CÂU LẠC BỘ CÁN BỘ TRẺ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Tháng 09/2013
*** TÓM TẮT ĐỀ ÁN
CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ
Phần II.MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 6
1. Đặc điểm và yêu cầu quản lý nhà nước của chính quyền đô thị 6
1.1. Phân loại và cấp quản lý đô thị hiện hành 6
1.2. Sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn 6
1.3. Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của chính quyền đô thị 6
1.3.1. Chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn lãnh thổ 6
1.3.2. Chức năng tự quản của chính quyền đô thị 6
1.4. Đặc điểm, tính chất quản lý nhà nước tại đô thị 7
1.5. Yêu cầu thực tiễn đặt ra cần nghiên cứu mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động đối với
chính quyền đô thị 7
2. Mô hình tổ chức chính quyền tại một số đô thị trên thế giới và tại thành phố Đà
Nẵng qua các thời kỳ 8
2.1. Khái quát một số mô hình chính quyền đô thị các nước 8
2.2. Sơ lược chính quyền thành phố Đà Nẵng qua các thời kỳ lịch sử 9
3. Mục tiêu, yêu cầu và định hướng tổ chức mô hình chính quyền đô thị thành phố Đà
Nẵng 10
3.1. Mục tiêu 10
3.2. Yêu cầu 10
3.3. Định hướng thiết kế mô hình chính quyền đô thị thành phố Đà Nẵng 10
3.3.1. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng 10
3.3.2. Định hướng thiết kế mô hình chính quyền đô thị thành phố Đà Nẵng 11
4. Mô hình tổ chức chính quyền đô thị thành phố Đà Nẵng 11
4.1. Giai đoạn 1: 11
4.1.1. Đối với HĐND thành phố 13
iii
4.1.2. Đối với UBND thành phố 16
4.1.3. Văn phòng đại diện UBND thành phố tại các quận 18
4.1.4. Đối với UBND phường 20
8. Những khác biệt của nội dung Đề án so với các văn bản pháp luật hiện hành 35
Phần III.TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐẢNG, MẶT TRẬN,
ĐOÀN THỂ VÀ CÁC CƠ QUAN TƯ PHÁP TRONG MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐÔ
THỊ 36
1. Tổ chức hoạt động của các tổ chức Đảng các cấp 36
1.1. Các cơ quan tham mưu của Thành ủy 36
1.2. Tổ chức Đảng tại phường, xã 36
1.3. Tổ chức Đảng dưới phường, xã 36
2. Tổ chức Mặt trận và các đoàn thể các cấp 37
3. Tổ chức các cơ quan tư pháp trên địa bàn thành phố 37
Phần IV.TỔ CHỨC THỰC HIỆN 38
iv
1. Kế hoạch triển khai Đề án 38
2. Kiến nghị 39
Phụ lục:
1. Công văn số 5463-CV/VPTW ngày 26 tháng 4 năm 2013 của Văn phòng Trung
ương Đảng về việc chuẩn bị một số nội dung báo cáo Trung ương.
2. Công văn số 1453/VPCP-TCCV ngày 24 tháng 7 năm 2013 của Văn phòng Chính
phủ về việc thí điểm chính quyền đô thị tại thành phố Đà Nẵng.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Bối cảnh và sự cần thiết xây dựng Đề án
- Đà Nẵng là đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương, có vị trí chiến lược quan
cư thành phố, cung ứng dịch vụ công về đất đai, ứng dụng công nghệ thông tin trong
công tác cải cách hành chính, hình thành trung tâm hành chính tập trung, trung tậm
một cửa thành phố Đây là những tiền đề chứng tỏ bước đi đúng hướng và sẵn sàng
cho việc hình thành phương pháp quản lý nhà nước theo mô hình đô thị, hiện đại.
- Việc xây dựng Đề án thí điểm mô hình tổ chức chính quyền đô thị là quá
trình triển khai thực hiện Kết luận số 64-KL/TW (ngày 28/5/2013) Hội nghị lần thứ
Bảy của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới,
hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở”: Nghiên cứu về tổ chức chính
quyền địa phương (có phân biệt tổ chức chính quyền đô thị và chính quyền nông
thôn); đồng thời thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Cán sự Đảng Chính phủ về
xây dựng và trình Đề án thí điểm mô hình chính quyền đô thị trong năm 2013. Trong
bối cảnh Hiến pháp năm 1992 đang được nghiên cứu sửa đổi, việc xây dựng và thực
1
Tỷ lệ hài lòng do cơ quan, đơn vị tự khảo sát đều ở mức cao hàng năm, trên 80% đến 98%; tỷ lệ này được đối chứng
lại qua khảo sát độc lập của Viện Nghiên cứu phát triển Kinh tế - Xã hội thành phố trên một số lĩnh vực trọng điểm, dao
động từ 70% đến 95% khách hàng hài lòng qua từng năm khảo sát (xem chi tiết tại Phụ lục 5).
2
Dẫn đầu trong 3 năm liền 2008-2010.
3
Dẫn đầu 5 năm liên tiếp 2009-2013.
4
Xếp thứ 4 năm 2011; xếp thứ 2 năm 2012.
2
hiện Đề án thí điểm mô hình chính quyền đô thị còn là cơ sở cho việc đề xuất sửa đổi,
bổ sung các quy định trong Hiến pháp về chính quyền địa phương.
Vì vậy, nghiên cứu xây dựng Đề án thí điểm mô hình chính quyền đô thị thành phố
Đà Nẵng là yêu cầu bức xúc của thực tiễn, nhằm nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả
Đề án được xây dựng theo quan điểm từ thực tiễn đến lý luận và kết hợp đặc
điểm riêng, đặc thù của thành phố Đà Nẵng. Phần I
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
1. Đặc điểm vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng
3
1.1. Đặc điểm vị trí địa lý
1.2. Tóm tắt tình hình kinh tế - xã hội
2. Thực trạng bộ máy chính quyền của thành phố Đà Nẵng hiện nay
2.1. Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân (HĐND)
2.1.1. Về tổ chức
Từ tháng 4/2009 thực hiện thí điểm thực hiện không tổ chức HĐND quận,
huyện, phường, thành phố Đà Nẵng chỉ tổ chức HĐND thành phố (50 đại biểu) và
HĐND 11 xã thuộc huyện Hòa Vang (315 đại biểu). HĐND thành phố có 3 Ban: Kinh
tế và ngân sách; Văn hoá - xã hội; Pháp chế. Các đại biểu HĐND thành phố được tổ
chức thành các Tổ đại biểu HĐND theo các quận, huyện. Giúp việc cho hoạt động
của Thường trực và các Ban HĐND thành phố có Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc
hội và HĐND thành phố. Một tổ chức như Phòng Xử lý nhanh thông tin đường dây
nóng
5
,Tổ tham mưu xử lý đơn
6
cũng được thành lập.
2.1.2. Kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND
Qua 4 năm thực hiện các nhiệm vụ bổ sung được giao tại Nghị quyết số
4
thực hiện không tổ chức HĐND ở cả ba tiêu chí gồm: Tính ổn định trong chỉ đạo,
điều hành của cơ quan hành chính; tính tinh gọn của bộ máy cơ quan hành chính; tính
thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong chỉ đạo, điều hành từ UBND thành
phố đến UBND phường, xã. Xem xét tỷ lệ đánh giá với từng tiêu chí, có thể thấy, tiêu
chí về “tính tinh gọn bộ máy cơ quan hành chính” được đánh giá là có sự chuyển biến
tích cực hơn đáng kể (80,6%).
Như vậy, mô hình không tổ chức HĐND quận, huyện, phường là phù hợp với
chính quyền địa phương. Tuy nhiên, vẫn còn một số nhược điểm trong quá trình triển
khai thực hiện như không còn HĐND quận, huyện, phường, lẽ ra UBND được tổ chức
là cấp hành chính, là cánh tay nối dài của UBND thành phố và thực hiện ủy quyền của
cấp trên nhằm thực hiện công tác điều hành được linh hoạt hơn chứ không phải là cấp
ngân sách như hiện nay. Bên cạnh đó, hiện nay Trung ương quy định bổ sung nhiều
nhiệm vụ cho HĐND thành phố khi thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND quận,
huyện, phường nhưng chưa có cơ chế và các quy định để cụ thể hóa làm cơ sở cho
việc thực hiện; trong khi đó lại không bổ sung số lượng đại biểu HĐND, không tăng
đại biểu chuyên trách.
2.2. Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân (UBND)
2.2.1. Về cơ cấu tổ chức
a) Tổ chức bộ máy UBND các cấp:
UBND các cấp được tổ chức theo đúng quy định của Luật Tổ chức HĐND và
UBND năm 2003 và Nghị định số 107/2004/NĐ-CP ngày 01/4/2004 của Chính phủ
quy định số lượng phó chủ tịch và cơ cấu thành viên UBND các cấp.
b) Về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố:
Thực hiện theo Nghị định số 13/2008/NĐ-CP. Đồng thời, thí điểm kiện toàn hệ
thống Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành một cấp thành phố Đà Nẵng trong
quản lý và cung ứng dịch vụ công về đất đai.
c) Về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận, huyện:
nhà nước theo mô hình đô thị, hiện đại.
