Trờng THCS Vĩnh Phúc Sáng kiến kinh nghiệm
a - Đặt vấn đề
I - Lời mở đầu
Nh chúng ta đã biết, năm học 2006 2007 đã là năm thứ 5 triển khai dạy học thử
nghiệm chơng trình và sách giáo khoa ngữ văn lớp 7 bậc THCS. Thế nhng tất cả giáo
viên chúng ta mới bớc đầu làm quen, thử nghiệm trên lớp cha nhiều, có lẽ còn gặp rất
nhiều khó khăn, vớng mắc mà không phải ngay một lúc có thể giải quyết đợc.
Bản thân tôi cũng rất trăn trở với câu hỏi làm thế nào để tiếp cận với dung lợng
kiến thức mới, tìm ra một con đờng ngắn nhất đa học sinh đến với tri thức khoa học
nhanh nhất. Với phơng pháp tích cực và tích hợp. Hiện tại chơng trình ngữ văn 7 tiếp nối
phần văn học dân gian ở lớp 6, phần ca dao, tục ngữ, chèo đợc đa vào học. Đây là một
điều kiện thuận lợi để học sinh tiếp cận dòng văn học truyền miệng, giúp các em có tâm
hồn trong sáng hơn, có tình yêu hơn đối với nền văn học dân tộc
Để làm đợc điều đó, với mong muốn bản thân mình cũng nh các thầy giáo, cô giáo
dạy ngữ văn, tìm cho mình một hớng đi thích hợp. Vì vậy tôi đã chọn đề tài: Dạy ca
dao tục ngữ nh thế nào cho tốt ?. Đây chỉ là một vài suy nghĩ nhỏ mà bản thân đã
trải nghiệm qua những tiết dạy trên lớp tất nhiên không thể tránh khỏi điều sai sót, cha
hoàn chỉnh. Song tôi cũng xin đợc mạnh dạn trình bày, để xin ý kiến chỉ đạo của chuyên
môn cũng nh các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp.
II - Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
1/. Thực trạng.
Có thể nói rằng: Ca dao tục ngữ chiếm vị trí khá quan trọng trong chơng trình sách
giáo khoa ngữ văn lớp 7. Số bài (câu) học và đọc thêm khá nhiều, tạm đủ cho học sinh
có thể hình dung đợc 2 thể loại này. Bên cạnh đó, chủ đề của ca dao, tục ngữ khá phong
phú, có khả năng giáo dục t tởng tình cảm và khiếu thẩm mỹ cho học sinh. Đồng thời nó
có khả năng tích hợp với hai phân môn : Tiếng việt và tập làm văn.
Ca dao tục ngữ nói chung là dễ hiểu, nhng chính vì dễ hiểu nên càng khó dạy.
Nhiều bài ca dao tục ngữ đọc lên hiểu ngay. Giáo viên không biết phải giảng giải cái
gì trong đó, học sinh không biết mình phải học cái gì? Nhiều giáo viên đành phải diễn
thành văn xuôi bài ca dao và giải thích nghĩa thuần túy câu tục ngữ nên đã đánh mất vẻ
đẹp vốn có của những áng văn chơng dân gian này. Do vậy, nội dung, t tởng, tình cảm
thuật của các câu tục ngữ.
Từ thực trạng trên, để việc dạy học ca dao, tục ngữ trong nhà trờng có hiệu quả,
đặc biệt muốn cho HS hiểu sâu sắc hơn nội dung mà tác giả dân gian gửi gắm trong ca
dao, tục ngữ, đồng thời giúp các các có thể vận dụng ca dao, tục ngữ trong giao tiếp , tôi
đã mạnh dạn đa ra cách tiếp cận văn bản ca dao, tục ngữ theo hớng có lợi và thiết thực
cho cả ngời dạy và ngời học.
B - Giải quyết vấn đề
I - Các giải pháp thực hiện
1/. Mục tiêu :
Giúp cho giáo viên thấy đợc tính cấp thiết của hệ thống lý thuyết và phơng pháp
của việc giảng dạy ca dao, tục ngữ cho đối tợng là HS lớp 7, từ đó đáp ứng yêu cầu, mục
tiêu của chơng trình.
