Báo cáo thực hiện nhiệm vụ năm học của Bộ GD&ĐT 2010 - Pdf 18

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO
TỔNG KẾT NĂM HỌC 2009-2010
PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NĂM HỌC 2010-2011
CỦA GIÁO DỤC MẦM NON, GIÁO DỤC PHỔ THÔNG,
GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN VÀ GIÁO DỤC CHUYÊN NGHIỆP
Năm học 2009-2010, diễn ra trong tình hình chính trị - xã hội của đất nước
tiếp tục ổn định, nền kinh tế có xu hướng phục hồi sau suy giảm và đã có những
chuyển biến tích cực, an ninh quốc phòng được tăng cường và ổn định. Đảng và Nhà
nước tiếp tục dành sự quan tâm, chỉ đạo sát sao đối với ngành Giáo dục; nhiều văn
bản luật, nghị định, nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và
của các địa phương về phát triển giáo dục đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý
quan trọng cho phát triển giáo dục.
Thực hiện Chỉ thị số 4899/CT-BGDĐT ngày 04/8/2009 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) về nhiệm vụ trọng tâm năm học 2009-2010; với chủ
đề “Năm học đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”, ngành Giáo dục
đã nỗ lực cố gắng phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục những khó khăn
để hoàn thành tốt nhiệm vụ đề ra.
Phần thứ nhất
KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ NĂM HỌC 2009-2010
I. Công tác chỉ đạo chung
Bộ GDĐT đã ban hành các văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học
2009-2010: Quyết định số 4385/QĐ-BGDĐT ngày 30/6/2009 ban hành Khung
kế hoạch thời gian năm học 2009-2010, Chỉ thị số 4899/CT-BGDĐT ngày
04/8/2009 về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông,
giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp năm học 2009-2010; đồng
thời các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của từng cấp học và
từng mặt công tác đã gửi đầy đủ và kịp thời tới các Sở GDĐT trước ngày khai

tiêu chí đánh giá thi đua (đối với cá nhân và tập thể) trong việc thực hiện cuộc
vận động. Các nhà trường và cơ sở giáo dục đã phát động trong giáo viên phong
trào tự học, tự nghiên cứu. Nhiều hình thức hưởng ứng cuộc vận động như hội
thảo, họp mặt, tọa đàm trao đổi kinh nghiệm về phẩm chất đạo đức nhà giáo; tổ
chức tuyên dương khen thưởng nhà giáo tiêu biểu, giáo viên dạy giỏi… có nơi
đã tổ chức vinh danh cho cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên tiêu biểu nhất
được học sinh và đồng nghiệp tôn vinh (Hậu Giang). So với năm học trước, tình
hình vi phạm đạo đức nhà giáo đã giảm (năm 2008 có 122 vụ vi phạm đạo đức
nhà giáo, năm 2009 có 24 vụ và 6 tháng đầu năm 2010 chỉ còn 12 vụ), nhiều địa
phương không có trường hợp nào vi phạm.
1.3. Cuộc vận động "Hai không": Năm học 2009-2010 là năm thứ tư
toàn ngành triển khai thực hiện Chỉ thị số 33/2006/CT-TTg của Thủ Chính phủ
về chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục thông qua cuộc
vận động "Hai không" của ngành. Bộ chỉ đạo các cơ sở giáo dục rà soát, phân
2
loại trình độ học sinh để áp dụng các hình thức phụ đạo, bồi dưỡng phù hợp, đặc
biệt chú trọng phụ đạo cho học sinh yếu kém, nhất là trong thời gian cuối năm
học, học sinh lớp 12 ôn tập và dự thi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT).
Trật tự, kỷ cương thi cử trong toàn ngành đã có chuyển biến căn bản, kỳ
thi tốt nghiệp THPT năm 2010 được thực hiện nghiêm túc, an toàn, khách quan,
chính xác và công bằng ở tất cả các khâu: ra đề thi, coi thi, chấm thi, xét công nhận
tốt nghiệp, thanh tra thi. Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT năm 2010 toàn quốc là 92,57%,
tăng 8,97% so với năm 2009; tỷ lệ đỗ tốt nghiệp GDTX năm 2010 toàn quốc là
66,71%, cao hơn năm 2009 là 27,11% (biểu 6, biểu 7- phụ lục 1). Tỷ lệ thi đỗ tốt
nghiệp tăng đã phản ánh sự chuyển biến tích cực về chất lượng dạy và học; phù
hợp với sự phấn đấu nỗ lực của học sinh, giáo viên trong thời gian qua; có sự tương
ứng giữa kết quả tốt nghiệp giáo dục THPT và GDTX trong từng địa phương cũng
như trên phạm vi toàn quốc.
Năm học 2009-2010, tỷ lệ học sinh bỏ học ở hầu hết các vùng đều giảm
(biểu 2- phụ lục 1). Số học sinh bỏ học giảm đáng kể, (vì chưa có số liệu học