2.2.3. Những vấn đề còn vướng mắc trong mô hình tổ chức và hoạt động
của bộ máy chính quyền các cấp hiện nay
a) Sự đồng nhất giữa chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn trong hệ
thống pháp luật Việt Nam:
Khung pháp lý hiện hành được quy định chung cho tất cả các cấp, rập khuôn,
cứng nhắc, không phân biệt được sự khác nhau trong tổ chức quyền lực và quản lý
hành chính nhà nước ở đô thị với nông thôn.
b) Những hạn chế của chế độ làm việc tập thể của UBND các cấp:
Cơ chế tập thể UBND và trách nhiệm của Chủ tịch UBND, của các thành viên
UBND chưa rõ ràng; cơ cấu thành viên UBND còn mang nặng tính hình thức và
không phát huy được vai trò. Trong khi đó, yêu cầu quản lý đô thị phải có cơ chế
quản lý nhanh nhạy, kịp thời, dứt khoát.
c) Vai trò của các cơ quan chuyên môn:
Mô hình tổ chức các cơ quan chuyên môn còn rập khuôn, chưa có mô hình
riêng cho đô thị. Quyết định cuối cùng về nhiều lĩnh vực quản lý chuyên ngành đều
do UBND thành phố, quận, huyện quyết định. Nhiều nội dung quản lý chuyên ngành
do phân cấp cho địa phương nên bị cắt khúc; không điều hòa được cả về kinh phí, con
người, nhất là chất lượng công việc, dẫn đến bộ máy công kềnh, hiệu lực, hiệu quả
chưa cao.
d) Quan hệ trung ương - địa phương vừa tập trung vừa phân tán; tạo cơ sở các
biểu hiện “quyền lực ngành” với cơ chế xin - cho, cục bộ địa phương. Nhiều việc
Trung ương không thể quản lý, phần lớn thuộc trách nhiệm của địa phương nhưng khi
địa phương đề nghị thực hiện thì Trung ương lại không cho phép do thiếu quy định,
tạo lúng túng, bó buộc, hạn chế quản lý và phát triển.
e) Phân cấp quản lý thiếu nhất quán, chưa đáp ứng được yêu cầu của xu thế
phát triển: Chính quyền trung ương còn điều hành, xử lý nhiều việc cụ thể của địa
phương làm giảm quyền chủ động sáng tạo của địa phương, không đáp ứng kịp thời
quyền lợi của dân, vừa hạn chế khả năng tự quản, vừa hạn chế hiệu lực và hiệu quả
quản lý tập trung của Nhà nước, đặc biệt trong các lĩnh vực quản lý ngân sách, đầu tư
- Tổ chức thực hiện pháp luật, chính sách của Nhà nước trên địa bàn;
- Kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật, cơ chế, chính sách của công dân, tổ
chức trên địa bàn;
Chức năng này thực hiện dưới 02 hình thức: Phân cấp và ủy quyền:
+ Loại nhiệm vụ quản lý nhà nước theo phân cấp của Trung ương - địa phương,
là những nhiệm vụ được pháp luật quy định của chính quyền đô thị, được giao đủ
thẩm quyền đề thực hiện nhiệm vụ đã được phân cấp.
+ Loại nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ủy quyền. Đây là những nhiệm vụ quản
lý nhà nước của cơ quan nhà nước Trung ương nhưng được ủy quyền cho chính
quyền đô thị thực hiện.
1.3.2. Chức năng tự quản của chính quyền đô thị
- Hướng dẫn và tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để nhân dân thực hiện
nhiệm vụ phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nâng cao đời sống vật chất, văn
hóa, tinh thần;
- Chủ động xây dựng các chính sách riêng của đô thị để tập trung phát triển
kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý đô thị;
7
- Tổ chức thực hiện và mở rộng xã hội hóa dịch vụ công để cung ứng các phúc
lợi công cộng như phát triển kết cấu hạ tầng đô thị, công trình phúc lợi công cộng trên
địa bàn đô thị;
- Phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân địa phương trong việc năng
động, sáng tạo, chủ động huy động các nguồn lực, tự chủ mạnh hơn về tài chính, ngân
sách để xây dựng, phát triển trên mọi lĩnh vực ở địa phương (không do Trung ương
quản lý).
1.4. Đặc điểm, tính chất quản lý nhà nước tại đô thị
- Mỗi đô thị dù lớn hay nhỏ đều chỉ là một đơn vị hành chính, lãnh thổ thống
nhất, các quận, huyện, phường, xã trong nội bộ một đô thị thực chất chỉ là các đơn vị
hành chính thuần túy, có tính quy ước để thực thi công việc quản lý hành chính;
chưa rõ ràng giữa cấp dưới đối với cấp trên, đồng thời thiếu kiểm soát chặt chẽ giữa
cấp trên đối với cấp dưới. Điều này thể hiện trên một số nội dung sau:
8
+ Quan hệ của quan hệ giữa UBND và HĐND cùng cấp, giữa UBND cấp dưới
- cấp trên và với các bộ, ngành còn chồng chéo, trùng lặp, chưa hợp lý;
+ Chế độ làm việc tập thể của UBND đang bộc lộ những hạn chế nhất định,
không phát huy được vai trò , trách nhiệm cá nhân người đứng đầu tổ chức;
+ Việc kiểm tra, giám sát nặng về hình thức, làm thay nhưng lỏng lẻo của cấp
trên đã giảm đi tính năng động, sáng tạo vốn có của địa phương.
c) Vai trò chưa phù hợp và rõ nét của các cơ quan chuyên môn:
Mô hình tổ chức bộ máy cơ quan quản lý nhà nước theo quy định tại hai Nghị
định 13/2008/NĐ-CP và Nghị định 14/2008/NĐ-CP của Chính phủ thống nhất chung
trong cả nước đã tạo ra một hệ thống bộ máy chính quyền rập khuôn, chưa phân biệt
được sự khác nhau trong tổ chức quản lý hành chính nhà nước ở đô thị và nông thôn,
trong khi đặc điểm, tính chất và yêu cầu quản lý ở mỗi địa bàn khác nhau. Do đó, khi
áp dụng mô hình quản lý này, ở các đô thị lớn, trong đó có Đà Nẵng là chưa phù hợp
và hạn chế sự phát triển của đô thị.
Việc thành lập các Sở chuyên ngành vẫn tồn tại những hạn chế trong việc quản
lý chồng chéo, cắt khúc, thiếu tính phối hợp trong công tác quản lý các lĩnh vực xây
dựng kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội với các quy hoạch về phát triển
ngành, quy hoạch không gian đô thị, hạ tầng kỹ thuật đô thị.
Những bất cập của mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương
hiện nay không đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước tại đô thị trong thời kỳ hội nhập và
tạo động lực để thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh và bền vững về kinh tế - xã hội. Vì vậy,
việc nghiên cứu, đề xuất và hình thành mô hình chính quyền đô thị là xu hướng khách
quan trong việc quản lý nhà nước tại đô thị trong thời gian đến.
1.5.2. Việc xây dựng và thực hiện Đề án thí điểm mô hình chính quyền đô thị
còn là cơ sở cho việc đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định trong Hiến pháp 1992 về
hành chính với các chức danh thống đốc, tỉnh trưởng, thị trưởng; huyện trưởng, quận
trưởng; xã trưởng, trưởng thị trấn tương ứng với từng cấp hành chính. Người đứng
đầu cơ quan hành chính các cấp của chính quyền đô thị thường được bầu cử trực tiếp
theo hình thức phổ thông đầu phiếu; hoặc có thể được bầu cử thông qua cơ quan quyết
nghị cùng cấp hoặc có thể do người đứng đầu cơ quan hành chính cấp trên bổ nhiệm.
Người đứng đầu cơ quan hành chính được quyền bổ nhiệm hoặc đề nghị cấp phó,
người đứng đầu các cơ quan chuyên môn trực thuộc để cơ quan đại diện nhân dân
hoặc chính quyền cấp trên quyết định. Người đứng đầu cơ quan hành chính có nhiệm
vụ tổ chức thực hiện tốt các nghị quyết của cơ quan đại diện nhân dân, đồng thời tổ
chức, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện luật pháp, chính sách của nhà nuớc và các quyết
định hành chính của các cơ quan hành chính cấp trên theo cơ chế phân cấp và uỷ
quyền. Mọi hoạt động của người đứng đầu cơ quan hành chính và bộ máy hành chính
giúp việc đều đặt dưới sự giám sát của cơ quan đại diện nhân dân. Mặt khác, người
đứng đầu cơ quan hành chính và bộ máy hành chính giúp việc còn chịu sự kiểm tra,
giám sát trực tiếp của cơ quan hành chính cấp trên.
2.2. Sơ lược chính quyền thành phố Đà Nẵng qua các thời kỳ lịch sử
Trong lịch sử hình thành và phát triển của chính quyền thành phố Đà Nẵng qua
các thời kỳ lịch sử, có nhiều ví dụ rất điển hình về tổ chức chính quyền đô thị như:
- Về mô hình tổ chức chính quyền đô thị 2 cấp: Trong giai đoạn 1945-1954:
theo Sắc lệnh số 77 ngày 21/11/1945 của Hồ Chủ tịch: ở thành phố trực thuộc Trung
ương, chỉ tồn tại 2 cấp là cấp thành phố và cấp khu phố. Cấp thành phố có HĐND và
UB hành chính, cấp khu phố chỉ có UB Hành chính. (được ghi nhận trong Hiến pháp
1946 và kéo dài đến 1959)
- Về thực hiện chế độ thủ trưởng cơ quan hành chính thành phố (Đốc lý,
Thị trưởng):
+ Giai đoạn 1888-1901: chính quyền Đà Nẵng áp dụng quy chế thị xã, tương tự
như các thành phố ở Pháp. Đứng đầu thành phố là một Đốc lý do Toàn quyền Đông
Dương bổ nhiệm. Về đại diện nhân dân, có Hội đồng Thị xã gồm một Chủ tịch và 6
Nghị viên.
