TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(31).2009
1
BÀN VỀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ VỐN ODA Ở VIỆT NAM
DISCUSSION ON ODA CAPITAL MANAGEMENT OF VIET NAM
Hồ Hữu Tiến
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Nhiều quốc gia đã thu hút, vận động và sử dụng vốn Hổ trợ phát triển chính thức (ODA)
khá hiệu quả. Song không ít quốc gia lại là bài học không thành công về quản lý vốn ODA. Hơn
25 năm qua, Việt Nam đã có được những thành công đáng kể trong lĩnh vực này: đầu tư bằng
vốn ODA chiếm khoảng 12% tổng vốn đầu tư xã hội, 28% vốn đầu tư từ NSNN, 50% vốn tín
dụ
ng đầu tư phát triển của Nhà nước. Nhưng đồng thời cũng nổi lên nhiều bất cập đòi hỏi
Chính phủ và Quốc hội phải quan tâm đúng mức
ABSTRACT
Many countries attracted, mobilised and managed Official Development Assistance
(ODA) capital efficiently. But some other countries were not successful in ODA management.
For more than 25 years, Viet Nam has got some remarkable success in this field: ODA capital
investment makes up about 12% of total social investment capital, 28% of investment capital
from the national budget, 50% of development investment credit of the government. However,
there exist many problems demanding the attention of the Government and the national suitably
reasonably
1. Đặt vấn đề
Vốn ODA là một phần của nguồn tài chính chính thức mà Chính phủ các nước
phát triển và các tổ chức đa phương dành cho các nước đang phát triển nhằm hỗ trợ phát
triển kinh tế và phúc lợi xã hội các quốc gia này. Vốn ODA bao gồm tất cả các khoản
viện trợ không hoàn lại, có hoàn lại và vay ưu đãi; trong đó phần viện trợ không hoàn
thức, Quyết định số 181/2007/QĐ-TTg ngày 26/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về
Quy chế cho vay lại từ nguồn vốn vay, viện trợ nước ngoài của Chính phủ), tổ chức
nhiều Hội thảo chuyên đề về ODA, thực thi các biện pháp kiểm soát nguồn ODA v.v…)
Những nỗ lực từ cả 2 phía các nhà tài trợ và Chính phủ Việt Nam đã đạt những
kết quả quan trọng. Từ 1993 đến 2005, Việt Nam đã thiết lập quan hệ với hơn 50 nhà tài
trợ song phương và đa phương cùng 350 tổ chức Chính phủ với hơn 1500 chương trình
dự án. Tình hình nợ của khu vực công nói chung và nợ ODA nói riêng trong giai đoạn
2002- 2006 ( số liệu cuối năm) được phản ánh qua bảng sau:
Bảng Tình hình nợ công và nợ ODA của Việt Nam giai đoạn 2002 -2006
Chỉ tiêu ĐVT 2002 2003 2004 2005 2006
1- GDP Tỷ.đ 535762 613443 715307 839211 974266
2-Tổng nợ công
a-Nợ trong nước
b-Nợ nước ngoài
Trong đó: nợ ODA
Nợ ODA quy đổi ngoại tệ
Tỷ.đ
Tỷ.đ
Tỷ.đ
Tỷ.đ
Tr.USD
179100
34728
144372
133173
8683
249419
71829
177590
166191
13,56
12,59
38,08
12,86
19,80
4,18
56,62
33,03
5,95
6,22
11,42
43,38
14,48
24,26
3,21
56,18
34,06
6,08
5,15
10,89
43,82
14,52
25,38
2,26
54,54
32,69
5,60
5,31
10,94
15,84
79,54
20,,46
81,35
18,65
4-Tỷ trọng trên GDP
- Của nợ công
- Của nợ ODA
%
33,43
24,86
40,66
27,09
43,59
27,72
43,52
23,84
36,91
22,94
(Số liệu xử lý lại từ các nguồn: Bulletin External Debt của Bộ Tài chính 2007, Đề án
“Hoàn thiện khuôn khổ thể chế quản lý nợ của Việt Nam” cuả Bộ Tài chính 2008)
Trong giai đoạn 2002- 2006, bình quân hằng năm nợ ODA tăng 12,53%, trong
khi đó tốc độ tăng tương ứng của GDP (theo giá thực tế) là 16,13%, nên tỷ trọng nợ
ODA/GDP giảm dần, đến cuối năm 2006 tỷ trọng này gần 23%. Nếu tính cả các khoản
nợ khác của khu vực công, tỷ trọng này gần 37%, nằm trong giới hạn tỷ lệ nợ an toàn
cho phép của quốc gia. Trong các Chính phủ tài trợ ODA, Nhật Bản, Cộng hòa Pháp và
Liên bang Nga là nhiều nhất, đặc biêt là Chính phủ Nhật Bản. Riêng Liên bang Nga do
Các khoản nợ nước ngoài nói chung và nguồn vay nợ ODA nói riêng hiện tại
đảm bảo trong giới hạn an toàn cho phép; có lãi suất, thời hạn và đồng tiền vay hợp lí.
