đồ án học phần viết ứng dụng trên ngôn ngữ php & my sql - Pdf 18

Trường Đại Học Công Nghiệp TP. Hồ Chí Minh
===o0o===
Đồ Án Học Phần I
Đề Tài:
Viết Ứng Dụng Trên Ngôn Ngữ PHP & My SQL
Giáo Viên Hướng Dẫn: Nguyễn Văn Thắng
Sinh Viên Thực Hiện:
Văn Quốc Thịnh _ 11253321 _ NCTH5B
Mục Lục
2
Mở Đầu
Văn Quốc Thịnh _ 11253321 _ NCTH5B
Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Văn Thắng đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành đồ án này. Do
kiến thức còn hạn chế nên bài này còn nhiều thiếu xót, em mong nhận được nhiều ý kiến và đánh giá của
thầy
Văn Quốc Thịnh
3
Chương I: Tổng Quan Về Web Và Những Ngôn Ngữ Hỗ Trợ
Viết Web
I. Tổng Quan Về Web
1. Web là gì
Website là tập hợp của rất nhiều trang web - một loại siêu văn bản (tập tin dạng HTML hoặc XHTML) trình bày thông tin trên
mạng Internet- tại một địa chỉ nhất định để người xem có thể truy cập vào xem. Trang web đầu tiên người xem truy cập từ tên
miền thường được gọi là trang chủ (homepage), người xem có thể xem các trang khác thông qua các siêu liên kết (hyperlinks)
Đặc điểm tiện lợi của website: thông tin dễ dàng cập nhật, thay đổi, khách hàng có thể xem thông tin ngay tức khắc, ở bất kỳ nơi
nào, tiết kiệm chi phí in ấn, gửi bưu điện, fax, thông tin không giới hạn (muốn đăng bao nhiêu thông tin cũng được, không giới
hạn số lượng thông tin, hình ảnh ) và không giới hạn phạm vi khu vực sử dụng (toàn thế giới có thể truy cập).
Một website thông thường được chia làm 2 phần: giao diện người dùng (front-end) và các chương trình được lập trình
để website hoạt động (back-end). Giao diện người dùng là định dạng trang web được trình bày trên màn hình của máy
tính của người xem (máy khách) được xem bằng các phần mềm trình duyệt web như Internet Explorer, Firefox, Tuy
nhiên ngày nay người xem có thể xem website từ các thiết bị điện tử khác như điện thoại di động, PDA, Việc trình bày

</body>
</html>
4. Cấu trúc cơ bản của trang web
Mỗi trang web đều có cách thể hiện cấu trúc khác nhau, có trang 1 cột, có trang 2 và cũng có
trang chứa nhiều cột, bên dưới đây chúng ta tham khảo một trang đơn giản sử dụng 2 cột để
layout.
• Phần đầu: header, có thể chứa logo, câu slogan, các liên kết, các banner liên kết, các button, đoạn
flash, hoặc các form ngắn như form tìm kiếm,
• Phần liên kết toàn cục: global navigation, dùng để chứa các liên kết đến những trang quan trọng
trong toàn bộ trang, trong phần này có thể chứa thêm các liên kết con (sub navigation).
• Phần thân của trang: page body, phần này chứa phần nội dung chính (content) và phần nội dung
phụ (sidebar).
• Phần nội dung chính: content, phần này chứa nội dung chính cần thể hiện cho người dùng xem.
• Phần nội dung phụ: sidebar, phần này có thể chứa liên kết phụ của từng trang (local navigation),
hoặc các banner chứa liên kết liên quan, hoặc có thể dùng để chứa các liên kết quảng cáo,
• Phần cuối trang web: footer, phần này thường chứa phần liên hệ như: tên công ty, địa chỉ, số điện
thoại, mail liên hệ, và đặc biệt là copyright, hoặc có thể chứa các liên kết toàn trang, các banner
liên kết,
5
Nguồn: http://www.hocwebchuan.com/tutorial/tut_html_basic.php
6
5. Mô hình hoạt của website
Nguồn: http://www.pcworld.com.vn/pcworld/info/misc/2007/7/A0707_UD_138b.jpg
II. Những Ngôn Ngữ Hỗ Trợ Viết Web
1. Tổng quan về ASP
Giới thiệu về Asp.net
Từ khoảng cuối thập niên 90, ASP (Active Server Page) đã được nhiều lập trình viên lựa chọn để
xây dựng và phát triển ứng dụng web động trên máy chủ sử dụng hệ điều hành Windows. ASP đã
thể hiện được những ưu điểm của mình với mô hình lập trình thủ tục đơn giản, sử dụng hiệu quả
các đối tượng COM: ADO (ActiveX Data Object) - xử lý dữ liệu, FSO (File System Object) -