khăn. Hội Khuyến học có sáng kiến “Mỗi gia đình hội viên nuôi một con heo
khuyến học” (hoặc các hình thức tương tự) phát triển mạnh ở TP. Hồ Chí Minh,
Đồng Nai, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An; xây dựng Quỹ học bổng khuyến
học “Vòng tay đồng đội” đã nhận được tài trợ của nhiều cá nhân, doanh nghiệp,
trên cơ sở đó quỹ đã cấp nhiều suất học bổng cho con em gia đình thương binh,
liệt sĩ.
Trước tình trạng học sinh đánh nhau có dấu hiệu gia tăng ở một số địa
phương và một số vụ việc xảy ra gây bức xúc trong dư luận xã hội, Bộ đã chỉ đạo
các Sở GDĐT thực hiện các biện pháp ngăn chặn tình trạng này đồng thời có thống
kê, báo cáo thực trạng tình hình và sẽ tổ chức Hội thảo toàn quốc về các giải pháp
phòng ngừa từ xa và ngăn chặn tình trạng học sinh đánh nhau và ngăm chặn tác hại
của trò chơi điện tử.
Phong trào thi đua có sức lan tỏa mạnh mẽ, 94% các trường tham gia
phấn đấu đạt ở các mức độ khác nhau. Khai giảng năm học 2009-2010, ngoài
phần “Lễ”, các nhà trường đã tổ chức tốt phần “Hội” với các trò chơi dân gian,
hát dân ca, giao lưu văn hóa… tạo không khí vui tươi phấn khởi cho học sinh
bước vào năm học mới. Các nhà trường đã chủ động sưu tầm và hướng dẫn học
sinh hát dân ca và chơi các trò chơi dân gian trong các giờ ra chơi và sinh hoạt
tập thể. Cảnh quan và điều kiện cơ sở vật chất của các nhà trường được cải thiện
nhanh chóng, có cây xanh bóng mát, lớp học đủ ánh sáng, bàn ghế phù hợp với
lứa tuổi học sinh. Số công trình vệ sinh đã tăng thêm 20% so với năm học trước,
nâng tổng số trường có công trình vệ sinh là 38.893 trường, đạt 96,7% trên tổng
số trường trong cả nước, trong đó có 83,9% công trình hợp vệ sinh. Trồng mới
được 18 triệu cây xanh các loại phù hợp với điều kiện nhà trường. Toàn ngành
đã nhận chăm sóc 2.063 di tích lịch sử cấp quốc gia, 3.365 di tích cấp tỉnh và
7.041 đền đài, nghĩa trang liệt sỹ và 1.157 các công trình khác; đồng thời nhận
chăm sóc và phụng dưỡng 15.810 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình thương
binh liệt sỹ.
Bộ GDĐT đã phối hợp với Công đoàn GDVN tổ chức vận động quyên
góp hỗ trợ, giúp giáo viên và học sinh các tỉnh vùng khó được 64.237.154.000

15/4/2009 của Bộ GDĐT và Bộ Nội vụ về hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự
chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế đối với đơn vị
sự nghiệp GDĐT công lập, các Sở đã trình UBND tỉnh/thành phố phê duyệt kế
hoạch biên chế; chủ động trong việc kiện toàn, ổn định tổ chức bộ máy ở các cơ
sở giáo dục; sắp xếp, tuyển dụng, sử dụng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức
hợp lý; ban hành các Nghị quyết về công tác GDĐT; thực hiện tốt chức năng
quản lý Nhà nước về GDĐT tại địa phương; giao quyền quản lý tài chính cho
các cơ sở giáo dục.
2.2. Thực hiện Thông tư số 09/2009/TT-BGDĐT ngày 07/5/2009 của Bộ
GDĐT, tất cả các cơ sở giáo dục đã thực hiện “3 công khai” để người học và xã
hội giám sát, đánh giá, bao gồm: công khai cam kết chất lượng giáo dục và chất
lượng thực tế; công khai các điều kiện đảm bảo chất lượng; công khai thu, chi
tài chính. Các Sở GDĐT cũng đã chỉ đạo, củng cố và hoàn thiện hệ thống
website của ngành, của các trường học để cập nhật và cung cấp thông tin được
nhanh chóng, kịp thời. Tuy nhiên, năm học 2009-2010 là năm đầu tiên thực hiện
Thông tư 09 nên nhiều cơ sở giáo dục còn lúng túng, vướng mắc trong việc xác
định các tiêu chí công khai, lựa chọn hình thức công khai.
2.3. Triển khai Nghị quyết số 35/2009/QH12 của Quốc hội về chủ trương,
định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong ngành, Bộ GDĐT đã xây
dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày
5
14/5/2010 quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu,
sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm
học 2010-2011 đến năm học 2014-2015. Liên bộ Bộ GDĐT, Bộ Tài chính và Bộ
Lao động, Thương binh và Xã hội đang hoàn thiện Thông tư liên tịch hướng
dẫn. Các Sở đang tích cực, chủ động xây dựng mức học phí phù hợp với thực tế
của địa phương trình Hội đồng nhân dân tỉnh/thành phố quyết định áp dụng
trong năm học 2010-2011.
2.4. Việc chuyển đổi loại hình trường: Thực hiện Thông tư số
11/2009/TT-BGDĐT ngày 08/5/2009 của Bộ GDĐT, hầu hết các Sở đã tham

