Tiểu luận luật kinh doanh CÁ NHÂN KINH DOANH HỘ KINH DOANH - Pdf 18

33
Cá nhân Kinh doanh & Hộ Kinh doanh GV: LS.TS. Trần Anh Tuấn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
  
Bài tiểu luận:
CÁ NHÂN KINH DOANH & HỘ KINH DOANH
• Lớp MBA11B
• Thành viên nhóm 1:
1. Hồ Quang Thạnh
2. Lê Thị Phương Hằng
3. Phùng Thị Mỹ Hằng
4. Diệp Mưu Trung
5. Mai Cơng Thắng
Nhóm 1
33
Cá nhân Kinh doanh & Hộ Kinh doanh GV: LS.TS. Trần Anh Tuấn
MỤC MỤC
Lời nói đầu 3
PHẦN A: CÁ NHÂN KINH DOANH
MỤC MỤC 2
I. KHÁI NIỆM 5
II ĐỐI TƯỢNG 5
III DANH MỤC HÀNG HĨA ĐƯỢC PHÉP KINH DOANH 6
IV. PHẠM VI VỀ ĐỊA ĐIỂM KINH DOANH CỦA CÁ NHÂN HOẠT ĐỘNG
THƯƠNG MẠI 7
V. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁ NHÂN KINH DOANH 8
VI. TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG CỦA CÁ NHÂN HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI 10
1.Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong quản lý nhà nước đối với cá nhân hoạt động thương
mại 10

nghiệp đó thật sơ sót nếu chúng ta khơng bàn đến vai trò đóng góp đáng kể của Cá
nhân Kinh doanh và Hộ Kinh doanh trong cơng cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất
nước.
Hàng ngày chúng ta đều bắt gặp những hình ảnh thân quen: gánh hàng bán
dạo, những xe đẩy hàng rong trên những nẻo đường từ phố thị đến làng q, các cửa
hàng lớn có nhỏ có mua bán, kinh doanh nhộn nhịp từ thành thị đến nơng thơn, mà ít
ai biết được, hoặc suy nghĩ vai trò đóng góp của họ cho tổng thể nền kinh tế nước nhà
như thế nào?
Nhóm 1
33
Cá nhân Kinh doanh & Hộ Kinh doanh GV: LS.TS. Trần Anh Tuấn
Chính lẽ đó mà ngay cả một vị chun gia tư vấn chiến lược cho chính phủ -
ơng Bùi Kiến Thành đã nhận định vai trò của những cá nhân kinh doanh này đóng
góp một phần đáng kể vào GDP của quốc gia. Cũng theo ơng thì con số hơn một triệu
người đang thực hiện mua bán những gánh hàng rong trên mọi nẻo đường của đất
nước. Mỗi người trong số họ chỉ cần số vốn ít ỏi từ 200,000 – 300,000 đồng trong
một ngày mua bán họ đã kiếm được khoảng lời 50,000 đồng /ngày, điều này đồng
nghĩa họ có được một tỷ suất lợi nhuận bình qn 20% , quả thật đây là con số rất hấp
dẫn với các doanh nghiệp .
Theo nguồn tin từ VN Express con số thống kê đối với Hộ Kinh doanh cũng
đóng một vai trò khá lớn trong tổng thể nền kinh tế chúng ta. Hộ Kinh doanh đã góp
phần vào GDP của đất nước một con số khá thú vị là đạt tới 13%, đây khơng phải là
con số nhỏ. Nhưng theo chúng tơi con số cá nhân kinh doanh cũng như sự đóng của
hộ kinh doanh trong thực tế chưa thống kê đầy đủ. Nó còn lớn hơn thế nữa chứ khơng
phải dừng lại ở mức đó.