2/. Nhiệm vụ :
- Xác định các bớc đi cụ thể trong việc dạy một bài ca dao, tục ngữ.
- Thiết kế một giáo án dạy thực nghiệm một bài ca dao trong chơng trình Ngữ văn
7 - Tập 1.
3/. Đối tợng nghiên cứu:
- Nghiên cứu qua thực tế giảng dạy môm Ngữ văn 7.
- Nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ văn 7.
Giáo viên : Bùi Thị Hằng
2
Trờng THCS Vĩnh Phúc Sáng kiến kinh nghiệm
- Nghiên cứu các tài liệu: Phơng pháp dạy - học văn (Nguyễn Văn Bồng), Thiết
kế Ngữ văn 7, Vờ bài tập Ngữ văn 7.
- Đối tợng tham gia : học sinh lớp 7A.
4/. Phơng pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu lí luận.
- Thực nghiệm s phạm (dạy thực nghiệm, khảo sát chất lợng)
- Dự giờ, trao đổi.
II - Các giải pháp cụ thể
không có. Vẻ đẹp của thơ in rõ dấu ấn của cá tính và phong cách nghệ sỹ, còn vẻ đẹp
của ca dao thì hòa tan trong cộng đồng: Nó là vẻ đẹp của cộng đồng.
Giáo viên : Bùi Thị Hằng
3
Trờng THCS Vĩnh Phúc Sáng kiến kinh nghiệm
Với mỗi bài ca dao trong mỗi hoàn cảnh ta có thể có những cách hiểu khác nhau.
Với học sinh Trung học cơ sở ta nên hiểu theo cách nào? Đó là điều giáo viên cần phỉa
suy nghĩ. Bài Trong đầm gì đẹp bằng sen nhằm ca ngợi đầm sen, bông sen hay là một
lời thanh minh, một lời phân bua kín đáo nh có nhà thơ đã phân tích rất sâu sắc, thuyết
phục? ở THCS có lẽ chỉ nên dừng lại ở cách hiểu thứ nhất. Bài Trâu ơi ta bảo trâu này
có ngời cho rằng đối tợng trữ tình là trâu, có ngời lại cho rằng đối tợng trữ tình là ngời
ở. Cũng nh bài trên ở cấp THCS ta nên dừng ở cách hiểu thứ nhất. Tuy nhiên phải để học
sinh cảm nhận lý giải theo năng lực và rung cảm riêng. Và khi đã xác định đợc hớng
hiểu thì ta cũng có thể xác định đợc hớng khai thác.
Ca dao, tục ngữ bắt nguồn từ đời sống tâm hồn của quần chúng lao động nên giáo
viên phải giúp học sinh khai thác đợc khía cạnh tình cảm, cảm xúc của những ngời bình
dân cũng nh những kinh nghiệm mà họ gửi gắm qua lời thơ dân gian với đặc trng nghệ
thuật riêng.
2./ Nội dung của ca dao, tục ngữ - cách hiểu, cảm nhận của giáo viên và học
sinh.
Tục ngữ thiên về trí tuệ, nó đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về lao động sản
xuất, về con ngời và xã hội. Ngời ta ví: Tục ngữ là trí khôn dân gian. Trí khôn đó rất
phong phú và thâm thúy. Chiếm lĩnh cho đợc cái trí khôn ấy thật không dễ dàng. Mặt
khác dù đúc kết kinh nghiệm, tục ngữ vẫn là văn học chứ không phải là khoa học. Dạy
tục ngữ là dạy văn học với phơng pháp phù hợp với đặc trng của phân môn văn học. Tiết
dạy văn bản, tục ngữ vốn khô khăn so với các tiết dạy văn bản biểu cảm, tự sự hay miêu
tả, mỗi câu tục ngữ là một văn bản nghị luận ở dạng cô đọng và ngắn gọn nhất. Giáo
viên phải làm thế nào để học sinh hiểu cái kinh nghiệm đợc đúc kết trong tục ngữ (nhất
là đối với các em học sinh ở thành phố còn rất xa lạ với những kinh nghiệm về thiên
nhiên và lao động sản xuất). Vì vậy, cần phải giải thích nhng giải thích trên bình diện
sáng rõ ý tình đợc gửi gắm trong đó. Bài ca dao Cày đồng đang buổi ban tra tập trung
nói về sự vất vả khó nhọc của công việc đồng áng, cày cấy và nhắc nhở ngời ta phải biết
chú ý đến giá trị của những sản phẩm lao động, biết quý trọng thành quả lao động nhng
không phải là cách nói của: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây/ Ăn gạo nhớ kẻ đâm xay giần
sàng.
3./ Cách su tầm, vận dụng ca dao, tục ngữ
Tục ngữ là giao điểm thú vị của t duy trừu tợng và t duy nghệ thuật; vừa là những
phán đoán làm cơ sở cho lập luận lại vừa là bài thơ ngắn nhất; vừa là phát ngôn phong
phú về nội dung, vừa là văn bản nhỏ nhất về kết cấu.
Trong cái mênh mông xô bồ của lời nói, tục ngữ đọng lại nh những kết tinh sáng
chói, ví nh kim cơng trong sa mạc. Vận dụng tục ngữ là điều không khó, nhng gây đợc
ấn tợng đẹp cũng không thật dễ dàng. Nhiều khi dùng đợc một câu xác đáng, ngời nói
cảm thấy nh một phát hiện và ngời nghe có khoái cảm nh đợc nghe một bài thơ hay.
Vì vậy để tìm hiểu giá trị của sự vận dụng tục ngữ, tiêu biểu ở 2 phong cách ngôn
ngữ khác nhau của 2 nhà thơ và nhà văn hóa lớn: Nguyễn Du và Hồ Chí Minh. Một sự
gặp gỡ rất tình cờ nhng cũng có lý do của nó:Nếu Nguyễn Du đa tục ngữ vào thơ rất
thành công thì Hồ Chí Minh vận dụng tục ngữ vào văn chính luận rất linh hoạt khiến cho
lý lẽ vừa sắc bén vừa nhuần nhị lại vừa đại chúng, dễ hiểu đối với mọi ngời.
Về lứa tuổi dùng tục ngữ, lứa tuổi thiếu nhi, thiếu niên hầu nh cha dùng tục ngữ
nhng a thích cách nói vần vè và đã có những sáng tạo theo kiểu nói đó.
Ví dụ:- Thua là vua chia bài
- Mách lẻo dẻo môi, lôi lên đình, trình ông lý, ký vào sổ, tống cổ vào nhà
giam.
Lứa tuổi thanh niên, nhiều nhất là học sinh, sinh viên: ăn truyền thống, sống tinh
thần; Nớc giọt gianh, canh s phạm.
Lứa tuổi trung niên trở lên vận dụng tục ngữ tùy môi trờng, tùy hoàn cảnh và sự a
thích, thói quen nói năng.
ở ngời già giàu kinh nghiệm thờng là nói ít nhng đã nói là chắc nh đinh đóng
cột, hay dùng tục ngữ vào việc răn dạy con cháu, khuyên bảo mọi ngời.
Giáo viên : Bùi Thị Hằng
với chúng ta nh: cây đa, bến nớc, con thuyền, mái đình, mận, đào, trúc, mai. Có những
môtíp xuất hiện trong một số lợng lớn lời ca dao nh môtíp con thuyền, môtíp chiều
chiều. Đó là một hiện tợng đặc thù của ca dao, không thể không chú ý, và việc tiếp cận
ca dao trong hệ thống môtíp là điều không thể thiếu trong việc tìm hiểu bình giá tác
phẩm. Phải đặt môtíp của tác phẩm cần tiếp cận trong hệ thống môtíp đó thì mới thấy
hết giá trị mỹ học và hàm lợng ngữ nghĩa của nó, từ đó mà hiểu đúng, hiểu sâu tác
phẩm. Nếu tách nó ra khỏi hệ thống, thì cách hiểu sẽ phiến diện, thậm chí có khi còn sai
lệch.
Khi hớng dẫn học sinh su tầm, vận dụng ca dao, giáo viên cần mở rộng những kiến
thức đó cho học sinh. Có thể bằng hình thức nh tìm những câu ca dao mở đầu bằng cụm
từ: thơng thay , chiều chiều , thân em nh , su tầm những câu tục ngữ áp dụng vào
hai phân môn Tiếng việt và Tập làm văn (Rút gọn câu, từ láy, văn biểu cảm) để cuối
Giáo viên : Bùi Thị Hằng
6
Trờng THCS Vĩnh Phúc Sáng kiến kinh nghiệm
cùng học sinh có thể vận dụng tục ngữ vào lời ăn tiếng nói, biết vận dụng ca dao, tục
ngữ vào đời sống.
III - Các biện pháp để tổ chức thực hiện
1/. Tiến trình dạy - học của tác phẩm ca dao tục ngữ theo thi pháp, thể loại.
a/. Bớc 1 : Học sinh đọc tác phẩm, giáo viên nhận xét, uốn nắn cách đọc cho học
sinh.
Khác với đọc ca dao là khi đọc tục ngữ phải đọc rõ ràng, ngắt nghỉ theo nhịp kèm
theo những biểu hiện về thái độ, cử chỉ, giọng điệu sao cho truyền đợc những nhận xét,
đúc kết. Khi đọc cần chú ý đến ngữ điệu từng câu, chú ý đến nghệ thuật hòa đối của tục
ngữ.
Còn khi đọc ca dao, cần lu ý giọng điệu của các nhân vật trữ tình để thể hiện cảm
xúc và thái độ tình cảm đối với tác giả và đối với vấn đề đặt ra trong tác phẩm, truyền đ-
ợc cảm xúc và thái độ tình cảm của mình và của tác giả dân gian đến ngời nghe.
b/. Bớc 2 : Giáo viên hớng dẫn học sinh phát hiện các yếu tố nghệ thuật đặc trng
của tác phẩm (tức là phát hiện các yếu tố thi pháp thể loại có trong tác phẩm).
thuật, giáo viên hớng dẫn HS bình luận về giá trị của câu tục ngữ, giá trị về nội dung, chỉ
rõ sự ảnh hởng quyết định của môi trờng và giá trị về nghệ thuật đúc kết từ cách dùng
hình ảnh, cách so sánh, cách nói năng đăng đối đã cụ thể hóa một phán đoán một suy
luận và đã tạo nên sức mạnh ghi sâu vào trí nhớ của con ngời, của các em học sinh.
Với tính cách dân ca trữ tình, ca dao mang một đặc điểm nổi bật, đó là lối nói trữ
tình trò chuyện. Dù ở dạng nào thì nhân vật trữ tình trong ca dao cũng đang giãi bày tâm
sự, bộc lộ nỗi niềm với một ngời nào đó hoặc giả đó là lời tự tình thì cũng nhằm giãi bày
với ngời khác. Bởi vậy việc tìm hiểu xác định nhân vật trữ tình cùng với việc xác định
đối tợng trữ tình là việc làm cần thiết đầu tiên khi tìm hiểu, phân tích một bài ca dao.
Đây là lời nói của ai với ai? Ai là ngời đợc nhân vật trữ tình trong bài ca dao giãi bày
tâm sự? Lời nói đó là lời nói gì? Nói nh thế nào? Đó là những câu hỏi rất cần thiết khi
dạy một bài ca dao.
d/. Bớc 4 : Giáo viên hớng dẫn học sinh tổng kết, đánh giá tác phẩm về nội dung
và nghệ thuật.