+ Trong giai đoạn 1946 - 1954 (theo mô hình cai trị của thực dân Pháp): Tòa
khả năng quản lý điều hành của các cấp chính quyền hiệu quả và cấp trên có cơ chế rõ
ràng để tạo điều kiện pháp lý trong hoạt động.
- Quá trình triển khai phải có bước đi phù hợp, không nóng vội, chủ quan, duy ý
chí và chuẩn bị nghiêm túc để không làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ thường xuyên của
chính quyền các cấp hiện nay, không tạo nên tâm lý gây trì trệ trong hoạt động của bộ
máy hành chính nhà nước.
3.3. Định hướng thiết kế mô hình chính quyền đô thị thành phố Đà Nẵng
3.3.1. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng đến năm
2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1866/QĐTTg ngày
08/6/2010 đã định hướng phát triển thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô
thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế - xã hội của miền Trung với vai trò là trung tâm
dịch vụ, cảng biển, đầu mối giao thông quan trọng về vận tải và trung chuyển hàng hoá
trong nước và quốc tế; trung tâm bưu chính viễn thông và tài chính - ngân hàng; một trong
những trung tâm y tế, văn hoá - thể thao, giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ cao của
miền Trung; là địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh của khu
11
vực miền Trung và của cả nước. Đến năm 2020, GDP bình quân đầu người đạt 4.500
- 5.000 USD; dân số khoảng 1,38 triệu người, trong đó, dân số thành thị chiếm
khoảng 92%. Đà Nẵng phấn đấu trở thành một thành phố có môi trường đô thị văn
minh và giàu tính nhân văn, có thiên nhiên trong lành và đời sống văn hóa cao, làm
giàu bằng kinh tế tri thức; một trong những thành phố hài hòa, thân thiện, an bình;
một thành phố hấp dẫn và đáng sống.
3.3.2. Định hướng thiết kế mô hình chính quyền đô thị thành phố Đà Nẵng
- Chính quyền đô thị là cấp chính quyền hoàn chỉnh; có cơ quan đại diện nhân
dân và cơ quan hành chính; có tư cách pháp nhân; có ngân sách riêng; cơ cấu tổ chức
bộ máy và nhân sự để triển khai thực hiện nhiệm vụ; tự quản tự chủ thực hiện các nội
dung theo phân cấp của chính quyền trung ương (tên gọi cụ thể sẽ được phân tích, đề
HĐND và UBND) gồm cấp thành phố và cấp xã (11 xã thuộc huyện Hòa Vang). Riêng
quận, huyện, phường thực hiện không tổ chức HĐND, đồng thời UBND quận, huyện,
12
phường có sự điều chỉnh về mặt vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức
bộ máy và phương thức hoạt động.
Trong giai đoạn đầu tiên khi thực hiện mô hình chính quyền dô thị, UBND các
quận, huyện sẽ được tổ chức lại thành Văn phòng đại diện UBND thành phố tại khu
vực (Trong giai đoạn này, phạm vi đại diện có thể bố trí theo địa giới hành chính của 7
quận, huyện như hiện nay). Riêng UBND huyện Hoàng Sa vẫn tiếp tục được tổ chức như
hiện nay nhằm phối hợp chặt chẽ với việc cơ quan chuyên môn thành phố chuyên trách
về công tác biển và hải đảo để tiếp tục duy trì công tác đấu tranh, bảo vệ chủ quyền lãnh
thổ.
UBND phường sẽ là cơ quan đại diện của UBND thành phố tại phường (thực hiện
cơ chế thủ trưởng hành chính), được UBND thành phố ủy quyền để thực hiện chức năng
quản lý hành chính - lãnh thổ trên địa bàn và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên
môn thành phố khác.
UBND xã là cơ quan chấp hành của HĐND xã, đồng thời là cơ quan hành chính
thực hiện chức năng quản lý hành chính, lãnh thổ trên địa bàn xã.