hành các văn bản quy phạm pháp luật năm 2009 là 48 văn bản và trong 6 tháng
6
đầu năm 2010 là 22 văn bản (phụ lục 2); trong đó nhiều văn bản có ý nghĩa rất
quan trọng đối với phát triển giáo dục: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Giáo dục; Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương, định hướng đổi mới một
số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo; Nghị định của Chính phủ ban hành
quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng
học phí đối với các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học
2010-2011 đến năm học 2014-2015; Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ
em 5 tuổi giai đoạn 2010-2015; Đề án phát triển trường THPT chuyên giai đoạn
2011-2020; Đề án đào tạo giáo viên giáo dục quốc phòng - an ninh cho các
trường trung học phổ thông và trung cấp chuyên nghiệp giai đoạn 2010-2016,
Nghị định quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong
các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên.
Hệ thống tổ chức pháp chế ngành Giáo dục ngày càng được kiện toàn, có
1 Sở thành lập phòng Pháp chế (TP Hồ Chí Minh), 32 Sở thành lập tổ công tác
pháp chế thuộc Thanh tra hoặc Văn phòng, các Sở còn lại đã cử cán bộ kiêm
nhiệm làm công tác pháp chế. 100% Sở đã thành lập Ban phổ biến giáo dục
pháp luật, đã xây dựng tủ sách pháp luật và thường xuyên bổ sung sách phục vụ
cho công tác của ngành. Một số tỉnh làm tốt công tác pháp chế là TP Hồ Chí
Minh, Đà Nẵng, Yên Bái, Hà Tĩnh, Thái Nguyên, Quảng Ngãi, Ninh Bình, Hà
Nội, Đăk Lăk, Cà Mau, Bình Thuận.
2.8. Kết quả ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục: Tổng
công ty Viễn thông Quân đội Viettel đã tài trợ miễn phí kết nối Internet băng
thông rộng đến tất cả các trường phổ thông, mầm non, các trung tâm GDTX, các
phòng GDĐT và các trường TCCN. Hiện nay, Viettel cung cấp mới thiết bị
modem 3G có tốc độ nhanh và tổ chức kết nối mới cho những điểm không nối
được bằng cáp.
Bộ và nhiều Sở GDĐT, phòng GDĐT tăng cường ứng dụng CNTT để
tổ chức hội nghị, hội thảo, tập huấn, họp trao đổi công tác qua mạng Internet,

cực”, cuộc vận động quyên góp giúp đỡ giáo viên và học sinh vùng khó khăn, về đổi
mới phương pháp dạy học, về các điển hình tiên tiến trong ngành Giáo dục, thực
hiện “3 công khai”, đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội, thi tốt nghiệp THPT
năm 2010 và các chủ trương, định hướng, chỉ đạo của ngành…
Bộ GDĐT đã ký chương trình phối hợp tuyên truyền về công tác giáo dục và
đào tạo năm 2010 với Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam. Trung
bình mỗi tuần đã có 5 phóng sự thời sự, chuyên đề (VTV1), 4 chương trình phát
thanh (VOV).
Sau một năm triển khai, Báo điện tử Giáo dục và Thời đại đã có trên
200.000 lượt người truy cập, trở thành một kênh thông tin có số lượng người truy
cập lớn, có ý kiến bạn đọc rộng rãi, có sự đối thoại hai chiều với toàn xã hội.
3. Triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục
3.1. Công tác phổ cập giáo dục và chống mù chữ được chú trọng, tất cả
các tỉnh, thành phố đều duy trì kết quả phổ cập giáo dục Tiểu học - Chống mù
chữ; Riêng năm học này thêm 4 tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng
độ tuổi Yên Bái, Điện Biên, Lai Châu và Bạc Liêu. Hiện nay, toàn quốc có
52/63 tỉnh, thành đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi (đạt tỉ lệ
82,5%).
Công tác phổ cập giáo dục THCS được triển khai quyết liệt ở 7 tỉnh cuối
cùng, trong lộ trình 10 năm toàn quốc tiến hành phổ cập giáo dục THCS (2001-
2010) như: giao ban công tác phổ cập giáo dục THCS với 7 tỉnh ngay từ đầu
năm học; cử các tổ công tác đến các tỉnh hỗ trợ kỹ thuật, nghiệp vụ. Các địa
8
phương đã thực hiện có hiệu quả nhiều giải pháp, có chính sách hỗ trợ đặc biệt,
ưu tiên kinh phí, tập trung nguồn lực cho các địa bàn khó khăn ở biên giới, hải
đảo và đặc biệt quan tâm đến những tỉnh, huyện, xã mới chia tách nhằm đạt
chuẩn phổ cập giáo dục.
Kết quả công tác phổ cập GDTHCS đến ngày 30/6/2010: 63/63 tỉnh,
thành phố và tất cả các huyện trong toàn quốc (687 huyện) đều đạt chuẩn; tỷ lệ
đơn vị cấp xã đạt chuẩn là 10.338/10.344 xã (99,9%); tỷ lệ người trong độ tuổi

