Tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ trí thức có thể luận giải như sau:
- Trong mọi thời đại, trí thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và
truyền bá tri thức. Ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại, các
quốc gia, ở những cấp độ khác nhau, đang bước vào thời kỳ xây dựng, phát triển kinh tế trí thức và xã hội thông
tin. Càng ngày giá trị của tri thức, vai trò của đội ngũ tri thức càng được đề cao như là nguồn lực quan trọng đặc
biệt, phản ánh sức mạnh của mỗi quốc gia trong cuộc chạy đua, cạnh tranh toàn cầu. Đó là một xu thế thời đại.
- Thực hiện Nghị quyết Đại hội X, toàn Đảng, toàn dân ta đang gia sức phấn đấu sớm đưa nước ta ra khỏi tình
trạng kém phát triển, cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Mục tiêu có ý
nghĩa lịch sử đó đòi hỏi chúng ta phải phát huy đến mức cao nhất nguồn lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất
lượng cao và lựa chọn con đường phát triển rút ngắn, hiệu quả. Để làm được điều đó, tất yếu phải xây dựng,
phát huy tốt nhất tiềm năng trí tuệ và năng lực sáng tạo của đội ngũ trí thức nước ta.
- Từ trước tới nay, Đảng ta luôn quan tâm đến xây dựng đội ngũ trí thức; đã ban hành một số chủ trương, chính
sách quan hệ đến trí thức, tạo điều kiện để trí thức phát triển và hoạt động sáng tạo. Tuy nhiên, các chủ trương,
chính sách đó còn thiếu đồng bộ, chậm đi vào cuộc sống, chưa đủ sức động viên phát huy sức mạnh và khắc
phục những hạn chế, yếu kém của đội ngũ trí thức đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển đất
nước. Đã đến lúc Đảng phải có một nghị quyết riêng để giải quyết một cách căn bản hơn những vấn đề liên quan
đến trí thức phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ phát triển mới
.2. Đánh giá tình hình đội ngũ trí thức nước ta hiện nay:
Từ sau Cách mạng Tháng Tám, ở nước ta đã hình thành một đội ngũ trí thức có đặc trưng nổi bật là xuất thân từ
tất cả các giai cấp, các tầng lớp xã hội, nhất là từ công nhân và nông dân. Phần lớn trí thức trưởng thành trong
xã hội mới được hình thành từ nhiều nguồn đào tạo trong nước và ngoài nước, trong đó có một bộ phận trí thức
kiều bào. Bằng hoạt động thực tiễn, trí thức Việt Nam đã có đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng, bảo vệ và
xây dựng Tổ quốc.
Đề án trình Trung ương khẳng định đội ngũ trí thức từ Cách mạng Tháng Tám đến nay có lòng yêu nước nồng
nàn, lòng tự hào dân tộc, gắn bó với nhân dân lao động, gắn bó với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo, có ý
chí vươn lên nỗ lực nâng cao trình độ chuyên môn và hoàn thiện nhân cách, ngày càng đáp ứng tốt hơn những
đòi hỏi mới của sự nghiệp phát triển đất nước. Nhiều trí thức trẻ thể hiện tính năng động, sáng tạo, thích ứng
nhanh kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.
Đề án khẳng định sự phát triển và những đóng góp quan trọng của đôi ngũ trí thức trong sự nghiệp đổi mới đất
nước:
Phát triển nhanh về số lượng và nâng lên về chất lượng; đã có những đóng góp to lớn, quan trọng vào thắng lợi
quan điểm, né tránh những vấn đề có liên quan nhiều đến chính trị. Một số giảm sút đạo đức nghề nghiệp, thiếu
ý thức trách nhiệm và lòng tự trọng, thiếu trung thực và tinh thần hợp tác
Một bộ phận trí thức trẻ chạy theo lợiích kinh tế trước mắt, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên về chuyên môn. Một bộ
phận, do ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện kém cộng với tác động của mặt trái cơ chế kinh tế thị trường, những luận
điểm tuyên truyền, xuyên tạc và sự lôi kéo của các thế lực thù địch đã có những biểu hiện lệch lạc, sai trái về
quan điểm, thiếu say mê, tâm huyết với nghề nghiệp, thiếu ý thức trách nhiệm công dân và xa rời lý tưởng của
Đảng.
Đánh giá công tác xây dựng đội ngũ trí thức của Đảng và Nhà nước những năm qua:
Về kết quả: Đề án khẳng định trong hơn 20 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện quan điểm nhất quán
phát huy vai trò của trí thức, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự cống hiến, sáng tạo của đội ngũ trí thức. Đề án
phân tích một số chính sách cụ thể đã được ban hành và thực hiện, như: chính sách đào tạo và bồi dưỡng đội
ngũ trí thức, chính sách sử dụng và tạomôi trường phát huy vai trò của trí thức; chính sách đãi ngộ, tôn vinh trí
thức, chính sách thu hút trí thức người Việt Nam ở nước ngoài Đề án nêu rõ, những chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước đã ban hành và thực hiện trong thời kỳ đổi mới, bước đầu tạomôi trường thuận lợi để trí
thức phát triển về số lượng, từng bước nâng cao trình độ và năng lực sáng tạo, góp phần trực tiếp cổ vũ, khích
lệ, tạo niềm tin và động lực cho trí thức cống hiến.