Chính vì vậy chúng ta cần phải nhìn thấy vai trò đóng góp của thành phần kinh
tế này vào tổng thể nền kinh tế quan trọng như thế nào. Từ đó cần phải có một lộ trình
chính thức cho hoạt động kinh doanh này của họ, tức là “Cá nhân Kinh doanh và Hộ
Kinh doanh “ để họ n tâm kinh doanh, hoạt động nhằm cải thiện cuộc sống cá nhân,
gia đình và đóng góp cho nền kinh tế đa thành phần của nước ta ngày càng phát

6. Các hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xun khơng phải đăng ký
kinh doanh khác.
III DANH MỤC HÀNG HĨA ĐƯỢC PHÉP KINH DOANH
1. Cá nhân hoạt động thương mại được phép kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ
theo quy định của pháp luật, trừ các loại hàng hóa, dịch vụ sau đây:
a) Hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh theo quy
định của pháp luật – tham khảo điểm a khoản 1 điều 4 Nghị định 59/2006/NĐ
– CP ngày 12/6/20006.
b) Hàng lậu, hàng giả, hàng khơng rõ xuất xứ, hàng q thời hạn sử dụng, hàng
khơng bảo đảm điều kiện vệ sinh an tồn thực phẩm theo quy định của pháp
luật; hàng khơng bảo đảm chất lượng, bao gồm hàng mất phẩm chất, hàng kém
chất lượng, hàng nhiễm độc và động, thực vật bị dịch bệnh;
c) Hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh theo
quy định của pháp luật - tham khảo điểm b khoản 1 điều 4 Nghị định
59/2006/NĐ – CP ngày 12/6/20006
2. Trường hợp kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch
vụ kinh doanh có điều kiện, cá nhân hoạt động thương mại phải tn thủ các quy
định của pháp luật có liên quan đến việc kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ
này. Tham khảo điểm c khoản 1 điều 4 Nghị định 59/2006/NĐ – CP ngày
12/6/20006.
Nhóm 1
33
Cá nhân Kinh doanh & Hộ Kinh doanh GV: LS.TS. Trần Anh Tuấn
3. Cá nhân hoạt động thương mại phải tn thủ pháp luật về thuế, giá, phí và lệ phí
liên quan đến hàng hóa, dịch vụ kinh doanh. Trường hợp kinh doanh thực phẩm và
dịch vụ ăn uống, cá nhân hoạt động thương mại phải bảo đảm đủ các điều kiện
theo quy định của pháp luật về vệ sinh an tồn thực phẩm đối với việc kinh doanh
loại hàng hóa, dịch vụ này.
4. Nghiêm cấm cá nhân hoạt động thương mại gian lận trong cân, đong, đo, đếm và
cung cấp các thơng tin sai lệch, dối trá hoặc thơng tin dễ gây hiểu lầm về chất

tuyến đường, địa điểm cấm sử dụng làm địa điểm kinh doanh theo quy định từ
điểm a đến điểm h khoản 1 Điều này nhưng khơng được sự đồng ý của tổ chức,
cá nhân đó hoặc khu vực đó có biển cấm cá nhân thực hiện các hoạt động
thương mại.
2. Nghiêm cấm cá nhân hoạt động thương mại chiếm dụng trái phép, tự ý xây dựng,
lắp đặt cơ sở, thiết bị, dụng cụ thực hiện các hoạt động thương mại và trưng bày
hàng hóa ở bất kỳ địa điểm nào trên đường giao thơng và nơi cơng cộng; lối ra
vào, lối thốt hiểm hoặc bất kỳ khu vực nào làm cản trở giao thơng, gây bất tiện
cho cộng đồng và làm mất mỹ quan chung.
3. Trường hợp tiến hành hoạt động thương mại ở các khu vực, tuyến đường hoặc phần
vỉa hè đường bộ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy hoạch hoặc cho phép
sử dụng tạm thời thì ngồi việc tn thủ quy định của Nghị định này, cá nhân hoạt
động thương mại phải bảo đảm thực hiện theo đúng quy hoạch và sự cho phép đó .