12,4% so với năm trước), loại yếu còn 2,2% (giảm 1,4% so với năm trước). Kết
quả môn Tiếng Việt, tỷ lệ đạt loại giỏi 45,8% (tăng 13,3% so với năm trước),
loại yếu còn 2,0% (giảm 1,3% so với năm trước).
9
Các hoạt động giáo dục an toàn giao thông, giáo dục môi trường, giáo
dục giới và quyền trẻ em được tích hợp, lồng ghép vào các môn học ở tiểu
học. Tiếp tục huy động các nguồn lực từ xã hội cho giáo dục tiểu học: công ty
cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk trao học bổng và quà trị giá 1,5 tỷ đồng; tập
đoàn Unilever triển khai lắp đặt 38 sân chơi ngoài trời tại 14 tỉnh, trị giá 6 tỷ
đồng; công ty FPT tổ chức thi giải Toán qua mạng cho học sinh tiểu học; tiếp
nhận và cấp phát 10.000 chiếc đàn Pianô do Công ty Booyoung Hàn Quốc
trao tặng cho các trường tiểu học…
3.2.3. Đối với giáo dục trung học
Bộ đã tổ chức hội nghị đánh giá 3 năm thực hiện chương trình và sách
giáo khoa THPT; ban hành và tập huấn sử dụng tài liệu Hướng dẫn thực hiện
chuẩn kiến thức, kỹ năng đối với các môn học ở THCS và THPT. Kết quả học
và thi tốt nghiệp lớp 12 THPT có tiến bộ rõ rệt do đã có tác động bước đầu từ
việc này.
Tăng cường tích hợp nội dung giáo dục địa phương, giáo dục môi trường,
giáo dục kỹ năng sống, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng, chú trọng đến
việc giáo dục đạo đức, ý thức, tình yêu đối với quê hương và kỹ năng sống,
nhiều Sở GDĐT đã biên soạn bộ tài liệu về nội dung giáo dục địa phương các
môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý.
Các Sở GDĐT đã tích cực chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy học,
khắc phục dạy học chủ yếu theo lối “đọc-chép“; đổi mới kiểm tra, đánh giá, tăng
cường sử dụng thiết bị dạy học và phòng học bộ môn, làm và sử dụng thiết bị
dạy học tự làm, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin. Các tỉnh thực hiện
khá tốt chủ trương này là TP Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Lai Châu.
Kết quả xếp loại hạnh kiểm, học lực của học sinh trung học đều tăng so với
năm trước (biểu 4, biểu 5 - phụ lục 1): Cấp THCS: Hạnh kiểm tốt đạt 70% (tăng

và Tiếng Anh. Các địa phương tổ chức tập huấn, hội thi giáo viên dạy giỏi, hội
giảng giáo viên GDTX cấp THPT Chất lượng dạy học GDTX đã có chuyển
biến tích cực.
Tiếp tục thực hiện Đề án "Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010"
và Kế hoạch hành động quốc gia giáo dục cho mọi người, Bộ đã phối hợp với
Liên hiệp các tổ chức giáo dục toàn cầu tổ chức Sự kiện quốc gia hưởng ứng
Tuần lễ toàn cầu hành động giáo dục cho mọi người năm 2010. Cùng với các
quốc gia trên thế giới, sự kiện này được tổ chức tại Việt Nam với chủ đề “Tất cả
vì một mục tiêu giáo dục cho mọi người” và khẩu hiệu “Tăng cường đầu tư cho
giáo dục”.
3.2.5. Đối với giáo dục chuyên nghiệp
Công tác phân luồng học sinh sau THCS có tiến bộ, năm học này có 187
trong tổng số 553 trường tuyển sinh TCCN, với 26.257 học sinh tốt nghiệp
THCS tham dự tuyển. Các địa phương thực hiện tốt công tác này là: TP Hồ Chí
Minh, Hà Tĩnh, Yên Bái, Tiền Giang
Trong năm học đã ban hành được 28 chương trình khung các ngành đào
tạo TCCN theo hướng xác định mục tiêu đào tạo gắn với chuẩn năng lực đầu
ra, tăng cường kỹ năng thực hành nghề nghiệp cho học sinh, bổ sung 3 học
phần tự chọn là Kỹ năng giao tiếp, Khởi tạo doanh nghiệp, Sử dụng năng
lượng tiết kiệm và hiệu quả.
Nhiều Sở GDĐT đã chỉ đạo cụ thể các giải pháp nâng cao chất lượng đào
tạo như xây dựng và công bố chuẩn đầu ra (TP Hồ Chí Minh), tiếp tục rà soát
hoàn thiện lại chương trình đào tạo của nhà trường, lập dự án đầu tư tăng cường cơ
sở vật chất, tăng cường giáo trình, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên TCCN, quy hoạch
phát triển nhân lực của địa phương, gắn kết việc đào tạo với sử dụng nhân lực
11
(Lâm Đồng, Hà Nam, Vĩnh Phúc), đã có hàng trăm hợp đồng ký kết giữa các
trường và doanh nghiệp về đào tạo theo địa chỉ.
Tuy vậy, chất lượng giáo dục TCCN chưa có chuyển biến đáng kể, đặc biệt ở
các cơ sở đào tạo mới được thành lập. Kỹ năng thực hành nghề nghiệp và kỹ năng

