoài. Mặt khác, đẩy mạnh việc xã hội hoá trong đào tạo cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật; khuyến
khích các tổ chức tập thể, cá nhân tham gia vào quá trình đào tạo lực lượng lao động.
(Trích Tạp chí tài chính số 4/2004)
Nguồn trích dẫn (0)
Tìm tag: FDI


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status