4. Cá nhân hoạt động thương mại phải tn thủ mệnh lệnh hợp pháp của người thi
hành cơng vụ trong trường hợp được u cầu di chuyển hàng hóa; phương tiện,
thiết bị, dụng cụ thực hiện các hoạt động thương mại để tránh làm cản trở hoặc tắc
nghẽn giao thơng trong trường hợp khẩn cấp hoặc vì lý do an ninh và các hoạt
động xã hội khác theo quy định của pháp luật.
V. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁ NHÂN KINH DOANH.
1. Quyền
Theo điều 5 Nghị định số 39/2007/NĐ-CP, ngày 16 tháng 03 năm 2007:
“Cá nhân hoạt động thương mại được phép kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ
theo quy định của pháp luật, "
Nhóm 1
33
Cá nhân Kinh doanh & Hộ Kinh doanh GV: LS.TS. Trần Anh Tuấn
Cá nhân có quyền lựa chọn hình thức, lĩnh vực kinh doanh, tự do giao kết hợp
đồng và các quyền khác phù hợp với quy định của pháp luật.
2. Nghĩa vụ
Theo Điều 7 Nghị định số 39/2007/NĐ-CP, ngày 16 tháng 03 năm 2007 của Chính

e) Sử dụng các phương tiện di chuyển, thiết bị, dụng cụ thực hiện các hoạt động
thương mại khơng bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật, an tồn, vệ sinh, ảnh hướng xấu
đến mỹ quan chung;
f) Đổ chất thải, phóng uế bừa bãi; vứt hoặc để các phương tiện di chuyển, thiết bị,
dụng cụ thực hiện các hoạt động thương mại, bao bì và dụng cụ gói, đựng hàng
khác, giấy, rác, hàng hóa, chất béo, mỡ động vật và các đồ vật khác ra đường giao
thơng, xuống sơng, cống rãnh hoặc bất kỳ khu vực nào gây ơ nhiễm mơi trường,
làm cản trở lưu thơng, gây bất tiện cho cộng đồng;
g) Nấu ăn, ngủ, nghỉ ở phần đường bộ dành cho người và phương tiện tham gia giao
thơng; lối đi, chiếu nghỉ cầu thang nhà chung cư; nhà chờ xe bt; nơi hoạt động
văn hóa, giải trí, vui chơi cơng cộng làm ảnh hường xấu đến mỹ quan chung và
trật tự, an tồn xã hội;
h) Lợi dụng trẻ em, người tàn tật để thực hiện các hoạt động thương mại.
VI. TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG CỦA CÁ NHÂN HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
1. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong quản lý nhà nước đối với cá
nhân hoạt động thương mại.
Theo Điều 8 nghị định số 39/2007/NĐ-CP, ngày 16 tháng 03 năm 2007 của Chính phủ
Giao Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp xã)
chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý các hoạt động thương mại của cá nhân hoạt động
thương mại trên địa bàn theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.
Cụ thể bao gồm các cơng việc sau đây:
a) Lập sổ theo dõi cá nhân hoạt động thương mại trên địa bàn quản lý (bao gồm cá
nhân hoạt động thương mại cư trú trên địa bàn và cá nhân ở nơi khác thường
xun đến địa bàn quản lý hoạt động thương mại) và tình hình hoạt động, chấp
hành pháp luật của các đối tượng này.
b) Tun truyền, phổ biến chủ trương, chính sách và quy định pháp luật liên quan về
quản lý cá nhân hoạt động thương mại tới đối tượng trực tiếp thực hiện, cán bộ
quản lý và tồn thể nhân dân trên địa bàn.
c) Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý, các tổ chức và cá nhân có thẩm quyền

a) Các Bộ ngành trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm
hướng dẫn cụ thể việc thực hiện quản lý nhà nước về các hoạt động thương mại
của cá nhân hoạt động thương mại theo quy định của Nghị định này.
b) Bộ Thương mại có trách nhiệm theo dõi, giám sát việc thực hiện Nghị định này.
c) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh (gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp huyện) thực hiện việc quản lý nhà nước về
các hoạt động thương mại của cá nhân hoạt động thương mại tại địa phương theo
hướng dẫn và phân cấp của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên. Cụ thể bao gồm
các cơng việc sau đây:
Nhóm 1
33
Cá nhân Kinh doanh & Hộ Kinh doanh GV: LS.TS. Trần Anh Tuấn
- Chỉ đạo, hướng dẫn và đơn đốc, kiểm tra Ủy ban nhân dân cấp dưới trong việc
thực hiện các quy định về quản lý hoạt động thương mại của cá nhân hoạt động
thương mại trên địa bàn;
- Xây dựng quy hoạch và kế hoạch, phân cơng trách nhiệm, phân cấp quản lý hoạt
động thương mại của cá nhân hoạt động thương mại trên địa bàn;
- Kịp thời đưa ra các giải pháp tổ chức hoạt động thương mại và hình thức quản lý
phù hợp, bảo đảm hoạt động bình thường của các khu vực, tuyến đường, địa điểm
cấm hoặc cho phép cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại;
- Xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân hoạt động thương mại vượt thẩm
quyền của Ủy ban nhân dân cấp dưới;
- Định kỳ hoặc đột xuất tổng hợp, báo cáo theo u cầu của cơ quan quản lý nhà
nước cấp trên về tình hình phát triển, tổ chức, quản lý và hoạt động của cá nhân
hoạt động thương mại tại địa phương; kiến nghị các vấn đề liên quan đến việc
quản lý hoạt động của các đối tượng này.
d) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cơ quan được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ủy quyền
quy định thời gian và chỉ đạo việc lắp đặt biển cấm cá nhân thực hiện các hoạt
động thương mại tại các khu vực, tuyến đường theo quy định tại điểm h khoản 1
Điều 6 Nghị định này.

b) Vi phạm về địa điểm kinh doanh của cá nhân hoạt động thương mại
Theo quy định của pháp luật, vỉa hè là để cho người đi bộ. Thế nhưng, thực
tế rất nhiều đoạn vỉa hè bị lấn chiếm cơng khai, đẩy
Việc vỉa hè bị lấn chiếm, đẩy người đi bộ xuống lòng lề đường làm tăng
nguy cơ tai nạn giao thơng. Điển hình là trường hợp bà Nguyễn Thị Sanh, ngụ P.4,
Q.Gò Vấp, buổi tối đi bộ ở Cơng viên Gia Định, do tránh những “qn ăn di
động” trên vỉa hè đường Hồng Minh Giám đã bị xe máy đâm gãy chân, chấn
thương ở đầu, phải nằm viện hơn một tháng.
Trở lại Cơng viên Gia Định vào tối cuối tuần đầu tháng 7, chúng tơi nhận
thấy tình trạng hàng qn lấn chiếm lòng lề đường Hồng Minh Giám ngày càng
trầm trọng. Người dân thường đến vui chơi tại cơng viên này nhiều lần chứng kiến
những hình ảnh cười ra nước mắt. Khi bị bảo vệ cơng viên đẩy đuổi, những người
bán hàng rong chỉ cần di chuyển hàng qn xuống đường là bảo vệ khơng làm gì
được. Bi hài hơn, khi bị lực lượng của P.3, Q.Gò Vấp đuổi thì họ chạy sang phía
bên P.9, Q.Phú Nhuận và ngược lại rồi đứng… cười. Cứ thế, việc đẩy đuổi như
trò… “cút bắt”!
Theo Nghị định số 34 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thơng đường bộ, hành vi chiếm dụng đường phố để kinh doanh
dịch vụ ăn uống; bày bán hàng hóa, kinh doanh, bn bán, giữ xe… có thể bị phạt
từ 20 đến 30 triệu đồng. Tại TP.HCM, việc quản lý lề đường được giao cho các
địa phương, với rất đơng các lực lượng xử phạt hành vi lấn chiếm như cảnh sát trật
Nhóm 1
33
Cá nhân Kinh doanh & Hộ Kinh doanh GV: LS.TS. Trần Anh Tuấn
tự, cơng an phường, thanh tra xây dựng quận - phường… nhưng thực trạng lấn
chiếm lòng lề đường vẫn gây nhiều bức xúc.