Khmer, Êđê, Bahnar, Jrai, Hmông, Hoa trong trường phổ thông tại 20 tỉnh
trong 751 trường, 4.905 lớp cho 112.180 học sinh (thêm 2 tỉnh so với năm
học 2008-2009).
Các dự án ODA, các tổ chức phi chính phủ tổ chức nhiều hoạt động bồi
dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên.
Các chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục dân tộc được thực hiện
nghiêm túc. Đặc biệt, chính sách đối với giáo viên, hỗ trợ học sinh nghèo, học
12
sinh trường PTDTBT, chủ trương cấp sách giáo khoa, giấy, vở viết không thu
tiền cho học sinh ở địa bàn khó khăn. Ngoài ra, một số tỉnh có chế độ chính sách
cho học sinh nghèo, tỉnh Quảng Nam hỗ trợ học tập cho 11.017 học sinh THCS
và THPT; tỉnh Lào Cai có 3.900 học sinh phổ thông được tỉnh hỗ trợ kinh phí
học tập
Triển khai đề án về phát triển giáo dục ở 62 huyện nghèo, Bộ GDĐT đã
xây dựng Kế hoạch số 384/KH-BGDĐT ngày 09/6/2009 thực hiện Nghị quyết
số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ
giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo; cụ thể hoá mục tiêu,
nhiệm vụ thuộc lĩnh vực GDĐT theo Nghị quyết 30a của Chính phủ.
Bộ GDĐT đã phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các
Bộ ngành liên quan xây dựng tiêu chí, hướng dẫn các huyện nghèo lập kế hoạch
thực hiện các cơ chế, chính sách trong khuôn khổ Đề án giảm nghèo của các
huyện. Chương trình kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên
tại 62 huyện nghèo giai đoạn 2008 - 2012, đã triển khai xây dựng 4.737 phòng
học và 4.018 phòng công vụ giáo viên với tổng kinh phí đầu tư là 1.115 tỷ đồng.
Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông,
đổi mới phương pháp dạy học ở vùng dân tộc, vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc
biệt khó khăn còn đạt hiệu quả chưa cao. Chế độ chính sách đối với giáo viên và học
sinh dân tộc đã được quan tâm song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế.
b) Công tác giáo dục trẻ khuyết tật cũng có nhiều chuyển biến tích cực, số
trẻ khuyết tật mầm non học hoà nhập là 15.349, đạt tỷ lệ 62.8% tổng số trẻ

các trường THPT, tuy nhiên chủ yếu là giáo viên kiêm nhiệm, chưa đạt chuẩn về
chuyên môn.
Bộ đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác thiết bị dạy học GDQP-AN giai
đoạn 2006-2009, kiện toàn và ban hành danh mục thiết bị dạy học và danh mục bộ
mẫu thiết bị tối thiểu môn học GDQP-AN của các trường THPT, TCCN, ĐH, CĐ.
3.2.8. Công tác học sinh, sinh viên (HSSV)
Trong năm học 2009-2010, công tác giáo dục thể chất và y tế trường học
tiếp tục được tăng cường. Các hoạt động văn hoá, thể thao trong HSSV được tổ
chức thường xuyên, theo định kỳ đã thực sự là sân chơi bổ ích, giúp HSSV định
hướng, nâng cao thẩm mỹ và rèn luyện thân thể, thu hút sự tham gia tích cực của
các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước cùng tham gia vào các hoạt động
giáo dục toàn diện HSSV. Bộ đã chỉ đạo, hướng dẫn các Sở, các trường trung
cấp chuyên nghiệp tổ chức tổng kết việc thực hiện Chỉ thị 17/CT-TW của Ban
Bí thư Trung ương Đảng về việc phát triển thể dục thể thao đến năm 2010;
thường xuyên tổ chức các hoạt động thể dục thể thao cho cán bộ giáo viên học
sinh, sinh viên tại các cơ sở trường học và tham gia các hoạt động thể thao cấp
tỉnh, khu vực và cấp toàn quốc như: Hội thao Điền kinh và Thể thao quốc
phòng; Hội thi Văn hoá - Thể thao các trường dân tộc nội trú toàn quốc; Hội thi
Thể thao học sinh khuyết tật lần thứ III; giải Bóng đá học sinh Tiểu học và
Trung học cơ sở Cúp Millo 2010; giải Cầu lông giáo viên và sinh viên. Tham
gia các hoạt động thể thao học sinh quốc tế như: tham dự Đại hội Olympic thể
thao học sinh Tiểu học Đông Nam Á lần thứ III tại Indonesia, xếp thứ 5 toàn
đoàn; Tham dự Đại hội thể thao học sinh Đông Nam Á lần thứ II, xếp thứ 4 toàn
đoàn với 11 huy chương Vàng. Theo định kỳ Bộ tổ chức tập huấn nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên TDTT và tổ chức Hội nghị
khoa học giáo dục thể chất và y tế trường học lần thứ V. Phối hợp với các Bộ
ngành, tổ chức quốc tế tổ chức các lớp tập huấn về bơi an toàn và chống đuối
nước; tổ chức các lớp dạy bơi thí điểm cho học sinh tiểu học như Hải Dương, Đà
Nẵng, TP Hồ Chí Minh.
14

học (Cấp 2-3) 319 trường, trung học phổ thông 2.236 trường. Tổng số trường
mầm non có 12.357 trường (tăng so với năm học trước 167 trường), trong đó
công lập 7.035 trường, ngoài công lập 5.322 trường.
Số trẻ đến trường mầm non là 3.405.194 cháu (tăng 99.493 cháu so với
năm học trước). Trong đó, số trẻ ngoài công lập là 1.525.805, chiếm tỷ lệ 44,8%
tổng số; số trẻ mẫu giáo 5 tuổi đến trường là 1.293.921, đạt tỷ lệ 98,7% trẻ trong
độ tuổi. Tổng số học sinh phổ thông là 15.016.156 em (giảm so với năm 2009-
2010 là 195.864 em), trong đó ngoài công lập là 538.606 em (chiếm 3,59%), học
sinh tiểu học là 6.922.624, học sinh THCS 5.214.042, học sinh THPT là
2.879.490.
15
Các trường TCCN được củng cố và phát triển, mở rộng quy mô đào tạo,
cơ cấu ngành nghề đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, có
553 cơ sở có đào tạo TCCN, trong đó: 246 trường trung cấp chuyên nghiệp, 201
trường cao đẳng đào tạo TCCN, 74 trường đào tạo TCCN, 32 cơ sở, khác đào
tạo TCCN.
Mạng lưới cơ sở GDTX tiếp tục phát triển về số lượng và mở rộng ở các địa
bàn, cả nước có 69 Trung tâm GDTX cấp tỉnh (tăng 2 trung tâm), có 615 trung tâm
GDTX cấp huyện (tăng 13 trung tâm). Có 9.990 Trung tâm học tập cộng đồng (tăng
449 trung tâm) chiếm tỷ lệ 89,96% số xã phường thị trấn. Huy động được 30.171
học viên học chương trình Xoá mù chữ; 26.622 học viên học chương trình Giáo dục
tiếp tục sau khi biết chữ; 81.031 học viên học chương trình GDTX THCS; 286.077
học viên học chương trình THPT; 238.056 người học cấp chứng chỉ tin học, công
nghệ thông tin truyền thông; 215.525 người học cấp chứng chỉ ngoại ngữ;
13.937.784 lượt người học chuyên đề; 318.254 người học nghề ngắn hạn.
4.2. Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia
Năm học 2009-2010, đã công nhận số trường đạt chuẩn là: 387 trường mầm
non, 213 trường tiểu học (trong đó có 45 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia mức độ
2), 339 trường THCS, 71 trường THPT. Nâng số lượng và tỷ lệ trường đạt chuẩn
quốc gia ở mỗi cấp học lên: 2014 trường mầm non (15,8%); 5469 trường tiểu học

Công tác thiết bị dạy học đã có nhiều tiến bộ, đã có khoảng 90% phòng
học, 66% phòng bộ môn và 71% phòng thiết bị dạy học đáp ứng tốt yêu cầu
phục vụ khai thác, sử dụng và bảo quản thiết bị dạy học. Vĩnh Phúc là đơn vị
tiêu biểu trong việc chủ động đầu tư các phòng học bộ môn (trường THPT Trần
Phú, tỉnh Vĩnh Phúc có 5 phòng học bộ môn Vật Lý, 4 phòng bộ môn Sinh, 4
phòng bộ môn Hóa, 1 phòng thực hành, 2 phòng máy tính và 2 phòng Lab). Công
tác bảo quản, khai thác sử dụng có nền nếp hơn, các trường đều có sổ sách theo dõi
số lượng và số lượt sử dụng thiết bị dạy học, các Sở đều đã tổ chức các lớp tập
huấn cho cán bộ, giáo viên và nhân viên.
Tuy nhiên, vẫn có nơi mua thiết bị muộn, không đúng thủ tục, chưa đảm
bảo chất lượng; đội ngũ giáo viên, viên chức làm công tác thiết bị chưa được
đào tạo chính quy; không được đảm bảo chế độ chính sách.
Sách giáo khoa được phát hành đầy đủ, kịp thời đến các địa phương ngay
trong dịp hè 2009. Với số lượng là 87,8 triệu bản. Đã tổ chức phát hành nhiều
xuất bản phẩm khác như tranh ảnh, bản đồ giáo khoa, băng, đĩa CD giáo khoa, sách
tham khảo các loại, các tạp chí, tập vở học sinh.
Tỷ lệ trường phổ thông có thư viện và tủ sách giáo khoa dùng chung trên
địa bàn cả nước là 24.746/27.541 trường (89,9%), trong đó có 49,3% thư viện
đạt tiêu chuẩn. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam tiếp tục hỗ trợ kinh phí và cử
cán bộ giúp các địa phương tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên
thư viện, tặng sách, thiết bị thư viện trường học. Đến nay SGK và các sản phẩm
giáo dục phục vụ năm học 2010-2011 đã được tổ chức cung ứng đến tất cả các
tỉnh, thành phố.
4.5. Huy động các nguồn lực phục vụ phát triển giáo dục
Tháng 1 năm 2010, Bộ GDĐT đã tổ chức Lễ Tuyên dương các doanh
nghiệp, các nhà hảo tâm đóng góp xuất sắc cho sự nghiệp GDĐT lần thứ hai,
biểu dương, tặng bằng khen của Chính phủ, kỷ niệm chương cho 408 tổ chức,
doanh nghiệp và nhà hảo tâm. Tổng nguồn lực do các doanh nghiệp và các nhà
hảo tâm trong và ngoài nước đóng góp trong vòng 2 năm là: 1.293 tỷ 572 triệu
đồng; 17,856 triệu USD; 276.828 EUR và 167.127 m