Mô hình chính quyền đô thị thành phố Đà Nẵng trong điều kiện tình hình
hiện nay (bước đang thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường) như sau:
Tuy vậy, trên cơ sở những tiền đề “chín muồi” về xây dựng chính quyền đô thị ở
Đà Nẵng, tốc độ đô thị hóa cao (khoảng 90%), và đặc biệt là 11 xã của thành phố đã
đáp ứng cơ bản các tiêu chuẩn của đô thị, thành phố kính đề xuất Trung ương cho
phép chuyển đổi các xã thành phường hoặc cho phép 11 xã này được thực hiện như
4.1.1. Đối với HĐND thành phố
- Về vị trí, vai trò: là cơ quan do nhân dân bầu ra, đại diện cho ý chí và
nguyện vọng của nhân dân thành phố, hoạt động theo quy định của pháp luật mang
tính chất tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao trước nhân dân thành phố và cơ quan nhà
nước cấp trên.
- Về chức năng, nhiệm vụ:
+ Về chức năng: Với vai trò là cơ quan đại diện cho nhân dân thành phố,
HĐND thực hiện hai chức năng chính đó là:
_ Chức năng quyết nghị những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát
triển kinh tế xã hội của thành phố, những vấn đề quan trọng, tác động trực tiếp đến
người dân trên cơ sở đảm bảo quyền tự chủ đô thị và quy định pháp luật;
_ Chức năng giám sát việc thực hiện Nghị quyết và hoạt động của các cơ
quan hành chính trên địa bàn thành phố.
HĐND
THÀNH PHỐ
UBND THÀNH PHỐ
UBND PHƯỜNG
(Cơ chế thủ trưởng)
Văn phòng đại diện UBND
thành phố tại khu vực
(Quy mô theo quận hiện nay)
Bầu ra
Bổ nhiệm
Ghi chú:
14
phường, xã. Có thể đề xuất chọn 01 trong 2 phương pháp xác định số lượng đại biểu
HĐND thành phố trong mô hình mới như sau:
Phương pháp 1: Số lượng đại biểu HĐND thành phố được quy định theo
pháp luật hiện hành (50 đại biểu), bên cạnh đó, trên cơ sở không tổ chức HĐND quận,
huyện, phường, xã, đề xuất tăng số lượng đại biểu HĐND thành phố tương ứng với
địa bàn mỗi khu vực quận, huyện là 1-2 đại biểu, riêng huyện Hòa Vang (không quá 3
đại biểu), tăng thêm 10 - 15 đại biểu thuộc Ban Quản lý đô thị. Với cách tính này, số
lượng đại biểu HĐND thành phố sẽ là từ 70 đến 80 đại biểu (không vượt quá 85 đại
biểu theo quy định của Trung ương, đồng thời đảm bảo số lượng hợp lý để thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của HĐND thành phố).
Phương pháp 2: Số lượng đại biểu HĐND thành phố được tính trên cơ sở số
dân, tương ứng với tỉ lệ 12.000 - 15.000 người dân/đại biểu. Như vậy, với quy mô dân
15
số thành phố hiện nay thì HĐND thành phố sẽ có từ 65-80 đại biểu. Như vậy, thành
phố sẽ từ 70 - 80 đại biểu HĐND thành phố.
Cả 2 phương án đều tương đối thống nhất ở kết quả xác định số lượng đại biểu
HĐND thành phố đồng thời đều đặt ra yêu cầu tăng hợp lý số đại biểu hoạt động
chuyên trách, thường xuyên từ 8 đại biểu như hiện nay (gồm 2 Thường trực và 6 lãnh
đạo của 3 Ban) lên ít nhất là 1/3 tổng số đại biểu HĐND thành phố. Như vậy, dự kiến
sẽ có tổng cộng vào khoảng từ 23 - 26 đại biểu HĐND thành phố chuyên trách (chiếm
hơn 1/3 tổng số đại biểu). Cơ cấu đại biểu HĐND chuyên trách được phân bổ hợp lý
tại Thường trực HĐND, các Ban và các Tổ đại biểu HĐND thành phố tại các khu
vực.
Bên cạnh đó nghiên cứu triển khai việc tách Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc
hội và HĐND thành phố hiện nay thành hai cơ quan độc lập là Văn phòng Đoàn đại
biểu Quốc hội và Văn phòng HĐND thành phố nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động
của Văn phòng HĐND thành phố.
Mô hình tổ chức HĐND thành phố cụ thể như sau:
Thường trực HĐND thành phố:
CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH (UV THƯỜNG TRỰC)
Ban Pháp chế
Ban Kinh tế -
Ngân sách
Tổ đại biểu
(theo khu vực)
Văn phòng
Đoàn ĐBQH
và HĐND TP
Ban Đô thị
16
* Như vậy, với việc xác định rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức
cũng như phương thức hoạt động của HĐND thành phố trong mô hình chính
quyền đô thị, có thể thấy:
- HĐND thành phố được xác định rõ hơn vị trí là cơ quan đại diện của nhân
dân thành phố
- Nhiệm vụ của HĐND thành phố được bổ sung tăng cường để phù hợp với
tính chất tự chủ của chính quyền đô thị thành phố. Trên cơ sở đó đề xuất Trung ương
phân cấp thêm một số quyền hạn để đảm bảo thực hiện tốt hơn quyền tự chủ của địa
phương nhằm phát triển kinh tế-xã hội đô thị, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người
dân, có thể chủ động huy động các nguồn lực phục vụ cho phát triển thành phố.