Ai cũng hiểu vì cuộc sống mưu sinh cả, nhưng hàng qn mà cứ bày bán
kín cả vỉa hè gây mất ANTT, làm ảnh hưởng đến cuộc sống dân sinh thì khơng ai
chấp nhận được. Tối đến người dân chúng tại khu phớ muốn đi bộ thì người ta đã
bày bán hàng kín hết cả vỉa hè, khơng còn lối mà đi. Rất nhiều lần người dân kiến

- Chưa lập sổ theo dõi cá nhân hoạt động thương mại trên địa bàn quản lý (bao
gồm cá nhân hoạt động thương mại cư trú trên địa bàn và cá nhân ở nơi khác
thường xun đến địa bàn quản lý hoạt động thương mại) và tình hình hoạt
động, chấp hành pháp luật của các đối tượng này, nếu có cũng chỉ là hời hợt và
vơ trách nhiệm.
- Chưa tun truyền, phổ biến chủ trương, chính sách và quy định pháp luật liên
quan về quản lý cá nhân hoạt động thương mại tới đối tượng trực tiếp thực
hiện, cán bộ quản lý và tồn thể nhân dân trên địa bàn.
- Chưa phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý, các tổ chức và cá nhân có
thẩm quyền và trách nhiệm trong việc quản lý cá nhân hoạt động thương mại
trên địa bàn.
- Chưa triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch và phân cơng trách nhiệm quản
lý hoạt động thương mại cụ thể của cá nhân hoạt động thương mại trên địa bàn
theo hướng dẫn và phân cấp của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên.
- Chưa thơng báo cơng khai, rộng rãi các khu vực, tuyến đường, địa điểm cấm
hoặc cho phép cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại, nếu như có thơng
báo hay biển cấm thì chỉ để dó khơng thực hiện triệt để.
- Chưa triển khai thực hiện các giải pháp tổ chức hoạt động thương mại và hình
thức quản lý phù hợp, bảo đảm hoạt động bình thường của các khu vực, tuyến
đường, địa điểm cấm hoặc cho phép cá nhân thực hiện các hoạt động thương
mại; bảo đảm an ninh, an tồn cho các hoạt động hợp pháp của cá nhân hoạt
động thương mại trên địa bàn quản lý.
- Chưa thực hiện các giải pháp tổ chức, quản lý bảo đảm cho cá nhân hoạt động
thương mại tn thủ đúng các quy định về phạm vi hoạt động được quy định
trong Nghị định này; khơng tự ý bố trí sắp xếp và để cho cá nhân thực hiện các
hoạt động thương mại tại các khu vực, tuyến đường, địa điểm bị cấm theo quy
định của Nghị định này. Việc thực hiện các quy định của pháp luật về thuế, phí
và lệ phí đối với cá nhân hoạt động thương mại trên địa bàn quản lý còn rất
lỏng lẻo.
Nhóm 1

nghiêm việc bn bán hàng rong. Với những đối tượng vi phạm nhiều lần, phường
tạm thu giữ tang vật và xử phạt hành chính
Cần nhiều lần chỉ đạo lực lượng thường xun tuần tra các địa điểm khu vực
cấm bn bán và có xử phạt hành chính để tránh tình trạng bày bán hàng rong diễn ra.
Thời gian tới. Chính qùn các địa phương cần tăng cường lực lượng thanh tra, cơng
an phường để tuần tra và kiên quyết xử lý nghiêm những trường hợp cố tình vi phạm.
Nhóm 1
33
Cá nhân Kinh doanh & Hộ Kinh doanh GV: LS.TS. Trần Anh Tuấn
Tại mỡi chính qùn địa phương cần họp và triệu tập các cá thể kinh doanh để
trùn đạt kiến thức về ḷt kinh doanh cá thể, cũng như giải đáp các thắc mắc của họ
để có những biện pháp hữu hiệu nhất.