Nguồn vay nợ nước ngoài trong đó có ODA là nguồn tài chính quan trọng bổ
sung cho ngân sách nhà nước, đảm bảo cho đầu tư phát triển, tăng trưởng kinh tế, đầu tư
cơ sở hạ tầng, giải quyết các vấn đề về an sinh xã hội, đặc biệt là vấn đề xóa đói giảm
nghèo, tăng cường và củng cố thể chế pháp lý, pháp triển quan hệ đối tác chặt chẽ với
nước ngoài.
Nhưng thực tiễn quản lý ODA của Việt Nam còn nhiều điều bất ổn:
Tình hình thực hiện các dự án (DA) thường bị chậm ở nhiều khâu: chậm thủ tục,
chậm triển khai, giải ngân chậm, tỷ lệ giải ngân thấp. Do vậy, thời gian hoàn thành dự
án kéo dài làm phát sinh các khó khăn, đặc biệt là vốn đầu tư thực tế thường tăng hơn so
với dự kiến và cam kết; đồng thời cũng làm giảm tính hiệu quả của DA khi đi vào vận
hành khai thác.
Công tác theo dõi, đánh giá tình hình đầu tư ODA chưa đầy đủ, còn nhiều hạn
chế. Đặc biệt là công tác theo dõi, thống kê, kiểm tra và đánh giá hiệu quả của công
trình sau đầu tư còn bỏ ngõ, ngoại trừ các DA vay lại và đang trong thời gian trả nợ. Kết
quả quản lý thường được đánh giá chỉ bằng công trình (mức độ hoàn thành, tiến độ thực
hiện) mà chưa xem xét đến hiệu quả sau đầu tư một khi công trình được đưa vào vận
hành khai thác. Quan điểm và cách làm này gây khó khăn cho việc đánh giá, định
hướng đầu tư từ nguồn ODA tạo nên sự lãng phí và né tránh trách nhiệm của những bộ
phận liên quan.
Có sự chồng chéo trong thủ tục chuẩn bị và triển khai đầu tư. Theo Bộ Tài
chính, chỉ có 4% lượng vốn ODA áp dụng các quy định về đấu thầu và 3% sử dụng hệ
thống quản lý tài chính công của Việt Nam, còn lại là theo cách thức của nhà tài trợ. Vì
vậy, nhiều dự án cùng một lúc phải thực hiện 2 hệ thống thủ tục, một thủ tục để giải
quyết vấn đề nội bộ trong nước, một thủ tục với nhà tài trợ. Như ông Dương Đức Ưng -
Cố vấn cao cấp của Chương trình nâng cao năng lực toàn diện về quản lý ODA tại Việt
Nam – đã nêu: điều này làm kéo dài thời gian thực hiện dự án, gia tăng chi phí (chi phí
chuẩn bị DA, tăng chi phí đầu tư do lạm pháp bởi thời gian kéo dài) tăng khả năng rủi
ro vì có thể bị lợi dụng cho các hoạt động phi pháp.
thù rất khác biệt. Do đó, Chính phủ cần phải hoạch định chiến lược vận động sử dụng
ODA một cách phù hợp, dù đây là vấn đề khó khăn phụ thuộc phần nhiều vào ý định,
khả năng của các nhà tài trợ.
Đối với các địa phương, vấn đề hoạch định chiến lược; quy hoạch thu hút và sử
dụng ODA là hết sức nan giải do có rất ít sự chủ động của địa phương trong vấn đề này,
và năng lực đội ngũ quản lý ODA ở địa phương là yếu kém chưa đáp ứng được yêu
cầu..
Khuôn khổ thể chế pháp lý chưa hoàn thiện và đồng bộ. Nhìn chung, Chính phủ
chưa xây dựng được cơ chế thống nhất giữa nợ trong nước và nợ nước ngoài của quốc
gia . Các quy định pháp lý quản lý nợ nói chung, nguồn ODA nói riêng chủ yếu điều
chỉnh và kiểm soát các quan hệ trước và trong quá trình đầu tư. Còn giai đoạn sau đầu
tư, các chế định pháp lý hầu như còn rất sơ lược, có thể nói là còn bỏ ngỏ.
Cơ chế vận động và sử dụng nguồn ODA quá phức tạp liên quan đến nhiều cấp
bộ ngành, địa phương. Hơn nữa, điều này còn phụ thuộc vào cách thức của từng nhà tài
trợ. Do vậy, một dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA không thành công (không tìm kiếm
và vận động được nhà tài trợ, thủ tục chậm, vốn bị thất thoát, công trình vận hành và
khai thác không hiệu quả) thường liên quan đến trách nhiệm nhiều cấp, nhiều bộ phận
khác nhau. Do vậy, chúng ta gặp khó khăn khi muốn xác định nguyên nhân đích thực để
có biện pháp tháo gỡ kịp thời.
Nhìn chung, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý ODA - như đã nêu qua ở trên-
là khá yếu kém chưa đáp ứng được nhu cầu. Năng lực của đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực