QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC THỜI KÌ ĐỔI MỚI - Pdf 26

ĐỀ BÀI:
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC
THỜI KÌ ĐỔI MỚI
MỤC LỤC
Trang:
MỤC LỤC…………………………………………….………….………………1
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………..…….2
NỘI DUNG……………………………………………………………...……….2
I, CƠ SỞ CỦA ĐẢNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC…………….……..2
1. Cơ sở lý luận………………………………….……………………….…2
1.1. Lí luận của chủ nghĩa Mác Lênin………..……………………..………..2
1.2. Lí luận theo tư tưởng Hồ Chí Minh…………………………….………..2
2. Cơ sở thực tiễn…………………………………………………………...2
2.1. Những ưu điểm…………………………………………………………..2
2.2. Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân………………………………3
II, QUAN ĐIỂM CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG
VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC THỜI KÌ ĐỔI MỚI…………………..3
1. Mục tiêu………………………………………………………………….3
2. Quan điểm chỉ đạo……………………………………………………….3
3. Nhiệm vụ và giải pháp…….……………………………………………..4
4. Tổ chức thực hiện……..…………………………………………………5
III, NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG
VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC HIỆN NAY…………………………..5
1. Đánh giá việc thực hiện chủ trương quan điểm của Đảng trong thực tế..5
2. Phương hướng giải quyết……………………………………………..…7
KẾT LUẬN………………………………………………………………………7
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………...8
MỞ ĐẦU
1
“Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và
càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà càng xuống thấp” (Thân Nhân

không ngừng chiếm lấy đỉnh cao của khoa học và kỹ thuật; sống lành mạnh, có
đạo đức và tư cách. Đồng thời, Người cũng chỉ ra rằng: Đảng và Chính phủ phải
biết tôn vinh trí thức và trí thức phải biết tôn trọng Đảng, Chính phủ, tôn trọng
nhân dân lao động; Đảng và Chính phủ phải có chính sách trọng dụng trí thức,
trọng dụng nhân tài, hiền tài; phải thật sự dân chủ đối với trí thức.
Thực tiễn cách mạng thế giới và ở Việt Nam đã chứng minh tính đúng đắn
của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đội ngũ trí thức. Xuất
phát từ chính những quan điểm đó, Đảng ta đã đưa ra quan điểm về xây dựng đội
ngũ trí thức thời kì đổi mới.
2. Cơ sở thực tiễn:
2.1. Những ưu điểm
2
- Về sự phát triển và đóng góp của đội ngũ trí thức: Nhìn tổng thể, đội ngũ
trí thức Việt Nam đã phát triển lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng; góp phần
đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, từng bước xóa đói, giảm
nghèo, phát triển đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Công tác xây dựng đội ngũ trí thức: Trong những năm đổi mới, Nhà
nước đã thực hiện các chính sách xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống
đào tạo, nghiên cứu; đổi mới cơ chế quản lý, tăng cường đầu tư cho sự nghiệp
giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa và văn nghệ; các chính
sách sử dụng, đãi ngộ và tạo môi trường phát huy vai trò của trí thức; thu hút trí
thức người Việt Nam ở nước ngoài... Công tác trí thức của Ðảng và Nhà nước
trong những năm qua đã thể hiện sự coi trọng vị trí, vai trò của trí thức, bước đầu
tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ trí thức và các hội của trí thức hoạt động, phát
triển.
2.2. Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân
- Về vấn đề đào tạo đội ngũ trí thức: Việc đào tạo đội ngũ trí thức thiếu
chiến lược và quy hoạch đào tạo, chưa có định hướng cơ bản và lâu dài, chưa
đồng bộ. Hệ thống giáo dục còn lạc hậu, chưa đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân
lực trình độ cao. Cơ cấu đội ngũ trí thức có những mặt bất hợp lý về ngành nghề,

Thứ hai, nhấn mạnh việc phát huy sức mạnh tổng hợp trong xây dựng đội
ngũ trí thức: Xây dựng đội ngũ trí thức là trách nhiệm chung của toàn xã hội và
của hệ thống chính trị, trong đó trách nhiệm của Ðảng và Nhà nước giữ vai trò
quyết định. Trí thức có vinh dự và bổn phận trước Tổ quốc và dân tộc, không
ngừng phấn đấu nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn,
đóng góp nhiều nhất cho sự phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ ba, xác định những trọng tâm có ý nghĩa đột phá trong công tác trí
thức: Thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động
nghiên cứu, sáng tạo của trí thức vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh; tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động nghề nghiệp
của trí thức, trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và
kết quả cống hiến, có chính sách đãi ngộ tốt để trí thức phát huy được vai trò của
mình.
3. Nhiệm vụ và giải pháp
Thứ nhất, hoàn thiện môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động của
trí thức. Hoàn thiện pháp luật, ban hành quy chế dân chủ trong hoạt động của trí
thức; bảo đảm lợi ích, quyền hạn, điều kiện làm việc để trí thức tự khẳng định,
phát triển, cống hiến và được xã hội tôn vinh. Tăng đầu tư phát triển khoa học,
xây dựng cơ sở vật chất, mở rộng hợp tác và giao lưu quốc tế.
Thứ hai, thực hiện chính sách trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức:
khắc phục các hạn chế trong công tác quản lí trí thức; xây dựng, hoàn thiện cơ
chế, chính sách để trí thức được hưởng đầy đủ lợi ích vật chất, tinh thần tương
xứng với kết quả lao động; ưu đãi đối với trí thức làm việc ở vùng kinh tế, xã hội
khó khăn,...; thu hút trí thức Việt Nam trong và ngoài nước; trọng dụng, tôn vinh
những trí thức có đóng góp thiết thực, hiệu quả đối với sự phát triển của dân tộc.
Thứ ba, tạo chuyển biến căn bản trong đào tạo, bồi dưỡng trí thức. Đó là
việc cải cách, phát triển giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ trí thức,
tập trung đầu tư phát triển đội ngũ trí thức trẻ, đội ngũ trí thức trong các ngành
mà đất nước có nhu cầu bức thiết, đáp ứng nhu cầu phát triển trong thời kì mới.
Thứ tư, đề cao trách nhiệm của trí thức, củng cố và nâng cao chất lượng

Điều này đã được minh chứng cụ thể thông qua những thành tựu đáng kể mà ta
đã đạt được trong quá trình đưa Nghị quyết số 27-NQ/TW của Hội nghị Trung
ương lần thứ 7 (Khóa X) về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vào thực tiễn:
Thứ nhất, môi trường, điều kiện hoạt động của đội ngũ tri thức đã được
xây dựng và cải thiện rõ rệt; bước đầu thực hiện tốt chính sách trọng dụng, đãi
ngộ và tôn vinh trí thức tạo điều kiện thuận lợi cho trí thức phát huy tiềm năng
sáng tạo, tham gia tư vấn, phản biện và giám định nhiều chủ trương, chính sách
quan trọng về phát triển kinh tế-xã hội; tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong
đào tạo, bồi dưỡng trí thức;
Thứ hai, các bộ đã từng bước hoàn thiện và hướng dẫn thực hiện hệ thống
văn bản pháp luật, tạo môi trường pháp lý thuận lợi, phát huy vai trò của trí thức
trong hoạt động khoa học, công nghệ và văn học, nghệ thuật. Công tác thi đua
khen thưởng, khuyến khích, tôn vinh trí thức có thành tích trong hoạt động báo
chí, văn học, nghệ thuật, khoa học và phát triển công nghệ được quan tâm. Công
tác đào tạo, bồi dưỡng đối với trí thức có một số chuyển biến. Nhận thức của các
cấp ủy Đảng về vai trò của đội ngũ trí thức từng bước được nâng cao; các cấp ủy
quan tâm, tạo điều kiện cho trí thức phát huy tài năng và lắng nghe ý kiến của trí
thức về những vấn đề lớn trong phát triển kinh tế - xã hội... (Báo cáo của Ban
Tuyên giáo T.Ư do đồng chí Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên T.Ư Đảng, Phó Trưởng
Ban Thường trực)
Thứ ba, sau 3 năm thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW, đội ngũ trí thức
nước ta tiếp tục được tăng cường mạnh mẽ về số lượng, nâng cao về chất lượng,
nhờ những chuyển biến mới trong đào tạo, bồi dưỡng tri thức. Các bộ, ngành, địa
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status