phía server.

Ưu điểm của Asp.net
- ASP.Net cho phép bạn lựa chọn một trong các ngôn ngữ lập trình mà bạn yêu thích: Visual
Basic.Net, J#, C#,…
- Trang ASP.Net được biên dịch trước. Thay vì phải đọc và thông dịch mỗi khi trang web được
yêu cầu, ASP.Net biên dịch những trang web động thành những tập tin DLL mà Server có thể thi
hành nhanh chóng và hiệu quả. Yếu tố này là một bước nhảy vọt đáng kể so với kỹ thuật thông
dịch của ASP.

ASP.Net hỗ trợ mạnh mẽ bộ thư viện phong phú và đa dạng của .Net Framework, làm việc với
XML, Web Service, truy cập cơ sở dữ liệu qua ADO.Net, …
ASPX và ASP có thể cùng hoạt động trong 1 ứng dụng.
ASP.Net sử dụng phong cách lập trình mới: Code behide. Tách code riêng, giao diện riêng -> Dễ
đọc, dễ quản lý và bảo trì.
Kiến trúc lập trình giống ứng dụng trên Windows.
Hỗ trợ quản lý trạng thái của các control
Tự động phát sinh mã HTML cho các Server control tương ứng với từng loại Browser
Hỗ trợ nhiều cơ chế cache.
Triển khai cài đặt
Không cần lock, không cần đăng ký DLL
Cho phép nhiều hình thức cấu hình ứng dụng
Hỗ trợ quản lý ứng dụng ở mức toàn cục
Global.aspx có nhiều sự kiện hơn
Quản lý session trên nhiều Server, không cần Cookies

ASP.NET là một mô hình thiết kế website thống nhất bao gồm cách dịch vụ cần thiết để xây
dựng các ứng dụng website doanh nghiệp lớn. ASP.NET là một phần của NET Framework.
Ở chủ đề này chúng tôi sẽ mô tả các tính năng của ASP.NET và Visual Web Developer, môi
trường phát triển tạo ra các ứng dụng ASP.NET.

trong ứng dụng của bạn. Khung trang ASP.NET cũng cho phép bạn xác định mô hình các URL sẽ
được sử dụng trong website của bạn. Điều này giúp tối ưu hóa công cụ tìm kiếm và làm cho các
URL thân thiện với người sử dụng.

Biên dịch ASP.NET
ASP.NET biên dịch, cho phép tối ưu hóa hiệu xuất,tối ưu hóa ràng buộc và những lợi ích khác.
Một khi mã đã được biên dịch, thời gian chạy sẽ được cải thiện.

Bảo Mật
Ngoài các tính năng bảo mật cung cấp một sơ sở bảo mất tiên tiến để chứng thực và cho phép
người dung truy cập vào các nhiệm vụ liên quan đến an ninh.Bạn có thể xác thực bằng cách sử
dụng window xác thực được cung cấp bởi IIS hoặc quản lý xác thực bằng cơ sở dữ liệu người
dùng riêng.

Cấu hình ASP.NET
ASP.NET sử dụng một cấu hình hệ thống cho phép bạn xác định và thiết lập cấu hình cho máy
chủ web của bạn. ASP.NET thiết lập cấu hình được lưu trữ trong các tập tin XML.