Nhưng giải pháp hữu hiệu nhất vẫn là tìm cách bố trí những khu vực riêng biệt
để cá nhân kinh doanh có thể ổn định kinh doanh.
Nhưng nói đi cũng phải nói lại
Hàng rong khơng chỉ có cái ăn, cái uống. Nó còn phục vụ đủ các nhu cầu của
người mua. Hễ có mua là có bán. Bán tận tay, bán kịp thời. Người mua là dân ít tiền
thì người bán cũng là dân nghèo khó. Người mua cần món gì thì người bán sẽ đáp ứng
ngay. Một cơ hội giao thương nhanh chóng diễn ra. Khơng cần mặt bằng tốn tiền
th, khơng cần chi phí trang trí, quảng cáo trên báo, đài. Khơng bandrole, tờ bướm,
khơng cần đèn chớp đỏ, chớp xanh. Khơng phải nộp thuế gì hết. Và thuờng người bán
cũng khơng nói thách nhiều.
Đa số người bán loại này là dân từ các vùng q nghèo khổ, lên thành phố mưu
sinh độ nhật, và cũng là loại người bn bán bị chính quyền "hốt" nhiều nhất vì vi
phạm trật tự lòng lề đường. Đã khổ càng thêm khổ. Vốn liếng đã ít lại nhiều nguy cơ
mất trắng vì khơng có tiền nộp phạt để lấy lại tài sản, hàng hóa kinh doanh (thực chất
chỉ là cái xe đạp cũ mèm, hay gióng gánh, xoong nồi, chẳng đáng bao nhiêu tiền so
tiền phạt). Loại hàng rong này lại là ngun nhân gây mất vệ sinh, ơ nhiễm mơi
trường. Thậm chí khơng phải là hàng thực phẩm nhưng cũng góp phần lây truyền
bệnh như bán quần áo cũ.

của phường chạy qua (có lẽ chỉ những q độc giả lứa tuổi trung niên trở lên mới có
thể liên tưởng đến danh từ “xe cây” hồi trước 1975), thì “hàng rong cao cấp” vẫn bình
chân như vại, chỉ “hàng rong tép riu”, “hàng rong nhái bén” nếu khơng nhanh mắt,
nhanh tay tém dẹp lẹ thì chắc chắn hàng hóa, phương tiện bán hàng sẽ được hân hạnh
lên xe cây về nghỉ ngơi ở kho tang vật. Bán hàng lấn chiếm lề đường thì phải bị tịch
thu, mặc dù có khi cái lề đường rộng mênh mơng, miếng nilon trải ra bày bán chỉ vỏn
vẹn 1 mét vng. Nhưng vẫn là vi phạm. Cái đáng nói ở đây là hàng rong cao cấp.
Khách bộ hành phải “xuống đường” chen chân cùng xe cộ dập dìu, vì lề đường để
dành cho bàn, ghế, dù .thậm chí nắp cống cũng bị xây bít để khách ăn khơng bị mùi
mêtan xộc vào mũi. Mưa lớn, nước mưa khơng có đường rút, đường biến thành sơng
là vì thế !
Bán hàng rong cò con như trên chẳng ai làm giàu được, chỉ cầu mong có chén
cơm, bát cháo sống qua ngày, bán để kiếm chút đồng lời làm người lương thiện, để
tránh cảnh “bần cùng sinh đạo tặc”. Chỉ mong sao nhà nước tạo nhiều cơng ăn việc
làm hay tạo lập nơi chốn cho người cùng khổ bn bán hợp pháp trong hồn cảnh q
khốn khó này.