trường xây mới
Dự án Phát triển Giáo viên THPT&TCCN đã hoàn thành việc xây dựng
chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học và chuẩn hiệu trưởng trường trung học;
hoàn thành 54 bộ tài liệu cho giáo viên và cán bộ quản lý; bồi dưỡng 1.471 giáo
viên THPT và TCCN; bồi dưỡng 4.831 cán bộ quản lý giáo dục. Cấp 2.340 suất
học bổng cho sinh viên người dân tộc thiểu số được đào tạo thành giáo viên
THPT và TCCN.
Dự án Hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục (SREM) đã hoàn thành việc biên
tập 6 cuốn sách của Bộ Tài liệu dùng cho cán bộ quản lý trường phổ thông in và
phát hành tới 15.000 hiệu trưởng, tập huấn 350 giảng viên cốt cán của 63
tỉnh/thành phố. Các tỉnh đã tập huấn cho 12.928 hiệu trưởng, phó hiệu trưởng,
nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý trên cơ sở thực hiện phương châm
“làm đúng ngay từ đầu”. Dự án đã xây dựng các phần mềm quản lý dùng chung, 63
Sở GDĐT đã được sử dụng 2 phần mềm nâng cấp (PMIS và EMIS).
Dự án Việt - Bỉ mở rộng bồi dưỡng về phương pháp dạy học tích cực,
nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng ra các trường sư phạm và các Sở GDĐT
trong toàn quốc.
18
5. Chăm lo và đầu tư cho phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý giáo dục
Một số địa phương đã chủ động triển khai thực hiện đánh giá, xếp loại
hiệu trưởng, giáo viên theo chuẩn quy định (Lâm Đồng). Hiện nay, dự thảo
Chuẩn nghiệp vụ sư phạm giáo viên TCCN, Chuẩn giám đốc trung tâm giáo dục
thường xuyên, Chuẩn hiệu trưởng trường mầm non, Chuẩn hiệu trưởng trường
tiểu học đang xin ý kiến góp ý, dự kiến ban hành cuối năm 2010.
Quy mô tuyển sinh vào hệ chính quy đại học sư phạm hằng năm từ 22.500
đến 23.000 sinh viên; cao đẳng sư phạm từ 24.500 đến 26.000 sinh viên, đã góp
phần quan trọng trong việc giải quyết tình trạng thiếu giáo viên mầm non, phổ
thông ở các cơ sở giáo dục. Một số tỉnh thực hiện tốt việc tuyển dụng giáo viên
theo Quyết định số 62/2007/QĐ-BGDĐT là Hải Dương, Nghệ An, Quảng Trị.

tác thi đua năm học 2009- 2010, cụ thể như sau:
- Tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và Cờ thi đua của Bộ GDĐT
cho 10 Sở GDĐT đạt thành tích xuất sắc dẫn đầu các vùng thi đua trong năm học;
- Tặng Cờ thi đua của Bộ GDĐT cho 18 Sở GDĐT đạt thành tích xuất
sắc, đứng thứ nhì các vùng thi đua trong năm học;
- Tặng Bằng khen của Bộ trưởng Bộ GDĐT cho 26 Sở GDĐT về thành
tích xuất sắc trong các mặt công tác;
- Khen thưởng 368 lĩnh vực công tác thuộc Sở GDĐT đã hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ.
IV. Đánh giá chung
1. Kết quả nổi bật năm học 2009-2010
1.1. Các cuộc vận động và phong trào thi đua của ngành ngày càng đi
vào chiều sâu và có hiệu quả rõ rệt: năm thứ 4 thực hiện Chỉ thị số 33 của Thủ
tướng Chính phủ tiếp tục được cụ thể hóa với những công việc cụ thể, thiết thực;
phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” sau 2
năm triển khai đã có sức lan tỏa mạnh mẽ với sự huy động sức mạnh tổng hợp
của các lực lượng xã hội, cùng chung tay phối hợp thực hiện giáo dục toàn diện
học sinh; các cơ sở giáo dục đã vận dụng sáng tạo nội dung cuộc vận động "Học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; cuộc vận động “Mỗi thầy
giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” tiếp tục được triển
khai với nhiều hình thức và phương pháp dạy học phù hợp, hiệu quả, mỗi giáo
viên có một đổi mới dạy học, mỗi cán bộ quản lý có một đổi mới trong công tác
quản lý của mình đã bước đầu được triển khai.
1.2. Trong năm qua, Quốc hội, Chính phủ và Bộ GDĐT đã ban hành
nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng về giáo dục. Những văn bản này
phát huy tác dụng điều chỉnh các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, thể chế hoá
các quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển giáo dục trong tình hình mới;
có tác động sâu sắc, nhanh chóng tới việc nâng cao chất lượng tổ chức, hoạt
động giáo dục và đổi mới quản lý giáo dục, tạo hành lang pháp lý căn bản,
không thể thiếu cho việc đẩy mạnh đổi mới quản lý để nâng cao chất lượng giáo

tăng cường.
2. Hạn chế, yếu kém
2.1. Chất lượng giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước; ở
các vùng điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn học sinh yếu kém còn
chiếm tỷ lệ khá cao, việc huy động học sinh ra lớp và duy trì tỷ lệ đi học chuyên
cần vẫn còn nhiều khó khăn; việc phân luồng học sinh THCS và giáo dục hướng
nghiệp chưa hiệu quả.
2.2. Công tác soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật có tiến bộ lớn nhưng
vẫn còn chậm so với kế hoạch và thiếu đồng bộ. Một số địa phương chưa chủ
động trong việc góp ý cho các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật hoặc nghiên
cứu triển khai các văn bản quy phạm pháp luật mới; chưa thực hiện tốt chế độ
báo cáo, thông tin. Công tác cải cách hành chính, ứng dụng CNTT vào quản lý
còn chậm.
2.3. Đa số các địa phương còn thiếu giáo viên tiểu học để đáp ứng yêu cầu
dạy học 2 buổi / ngày. Các vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế xã
hội đặc biệt khó khăn đội ngũ nhà giáo vẫn còn thiếu, cơ cấu đội ngũ chưa đồng
bộ; chất lượng đội ngũ chưa tương xứng với tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn đào tạo;
vẫn còn tình trạng vi phạm đạo đức nhà giáo. Công tác xây dựng quy hoạch,
phát triển đội ngũ chưa được các cấp quản lý quan tâm đúng mức.
21
Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập
vẫn còn nhiều hạn chế; việc ứng dụng CNTT trong dạy học chưa linh hoạt, nhất
là ở vùng sâu, vùng xa việc khắc phục tình trạng dạy học theo cách "đọc chép"
chưa được tích cực chỉ đạo ở nhiều nơi.
2.4. Nhiều trường học chưa đảm bảo vệ sinh, thiếu nước sạch; thư viện
còn nghèo nàn, phòng học bộ môn còn hạn chế về số lượng, chất lượng và hiệu
quả sử dụng còn thấp.
3. Bài học kinh nghiệm
3.1. Để phát triển giáo dục một cách hiệu quả cần nắm vững và vận dụng các
quan điểm: Phát triển giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân từ đó