9
Hỗ trợ gỡ lỗi
ASP.NET có lợi thế gỡ lỗi trong thời gian chạy để cung cấp quá ngôn ngữ và hỗ trợ gỡ lỗi qua
máy tính. Bạn có thể gỡ lỗi cả hai đối tượng quản lý và không được quản lý.
Web Service Framework ASP.NET hỗ trợ các dịch vụ web XML cho phép ứng dụng trao đổi
thông tin qua bức tường lửa bằng cách sử dụng các tiêu chuẩn như HTTP và XML. Bất cứ ngôn
ngữ lập trình web nào cũng có thể trao đổi thông tin và truy cập các dịch vụ web XML.
Ứng dụng web dựa trên mô hình MVC
ASP.NET MVC giúp các nhà phát triển web xây dựng ứng dụng dựa trên tiêu chuẩn được dễ
dàng duy trì bởi nó giảm sự phụ thuộc vào các class.

ASP.NET sử dụng dữ liệu động

mạng Internet. Tuy đã có tới hàng nghìn người tham gia đóng góp vào việc tu chỉnh mã nguồn của dự án này thì vào
thời đó nó vẫn chủ yếu chỉ là dự án của một người.
PHP/FI 2.0 được chính thức công bố vào tháng 11 năm 1997, sau một thời gian khá dài chỉ được công bố dưới dạng
các bản beta. Nhưng không lâu sau đó, nó đã được thay thế bởi các bản alpha đầu tiên của PHP 3.0.
PHP 3
10
PHP 3.0 là phiên bản đầu tiên cho chúng ta thấy một hình ảnh gần gũi với các phiên bản PHP mà chúng ta được
biết ngày nay. Nó đã được Andi Gutmans và Zeev Suraski tạo ra năm 1997 sau khi viết lại hoàn toàn bộ mã nguồn
trước đó. Lý do chính mà họ đã tạo ra phiên bản này là do nhận họ thấy PHP/FI 2.0 hết sức yếu kém trong việc phát
triển các ứng dụng thương mại điện tử mà họ đang xúc tiến trong một dự án của trường đại học. Trong một nỗ lực
hợp tác và bắt đầu xây dựng dựa trên cơ sở người dùng đã có của PHP/FI, Andi, Rasmus và Zeev đã quyết định hợp
tác và công bố PHP 3.0 như là phiên bản thế hệ kế tiếp của PHP/FI 2.0, và chấm dứt phát triển PHP/FI 2.0.
Một trong những sức mạnh lớn nhất của PHP 3.0 là các tính năng mở rộng mạnh mẽ của nó. Ngoài khả năng cung
cấp cho người dùng cuối một cơ sở hạ tầng chặt chẽ dùng cho nhiều cơ sở dữ liệu, giao thức và API khác nhau, các
tính năng mở rộng của PHP 3.0 đã thu hút rất nhiều nhà phát triển tham gia và đề xuất các mô đun mở rộng mới.
Hoàn toàn có thể kết luận được rằng đây chính là điểm mấu chốt dẫn đến thành công vang dội của PHP 3.0. Các tính
năng khác được giới thiệu trong PHP 3.0 gồm có hỗ trợ cú pháp hướng đối tượng và nhiều cú pháp ngôn ngữ nhất
quán khác.
Ngôn ngữ hoàn toàn mới đã được công bố dưới một cái tên mới, xóa bỏ mối liên hệ với việc sử dụng vào mục
đích cá nhân hạn hẹp mà cái tên PHP/FI 2.0 gợi nhắc. Nó đã được đặt tên ngắn gọn là ‘PHP’, một kiểu viết tắt hồi
quy của “PHP: Hypertext Preprocessor”.
Vào cuối năm 1998, PHP đã phát triển được con số cài đặt lên tới hàng chục ngàn người sử dụng và hàng chục
ngàn Web site báo cáo là đã cài nó. Vào thời kì đỉnh cao, PHP 3.0 đã được cài đặt cho xấp xỉ 10% số máy chủ Web
có trên mạng Internet.
PHP 3.0 đã chính thức được công bố vào tháng 6 năm 1998, sau thời gian 9 tháng được cộng đồng kiểm nghiệm.
PHP 4
Vào mùa đông năm 1998, ngay sau khi PHP 3.0 chính thức được công bố, Andi Gutmans và Zeev Suraski đã bắt
đầu bắt tay vào việc viết lại phần lõi của PHP. Mục đích thiết kế là nhằm cải tiến tốc độ xử lý các ứng dụng phức
tạp, và cải tiến tính mô đun của cơ sở mã PHP. Những ứng dụng như vậy đã chạy được trên PHP 3.0 dựa trên các
tính năng mới và sự hỗ trợ khá nhiều các cơ sở dữ liệu và API của bên thứ ba, nhưng PHP 3.0 đã không được thiết