Cuối cùng, giáo viên hớng dẫn HS đặt các câu ca dao, tục ngữ trong một chỉnh thể
của cả bài học để đánh giá đợc hai mặt trên. Đặt bài ca dao, tục ngữ vào hệ thống ta sẽ
xác định hớng tiếp cận, nó sẽ gợi mở cho ta điều mà tác giả dân gian gửi gắm, từ đó mà
rút ra ý nghĩa của toàn bài.
Ví dụ 1 :
Khi dạy bài : Những câu hát than thân (Ngữ văn 7 tập 1, trang 48) tôi đã tiến
hành dạy trên lớp nh sau:
a/. Đọc :
Giáo viên hớng dẫn học sinh đọc với giọng thông cảm xót xa:
Thơng thay thân phận con tằm
Kiếm ăn đợc mấy phải nằm nhả tơ
Thơng thay lũ kiến tí ti
Kiếm ăn đợc mấy phải đi tìm mồi
Thơng thay hạt cánh đờng mây
Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi
Thơng thay con cuốc giữa trời
d/.Tổng kết đánh giá câu tục ngữ.
Về nội dung ý nghĩa và cách nói nghệ thuật.
Ví dụ 3 :
ở bài ca dao : Những câu hát về tình yêu quê hơng, đất nớc, con ngời khi dạy bài
số 2 tôi cũng dẫn dắt học sinh đi theo quy trình trên.
a/. Đọc :
Một học sinh đọc lại bài ca dao thứ 2 với giọng mời gọi.
Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn.
Đài Nghiên, Tháp Bút cha tròn
Hỏi ai gây dựng nên non nớc này.
b/. Phát hiện các yếu tố nghệ thuật đặc trng
- Mô tuýp quen thuộc Rủ nhau.
- Đảo trật tự, rút gọn tên Hồ Hoàn Kiếm để phù hợp với vần, luật thơ lục bát.
c/. Phân tích các yếu tố nghệ thuật đó để bật ý nghĩa nội dung.
Rủ nhau : Lời mời, gợi tình yêu tự hào về thủ đô, đất nớc.
Hỏi ai : Câu hỏi tu từ khẳng định công lao của cha ông, nhắc nhở con cháu phải
biết giữ gìn, xây dựng truyền thống dân tộc.
d/. Tổng kết đánh giá bài ca dao về 2 mặt.
Nội dung, ý nghĩa và hình thức nghệ thuật.
2/. Thiết kế thể nghiệm một giờ dạy cụ thể.
Ngữ văn 7 : Tiết 9 - Ca dao, dân ca.
Những câu hát về tình cảm gia đình.
Mục đích yêu cầu : Giúp HS :
Giáo viên : Bùi Thị Hằng
9
Trờng THCS Vĩnh Phúc Sáng kiến kinh nghiệm
- Hiểu đợc khái niệm ca dao, dân ca với những đặc điểm nghệ thuật đặc trng của
thể loại này.
- Hiểu đợc nội dung nghệ thuật, ý nghĩa tiêu biểu của bài ca dao có chủ đề về tình
b/. Phân tích.
Giáo viên tổ chức cho học sinh phân tích từng bài. Cuối cùng tổng kết chung cả 4
bài, giúp cho học sinh có cái nhìn khái quát về nội dung, chủ đề của bài ca dao.
Công việc của giáo viên Công việc của học sinh
Hoạt động 1:
Giáo viên cho học sinh đọc và nêu câu
hỏi.
1/. Đọc :
- Tìm hiểu nghệ thuật, nội dung
và ý nghĩa của bài ca dao 1.
* Học sinh đọc lại bài.
Giáo viên : Bùi Thị Hằng
10
Trờng THCS Vĩnh Phúc Sáng kiến kinh nghiệm
? Bài ca dao 1 là lời nói của ai?
Tại sao em lại khẳng định điều đó
- Giáo viên đọc diễn cảm bài ca dao.
? Em có nhận xét gì về âm điệu bài
thơ? Hình ảnh, ngôn ngữ và thủ pháp nghệ
thuật.
? Bài ca dao đã diễn tả tình cảm gì?
Giáo viên chốt : Thật vậy! Công lao
của cha mẹ là vô tận, không có gì có thể
sánh đợc, đạo làm con phải ghi nhớ và biết
ơn đến công lao sinh thành dỡng dục.