Thay cho lời kết, chúng tơi xin nêu kinh nghiệm quy hoạch những gánh hàng
rong của một số nước châu Á để chúng ta có thể tham khảo:
Ở Malaysia, chính phủ đã hình thành kế hoạch về người bán hàng rong từ năm
1990. Theo đó, thành phố Kula Lumpur đưa người bán rong vào các trung tâm và chợ
Nhóm 1
33
Cá nhân Kinh doanh & Hộ Kinh doanh GV: LS.TS. Trần Anh Tuấn
để họ bn bán ổn định và được cấp giấy phép; người bán hàng rong được vay vốn để
nâng cấp phương tiện bán hàng và tổ chức huấn luyện để cung cấp kiến thức về vệ
sinh an tồn thực phẩm. Còn tại thành phố Calcutta của Ấn Độ, chương trình nâng
cao chất lượng và sự an tồn thức ăn bán hàng rong của Viện Vệ sinh và y tế cơng
cộng đã giúp thành phố quản lý tồn bộ và nâng cấp hàng rong nhờ vào những biện
pháp sau: Người bán hàng rong được hội những người bán hàng rong cấp một thẻ
chứng nhận có dán ảnh; người bán hàng rong được phép bán trên các lề đường do

Cá nhân Kinh doanh & Hộ Kinh doanh GV: LS.TS. Trần Anh Tuấn
PHẦN B: HỘ KINH DOANH
I. KHÁI NIỆM, ĐỐI TƯỢNG, QUY MƠ:
1. Khái niệm:
Theo điều 49 của Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 cuả Chính phủ:
“Hộ kinh doanh do một cá nhân là cơng dân Việt Nam hoặc một nhóm người
hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng
khơng q mười lao động, khơng có con dấu và chịu nghĩa vụ bằng tồn bộ tài sản
của mình đối với hoạt động kinh doanh”
2. Đối tượng:
Đối tượng của hộ kinh doanh bao gồm:
- Cá nhân
- Nhóm người
- Hộ gia đình
Khi tiến hành hoạt động kinh doanh cá nhân hoặc chủ hộ gia đình hay người đại diện
của nhóm sẽ đứng ra thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với hộ kinh doanh
3. Qui mơ của Hộ Kinh doanh:
Nhóm 1
33
Cá nhân Kinh doanh & Hộ Kinh doanh GV: LS.TS. Trần Anh Tuấn
Chính từ khái niệm về Hộ kinh doanh, chúng ta thấy rằng Hộ Kinh doanh có qui mơ
nhỏ, khơng được mở văn phòng đại diện hay chi nhánh mà chỉ kinh doanh tại địa
điểm đã đăng ký. Hộ Kinh doanh được quyền th mướn lao động nhưng khơng
vượt q 10 người.
II. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA HỘ KINH DOANH
1. Quyền:
- Quyền lựa chọn ngành nghề, mặt hàng kinh doanh phù hợp với điều kiện và khả
năng của mình miễn sao nó nằm trong khn khổ pháp luật cho phép.
- Quyền đăng ký kinh doanh và được nhà nước bảo hộ hoạt động kinh doanh hợp pháp:
Theo điều 50 của Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ:

2. Điều kiện được cấp giấy chứng nhận hộ kinh doanh:
Theo điều 52 của Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 cuả Chính phủ:
a) Ngành, nghề kinh doanh khơng thuộc danh mục ngành, nghề cấm kinh doanh;
b) Tên hộ kinh doanh dự định đăng ký phù hợp quy định tại Điều 56 Nghị định này;
c) Nộp đủ lệ phí đăng ký theo quy định.
Nếu hồ sơ khơng hợp lệ, trong 5 ngày làm việc (từ ngày nhận hồ sơ, cơ quan ĐKKD
phải thơng báo rõ nội dung cần sửa, bổ sung bằng văn bản cho người thành lập hộ kinh
doanh.
3. Quyền khiếu nại khiếu nại, tố cáo khi khơng được cấp Giấy chứng nhận đăng ký
hộ kinh doanh
Nếu sau thời hạn nhận ĐKKD mà hộ kinh doanh khơng nhận được Giấy CNĐK hoặc
khơng nhận được thơng báo u cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ thì người đăng ký hộ kinh
doanh có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật.