phát huy các kết quả đạt được sau 4 năm thực hiện Chỉ thị số 33/2006/CT-TTg
ngày 08/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ về chống tiêu cực và khắc phục bệnh
thành tích trong giáo dục; trên cơ sở phát huy những kết quả đã đạt được trong giai
đoạn 2 của Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010, kết quả năm học 2009 -
2010 và căn cứ tình hình thực tế phát triển giáo dục và đào tạo;
Toàn ngành Giáo dục và Đào tạo xác định chủ đề năm học 2010-2011 là
“Năm học tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”, tập trung
thực hiện tốt các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm sau đây:
1. Tiếp tục đổi mới công tác quản lý giáo dục
1.1. Thực hiện tốt hơn quyền chủ động của cơ sở trong phân cấp quản lý
giáo dục và phối hợp quản lý hệ thống giáo dục quốc dân:
- Trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định trách nhiệm của các cấp
quản lý giáo dục nhằm tạo sự phối hợp đồng bộ giữa Bộ GDĐT với UBND các
tỉnh, thành phố và với các bộ ngành khác trong quản lý hệ thống giáo dục quốc
dân, nhất là quản lý các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp.
- Tiếp tục triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 35/2008/TTLT-
BGDĐT-BNV ngày 14/7/2008 của Bộ GDĐT và Bộ Nội vụ trong đó tập trung
thực hiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức
của Sở Giáo dục và Đào tạo. Tăng cường về tổ chức và năng lực của các Sở
GDĐT để giúp UBND tỉnh, thành phố quản lý các trường đại học, cao đẳng trên
địa bàn.
- Các Sở GDĐT nhận xét góp ý công tác chỉ đạo của Bộ trong triển khai
các nhiệm vụ của giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên và
trung cấp chuyên nghiệp. Xây dựng văn bản hướng dẫn thực hiện vào năm học
2011-2012.
1.2. Rút kinh nghiệm và triển khai tốt hơn Thông tư liên tịch số
07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 15/4/2009 về hướng dẫn thực hiện quyền tự
chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế đối với
đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục và đào tạo để thực hiện Nghị định
43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ; Thông tư số 09/2009/TT-

các thủ tục hành chính trong lĩnh vực giáo dục; xây dựng và triển khai thực hiện tin
học hoá công tác quản lý ở các cấp quản lý giáo dục và ở các cơ sở giáo dục và đào
tạo. Đưa vào nền nếp chế độ báo cáo của các cấp quản lý giáo dục từ Bộ tới Sở,
Phòng và cơ sở giáo dục nhằm quản lý thông tin chính xác, kịp thời và đẩy đủ.
Nghiên cứu để thống nhất bộ tiêu chí đánh giá nhà trường đáp ứng đồng thời
các yêu cầu về kiểm định chất lượng, xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích
cực, trường học đạt chuẩn quốc gia, thanh tra toàn diện nhà trường.
1.9. Tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh công tác thanh tra. Tăng cường bồi
dưỡng chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ và thanh tra viên.
Tăng cường các hoạt động thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành ở các
cấp học, ngành học. Tăng cường kiểm tra, quản lý các cơ sở giáo dục và đào tạo
ngoài công lập và có đầu tư nước ngoài. Thực hiện nghiêm túc chương trình của
Bộ về công tác phòng chống tham nhũng theo Đối thợi với các nhà tài trợ quốc
tế lần thứ 7.
1.10. Đổi mới công tác thi đua và đánh giá các lĩnh vực công tác của
ngành theo hướng các Cục, Vụ chức năng của Bộ phải theo dõi, đánh giá các
lĩnh vực công tác phụ trách và là cơ sở quan trọng để các vùng bình xét thi đua.
24
Sửa đổi, bổ sung Thông tư 21/20087/TT-BGDĐT ngày 22/4/2008 về công tác
thi đua, khen thưởng trong ngành. Tiếp tục xây dựng, phát hiện và bồi dưỡng
các nhân tố mới, tuyên truyền và nhân rộng các điển hình tiên tiến; chuẩn bị chu
đáo về mọi mặt để tổ chức thành công Đại hội thi đua yêu nước của ngành vào
tháng 11/2010.
1.11. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác pháp chế, đẩy nhanh
tiến độ hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục. Kiện
toàn, củng cố và phát triển tổ chức pháp chế của ngành từ Bộ đến địa phương;
Triển khai Đề án nâng cao chất lượng công tác phổ biến giáo dục pháp luật
trong nhà trường (Quyết định số 1928/QĐ-TTg ngày 20/11/2009 của Thủ
tướng Chính phủ).
2. Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động giáo dục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status