Ngoài bài ca dao trên, em có biết những bài
ca dao nào cũng nói đến công lao của cha
mẹ hãy đọc lên.
Giáo viên nhận xét
Hoạt động 2 :
mẹ.
Học sinh làm việc theo nhóm
cử đại diện.
2/. Tìm hiểu bài ca dao thứ 2 :
Học sinh đọc lại bài ca dao
làm việc độc lập.
- Tâm trạng ngời phụ nữ lấy
chồng xa quê.
- Chi tiết: Chiều chiều thời
gian.
Ngõ sau không gian.
Trông về quê mẹ Hành động.
Ruột đau chín chiều nỗi niềm
Chiều chiều chỉ thời gian.
Chín chiều chín bề (nỗi niềm)
Tức là chín cung bậc tình cảm.
Học sinh làm theo nhóm cử đại
diện trả lời theo cảm nhận.
- Học sinh độc lập làm việc.
Yêu cầu : Tâm trạng của ngời con
gái lấy chồng xa quê, đó là tâm trạng
nhớ thơng, buồn âm thầm sâu lắng,
không biết chia sẻ cùng ai. Tất cả cảnh
tợng trong bài đã chứng minh điều đó.
Giáo viên : Bùi Thị Hằng
11
Trờng THCS Vĩnh Phúc Sáng kiến kinh nghiệm
Giáo viên kết luận : Lời ca dao mộc
mạc, giản dị mà thể hiện một tâm trạng đau
khổ, xót xa nhức nhối vì bao nỗi niềm
- Nuộc lạt sự bền chặt kết nối.
- Bao nhiêu, bấy nhiêu da diết
khôn nguôi.
- Thể thơ lục bát, âm điệu trữ tình
sâu lắng.
- Diễn tả tình cảm kính yêu, nỗi
nhớ tràn đầy của con cháu đối với ông
bà.
4/. Tìm hiểu bài ca dao thứ 4:
Học sinh làm việc theo nhóm
cử đại diện trả lời:
- Tình cảm anh em thân thơng,
ruột thịt.
- Các từ: + Chung, cùng chung,
hòa thuận, vui vầy.
+ Nh thể chân tay so sánh.
- Học sinh độc lập làm việc.
+ Từ ngữ mộc mạc, giản dị, quen
thuộc dễ hiểu, bằng sự diễn đạt so sánh,
thể hiện sự gắn bó ruột thịt, thiêng
liêng của tình cảm anh em.
5/. Tổng kết :
- Học sinh độc lập làm việc:
Nhân vật trữ tình: Ngời mẹ, ngời
con gái lấy chồng xa, ngời cháu, anh
Giáo viên : Bùi Thị Hằng
12
Trờng THCS Vĩnh Phúc Sáng kiến kinh nghiệm
trên là ai?
? Nội dung 4 bài ca dao thể hiện chủ
- Học thuộc khái niệm ca dao dân ca.
- Học thuộc 4 bài ca dao.
- Su tầm những câu ca dao viết về tình cảm gia đình.
- Chuẩn bị cho bài: Những câu hát về tình yêu quê hơng đất nớc, con ngời.
Tóm lại, về phơng pháp cụ thể, trong một tiết phải dạy từ tám đến mời câu tục ngữ
(hoặc ca dao) là hơi nhiều. Theo hớng dẫn học bài của sách giáo khoa thì học sinh phải
giải nghĩa các câu tục ngữ theo ba phần (nghĩa, cơ sở khoa học, ứng dụng), phân tích t t-
ởng chứa đựng trong các câu tục ngữ và nhận xét về cách diễn đạt (nghệ thuật) của tục
ngữ, tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của một bài ca dao. Nếu thiết kế bài dạy cũng theo
ba phần nh vậy sẽ không đủ thời gian và nhận thức của học sinh về từng câu tục ngữ, ca
dao cũng bị tách ra làm ba phần, ảnh hởng đến tính chỉnh thể của một tác phẩm văn học
(dù chỉ một câu, tục ngữ ca dao cũng là một tác phẩm văn học hoàn chỉnh). Có lẽ, hệ
Giáo viên : Bùi Thị Hằng
13
Trờng THCS Vĩnh Phúc Sáng kiến kinh nghiệm
thống câu hỏi trong sách giáo khoa là để học sinh theo đó mà soạn bài, còn khi dạy giáo
viên không nhất thiết phải theo đúng nh vậy.