IV. CHUYỂN ĐỊA ĐIỂM, TẠM DỪNG VÀ CHẤM DỨT KINH DOANH
1. Chuyển địa điểm kinh doanh:
Khi muốn chuyển địa điểm, hộ kinh doanh phải nộp lại giấy CNĐKKD cho cơ
quan quản lý cấp huyện đã cấp và đồng thời tiến hành ĐKKD tại nơi đặt địa điểm mới.
Nếu chuyển địa điểm trong cùng huyện thì hộ kinh doanh phải làm thủ tục
thơng báo để được cấp giấy CN đăng ký kinh doanh mới.
2. Tạm dừng kinh doanh:
Theo điều 55 của Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 cuả Chính phủ:
“ Trường hợp tạm ngừng kinh doanh từ ba mươi ngày trở lên, hộ kinh doanh
thơng báo với cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đã đăng ký kinh doanh và
cơ quan thuế trực tiếp quản lý. Thời gian tạm ngừng kinh doanh khơng được q một
năm”
Nhóm 1
33
Cá nhân Kinh doanh & Hộ Kinh doanh GV: LS.TS. Trần Anh Tuấn
3. Chấm dứt kinh doanh:
Theo điều 55 của Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 cuả Chính phủ:

phải là thường xun , chưa kể cán bộ phường xã vì cả nể hay mối quan hệ địa
phương nên cũng chưa quyết tâm trong từng trường hợp nên vẫn có khe hở cho
việc này.
Kiến nghị:
Cán bộ xã , phường có chức năng trong việc này cần phải có phương thức cũng như
cách thức quản lý vấn đề này mà từng bước động viên khuyến khích , giải thích để họ
hiểu hơn về việc chuyển lên DNTT hay cơng ty .v.v.
3/ Theo điều 49 của Nghị định 43/2010/ND-CP.
- Đối với hộ gia đình sản xuất nơng , lâm , ngư v.v. khơng phải đăng ký kinh doanh
trừ trường hợp kinh doanh ngành nghề có điều kiện.
- Điều này khơng ổn cho người đầu tư vào lĩnh vực chăn ni gia súc gia cầm và
thủy sản nước ngọt. Vì trước đó 3 năm, 5 năm thì cấp phép cho hộ kinh doanh
hoạt động kinh doanh. Họ đã bỏ ra tiền tỷ đầu tư trang trại làm ăn, nhưng sau đó
mọi thứ biến đổi và họ bị xếp vào loại ảnh hưởng mơi trường, nên khơng cấp phép
hoạt động lại. Việc này đã làm tổn thất to lớn cho người chăn ni với khối tài sản
khổng lồ, bên cạnh đó sẽ bất tiện về thủ tục xin vay ưu đãi sản suất nơng nghiệp sẽ
khơng được tạo điều kiện giải quyết từ ngân hang do lấy đâu ra giấy phép kinh
doanh mà khai báo v.v., dẫn tới thiếu vốn bổ sung mở rộng sản suất
Kiến nghị :
Địa phương phải có chiến lược qui hoạch từ đầu một cách dài hạn, nhưng vì
thẩm quyền cấp huyện cấp phép cho hộ kinh doanh, nên quyền hạn, nhân lực khơng
đủ lớn để xây dựng chiến lược qui hoạch cụ thể, bền vững để hộ kinh doanh khơng bị
tổn thất như vậy. Nên chăn những hộ kinh doanh chăn ni và thủy sản khi cấp huyện
cấp phép nên chăng linh hoạt phối hợp với cấp tỉnh để quiu hoạch vùng chăn ni bền
vững cho họ.
4/ Theo điều 50 của Nghị định 43/2010/ND-CP.
- Cá nhân, hộ gia đình tại khoản 1 điều này chỉ được đăng ký một hộ kinh doanh
trong phạm vi tồn quốc
- Điều này sẽ làm hạn chế tính phát triển của hộ kinh doanh.
Kiến nghị :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status