- Cơ cấu tổ chức của HĐND thành phố được tăng cường cả về lượng và chất
đủ để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, nhưng vẫn đảm bảo tính tinh gọn, phù hợp hơn
với mô hình chính quyền đô thị.
- Việc tiếp nhận ý kiến của cử tri sẽ được trực tiếp đến cơ quan có thẩm quyền
Trên cơ sở các nhiệm vụ hiện hành theo quy định tại Luật Tổ chức HĐND và
UBND năm 2003 và bổ sung khi triển khai thí điểm không tổ chức HĐND quận,
huyện, phường (gồm 85 nhiệm vụ được trình bày chi tiết tại Phụ lục 17), nhiệm vụ
của UBND thành phố được xác định rõ lại; một số nội dung ủy quyền cho các cơ quan
chuyên môn để tự chịu trách nhiệm quản lý chuyên ngành; đồng thời bổ sung thêm
một số nhiệm vụ, quyền hạn nhằm phát huy tính tự quản chính quyền địa phương.
Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu, phân định rõ các nội dung bắt buộc phải
đưa ra bàn và quyết định tập thể của UBND thành phố, những nội dung còn lại được
quy định thuộc nhiệm vụ của Chủ tịch UBND thành phố, nhằm tăng cường vai trò của
người đứng đầu cơ quan hành chính thành phố.
+ Về tổ chức và phương thức hoạt động
UBND thành phố, đứng đầu là Chủ tịch UBND thành phố do HĐND thành
phố bầu ra (kết quả bầu cử do Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn). Ngoài ra, UBND
thành phố gồm có Phó Chủ tịch và Ủy viên do HĐND thành phố bầu trên cơ sở đề
nghị của Chủ tịch UBND thành phố. Các Phó Chủ tịch được Chủ tịch phân công thực
hiện quản lý một số lĩnh vực tương ứng với việc phân chia các nhóm cơ quan chuyên
môn thành phố như đô thị, kinh tế, văn hóa xã hội… (được trình bày chi tiết tại phần
tổ chức và hoạt động của các cơ quan chuyên môn thành phố).
Cơ cấu tổ chức UBND thành phố có thể lựa chọn 1 trong hai mô hình sau:
Mô hình 1: UBND thành phố gồm: Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Ủy viên thư
ký.
Mô hình 2: UBND thành phố gồm: Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, các Ủy viên là
người đứng đầu một số cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố (như hiện nay).
Trên cơ sở nguyên tắc thiết kế UBND thành phố phù hợp với chính quyền
đô thị, đề xuất nên chọn mô hình 1:
Về việc cơ cấu chức danh Ủy viên thư ký, có thể lựa chọn một trong 2 phương
án như sau:
Ủy viên thư ký đồng thời là Chánh Văn
phòng UBND thành phố
- Ưu điểm: giữ nguyên tính ổn định như mô
hình hiện tại, nhiệm vụ của Ủy viên thư ký
có nhiều nội dung phù hợp với vị trí, vai trò
của CVP;
- Khó khăn: gây áp lực và yêu cầu rất cao
đối với chức danh CVP. Không tách biệt rõ
giữa vai trò thành viên Ủy viên UBND và
vai trò người đứng đầu cơ quan hành chính,
tổng hợp giúp việc cho UBND. Khi đưa vào
sử dụng Trung tâm hành chính, nhiệm vụ
của Văn phòng về việc quản trị, hành chính
đối với tòa nhà sẽ là rất lớn. Bên cạnh đó,
Chánh Văn phòng về cũng có vị trí, vai trò
tương đương như người đứng đầu như Thủ
trưởng các cơ quan chuyên môn khác, nên
việc thay mặt UBND thành phố điều phối
hoạt động chung của các cơ quan chuyên
môn theo yêu cầu quản lý đặt ra.
Cơ cấu riêng một Ủy viên thư ký thuộc
UBND thành phố
Ủy viên thư ký UBND TP có vị trí pháp lý,
thảm quyền đầy đủ hơn so với Giám đốc sở,
ngành.