Để bài dạy đợc tinh chắc, gọn nhẹ và nhất là để học sinh tiếp thu tục ngữ, ca dao
nh là những tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh chúng ta nên thiết kế bài dạy theo đơn vị
từng tác phẩm từng câu tục ngữ, từng câu ca dao và cuối cùng có phần tổng kết
chung để rút ra những nhận xét cần thiết. Nh vậy, theo ý kiến của riêng tôi bài dạy - học
tục ngữ (ca dao) gồm hai phần :
- Phân tích từng câu tục ngữ (ca dao).
- Tổng kết chung.
Phần phân tích từng nhóm câu tục ngữ (ca dao) là phần chủ yếu của tiết dạy, từng
nhóm câu tục ngữ sẽ đợc phân tích theo ba nội dung gắn bó với nhau: nghĩa của câu tục
ngữ (nghĩa đen và nghĩa bóng), t tởng chứa đựng trong câu tục ngữ và nghệ thuật diễn
đạt của dân gian trong câu tục ngữ. Tơng tự nh vậy từng nhóm câu ca dao (tơng đơng
một nhóm bài ca dao) cũng cần đi theo một trình tự: từ việc tìm hiểu nghệ thuật để làm
rõ nội dung, cuối cùng rút ra ý nghĩa của bài ca dao ấy.
Bên cạnh đó, một điều dễ nhận thấy là so với kết quả khảo sát ban đầu, thì việc
vận dụng phơng pháp mới này đã có hiệu quả rõ rệt, HS đã nắm đợc nội dung cũng nh
nghệ thuật của các bài ca dao, tục ngữ ngay trên lớp và biết vận dụng một cách sáng tạo,
biết liên hệ với các bài ca dao, tục ngữ có cùng chủ đề.
II/. Đề xuất.
Nh vậy để góp phần thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của môn Ngữ văn và giúp HS
hiểu đợc nội dung, nghệ thuật của các bài ca dao, tục ngữ trong chơng trình cũng nh có
kỹ năng phân tích một bài ca dao, tục ngữ theo đặc trng thể loại, đặc biệt khơi dậy ở các
em tinh thần yêu quê hơng, đất nớc, con ngời, tôi nghĩ rằng ngời giáo viên cần phải có
vốn ca dao, tục ngữ phong phú. Muốn nh vậy, ngời giáo viên không thể không đọc sách,
nghiên cứu tài liệu để tìm tòi, học hỏi, bổ sung, tích lũy kiến thức cho bản thân. Bên
cạnh đó cần chuẩn bị bài thật chu đáo, phải đầu t, trăn trở, thờng xuyên cập nhật kiến
thức để không ngừng nâng cao chất lợng giờ dạy, đồng thời nâng cao tay nghề, đáp ứng
yêu cầu đổi mới của sự nghiệp giáo dục của nớc nhà.
Sau một thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài, kết quả thu đợc cha thỏa mãn, song
với đề tài mà tôi cho là sáng kiến kinh nghiệm của bản thân, tôi hy vọng sẽ nhận đợc sự
quan tâm và góp ý của đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Vĩnh Phúc, Ngày 15 tháng 03 năm 2007
Ngời thực hiện
Bùi Thị Hằng
Mục lục
A. Đặt vấn đề Trang 1
I. Lời mở đầu Trang 1
II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu Trang 1
B. Giải quyết vấn đề Trang 3
I. Các giải pháp Trang 3
II. Các giải pháp cụ thể Trang 3
III. Các biện pháp tổ chức thực hiện Trang 8