- Về những hạn chế, khuyết điểm: Với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, thái độ tự phê bình nghiêm túc và nhận
thức yêu cầu ngày càng cao đối với việc nâng tầm lãnh đạo của Đảng đối với trí thức trong thời kỳ mới, Đề án
phân tích những hạn chế, khuyết điểm, trong đó nhấn mạnh một số nội dung quan trọng sau:
+ Cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta vẫn chưa có chiến lược tổng thể về xây dựng và phát huy tiềm năng, vai trò
của đội ngũ trí thức.
+ Đường lối, chủ trương thì rõ và đúng, nhưng quá trình cụ thể hoá và tổ chức thực hiện thì chậm và ít hiệu quả.
Nhiều chủ trương đúng nhưng thiếu chế tài để thực hiện, có những chủ trương chưa phù hợp với thực tiễn, bất
cập nhưng chậm được thay đổi. Cũng có cả những chính sách, chủ trương đúng, nhưng tổ chức thực hiện không
nghiêm.
+ Môi trường làm việc ở một số nơi còn thiếu dân chủ, thiếu tự do tư tưởng, tự do sáng tạo, đặc biệt với trí thức
khoa học xã hội và văn nghệ sĩ. Công tác tổ chức cán bộ, công tác quản lý, nhất là khâu đánh giá, sử dụng trí
thức còn nhiều yếu kém, nhiều điểm không còn phù hợp. Thiếu cơ chế phát hiện, tiến cử, tuyển chọn, bồi dưỡng,
trọng dụng nhân tài. Còn thiếu chính sách, cơ chế và biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho trí thức chuyên tâm
cống hiến, phát triển và được xã hội tôn vinh bằng chính kết quả hoạt động nghề nghiệp của mình.
động trực tiếp tới vai trò của trí thức… Đề án rút ra các kết luận: Thứ nhất, trong thời đại ngày nay, trí thức ngày
càng giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển của các quốc gia, dân tộc. Thứ hai, trí thức Việt Namđang đứng
trước những đòi hỏi cao và mới, cả thời cơ lớn và những thách thức gay gắt. Thứ ba trước yêu cầu phát triển của
đất nước, Đảng phải tiếp tục đổi mới và nâng cao năng lực lãnh đạo đối với trí thức.
- Về mục tiêu xây dựng đội ngũ trí thức, Đề án xác định như sau:
+ Đến năm 2020, xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, đạt chất lượng cao, số lượng đông vàcơ cấu hợp lý,từng
bước tiến lên ngang tầm vớitrình độcủa trí thức trong khu vực và thế giới. Gắn bó vững chắc giữa Đảngvới trí
thức, giữ tríthức với Đảng, bồi đắpkhối đạiđoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liênminh công – nông – trí thức.
+ Trong những năm trước mắt, hoàn thiện các cơ chế, chính sách đã ban hành, xây dựng cơ chế, chính sách mới
nhằm phát huy có hiệu quả tiềm năng của đội ngũ trí thức hiện nay; xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ trí
thức đến năm 2020 đáp ứng nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.
Đề án xác định 3 quan điểm chỉ đạo:
Quan điểm thứ nhất làm rõ vai trò của trí thức, tầm quan trọng của việc xây dựng
đội ngũ trí thức: Trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan
trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội
nhập kinh tế quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức, phát triển nền văn hoá Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh làtrực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của
đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo Đảng và chất lượng hoạt động có hệ thống chính trị.
Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầutư cho phát triển bền vững (đây là nhận thức rất mới,
thể hiện sự đánh giá rất cao của Trung ương đối với đội ngũ trí thức).
Quan điểm thứ hai nhấn mạnh việc phát huy sức mạnh tổng hợp trong xây dựng đội ngũ trí
thức: Xây dựng đội ngũ trí thức là trách nhiệm chung của toàn xã hội, của cả hệ thống chính
trị, trong đó trách nhiệm của Đảng và Nhà nước giữ vai trò quyết định. Quan điểm này cũng
xác định rõ trách nhiệm của bản thân trí thức: Trí thức có vinh dự và bổn phận trước Tổ quốc
và dân tộc, không ngừng phấn đấu nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, đóng
góp nhiều nhất cho sự nghiệp phát triền đất nước.
Quan điểm thứ ba xác định những trọng tâm có ý nghĩa đột phá trong công tác trí thức: Thực
hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của
trí thức vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tạo môi