Ủy viên thư ký sẽ có thẩm quyền điều phối
hoạt động giữa các cơ quan chuyên môn và
Văn phòng UBND thành phố nhằm đáp ứng
sẽ không thực hiện các nhiệm vụ của UBND quận, huyện trong mô hình cũ do được
chuyển một phần cho các cơ quan chuyên môn thành phố để đảm bảo tính chất xuyên
suốt, thống nhất về ngành, lĩnh vực trên toàn địa bàn thành phố (tập trung vào những
lĩnh vực hiện nay đang phải chia cắt thẩm quyền quản lý theo ngành và lãnh thổ: đất
đai, quy hoạch xây dựng, đầu tư, giải tỏa, bồi thường, hạ tầng kỹ thuật, y tế, giáo
dục…), đồng thời một phần được chuyển sang phường xã thực hiện.
Nhiệm vụ của các Văn phòng đại diện UBND thành phố tại các khu vực chủ
yếu là thực hiện các thẩm quyền về công tác hành chính, quản trị và đại diện giám sát
của UBND thành phố đối với hoạt động của các chi nhánh các cơ quan chuyên môn
thành phố và các phường được tổ chức tại khu vực mình phụ trách (phù hợp với
phương án bố trí địa điểm làm việc của chi nhánh các cơ quan chuyên môn thành phố
tập trung tại Trung tâm hành chính quận, huyện hiện nay nhằm tối ưu hóa về mặt
quản trị hành chính, tiết kiệm chi phí hành chính).
- Về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động
Văn phòng đại diện UBND thành phố tại các khu vực hoạt động theo cơ chế
thủ trưởng hành chính, đứng đầu là Giám đốc Văn phòng đại diện do Chủ tịch UBND
thành phố bổ nhiệm, ngoài ra còn có các Phó Giám đốc do Giám đốc Văn phòng đại
diện đề xuất Chủ tịch UBND thành phố bổ nhiệm. Giám đốc Văn phòng đại diện
UBND thành phố tại các khu vực có bộ phận tham mưu, giúp việc do Chủ tịch UBND
thành phố quyết định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và biên chế công chức trên
cơ sở đề nghị của Giám đốc Văn phòng đại diện.
Một số phòng chuyên môn thực hiện chức năng quản lý chuyên ngành của
UBND quận, huyện trong mô hình cũ hiện nay sẽ chuyển sang trực thuộc các cơ quan
chuyên môn thành phố hoặc mô hình chi nhánh của các cơ quan chuyên môn thành
phố tại khu vực để đảm bảo tính quản lý chuyên ngành thống nhất, xuyên suốt, không
bị cắt khúc trên địa bàn thành phố. Tùy theo tính chất quản lý chuyên ngành, có thể
thiết kế chi nhánh tại khu vực cho phù hợp và đảm bảo hiệu quả quản lý (Không nhất
thiết thành phố có cơ quan chuyên môn nào thì khu vực sẽ có chi nhánh tương ứng).
Như vậy, trong giai đoạn này: các cơ quan chuyên môn giúp việc của Giám đốc
Văn phòng đại diện của UBND thành phố tại khu vực sẽ bao gồm: Văn phòng, một số
+ UBND phường được hoạt động theo cơ chế thủ trưởng hành chính, đứng
đầu là Chủ tịch UBND phường do Chủ tịch UBND thành phố bổ nhiệm, ngoài ra còn
có các Phó Chủ tịch do Chủ tịch UBND phường đề xuất Chủ tịch UBND thành phố
bổ nhiệm.
+ Chủ tịch UBND phường có phận tham mưu, giúp việc do Chủ tịch UBND
thành phố quyết định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và biên chế công chức trên
cơ sở đề nghị của Chủ tịch UBND phường.
Giám đốc
Phó Giám đốc
Phó Giám đốc
Bộ phận hành chính và
các công chức theo dõi
chuyên ngành trực tuyến
Các phòng chuyên môn tổng
hợp: Tài chính - Kế hoạch, Nội vụ,
Tư pháp, Thanh tra
21
- Mô hình tổ chức của UBND phường như sau: 4.1.5. Tổ chức các cơ quan chuyên môn thành phố
Các cơ quan chuyên môn thành phố (các sở, ngành) trong mô hình chính quyền
đô thị được UBND thành phố ủy quyền thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo
ngành, lĩnh vực, tức là chuyển từ chức năng tham mưu sang chức năng quản lý, chịu
trách nhiệm trước pháp luật và UBND thành phố về ngành, lĩnh vực phụ trách. Mục
tiêu của việc tổ chức lại các cơ quan chuyên môn (quản lý theo chiều dọc) là nhằm
đảm bảo tính quản lý tập trung, thống nhất, thông suốt trên toàn địa bàn thành phố;
quản lý đa ngành, đa lĩnh vực hướng đến từng nhóm nhiệm vụ (nhà, đất, giao thông, y