11
3. Tổng quan về CGI
Ngôn ngữ kịch bản chạy trên môi trường máy chủ nói chung có thể phân thành hai loại cơ bản: Com mon Gateway
Interface (CGI, chương trình trả về mã HTML) và ngôn ngữ đánh dấu nhúng trong trang HTML.
Những thế hệ máy chủ web (web server hay HTTP server) đầu tiên không tích hợp sẵn mô đun xử lý tạo nội dung
động mà dùng các giao tiếp (interface) để gọi các chương trình khác bên ngoài xử lý yêu cầu tạo nội dung động lúc
thực thi. Chuẩn giao tiếp đầu tiên được dùng để tạo nội dung web động là CGI. CGI không phải là một ngôn ngữ cụ
thể mà là giao thức liên lạc giữa máy chủ web và một chương trình ứng dụng bên ngoài. Nhiều người thường gắn
liền CGI với Perl do phần lớn kịch bản CGI thường được viết bằng ngôn ngữ này, nhưng nói chung CGI có thể viết
bằng bất kỳ ngôn ngữ nào để được gọi như một chương trình chạy độc lập từ web server, chẳng hạn như Python, Tcl,
C/C + + và cả Java.
Phương pháp CGI có những hạn chế về hiệu suất. Chương trình CGI chạy bên ngoài web server và mỗi khi có yêu
cầu một trang web động thì đều phải khởi tạo tiến trình mới. Việc khởi tạo các tiến trình mới làm hao tốn tài nguyên
hệ thống và chậm tốc độ đáp ứng. Để giải quyết hạn chế của CGI, các phần mềm máy chủ web thế hệ sau tích hợp
sẵn khả năng xử lý tạo nội dung web động. Cũng có nhiều mô đun bổ sung cung cấp các hàm API tương tác trực tiếp
với web server.
Nguồn: http://www.pcworld.com.vn/articles/cong-nghe/cong-nghe/2005/06/1184927/ngon-ngu-
lap-trinh-web/
4. Tổng quan về Perl
Perl (Practical Extraction and Report Language) là ngôn ngữ kịch bản mã nguồn mở có cú pháp tương tự như C.
Perl chạy ở chế độ nền phía server tạo nội dung web theo cách thức ẩn đối với người xem. Năm 1987, lrry Wall xây
dựng và phát triển Perl như là phiên bản cải tiến của awk với mục đích thực hiện tự động một số tác vụ quản trị hệ
thống Unix (awk là một chương trình xử lý văn bản của Unix) . Sau đó Perl được phát triền dần và phổ biến với
nhiều dạng ửng dụng. Perl có tính đối tượng, nhờ vậy việc bổ sung thư viện mới rất dễ dàng. Nó thích hợp cho cả
ứng dụng web phức tạp lẫn các tác vụ xử lý dữ liệu đơn giản.
Đã có thời tất cả những việc tạo trang web động có lập trình đều dùng Perl, trước khi có những công nghệ khác như
ASP, JSP, PHP và hiện Perl vẫn là một trong những ngôn ngữ được dùng phổ biến nhất để viết các ứng dụng web.
Hầu hết các máy chủ web hiện nay đều hỗ trợ Perl. Apache có hỗ trợ miễn phí tích hợp trình dịch Perl mod-perl.
Điều này không chỉ giúp tăng tốc mã lệnh Perl mà còn cải thiện hiệu suất nhờ mod-perl lưu lại các mã lệnh biên dịch
trong bộ nhớ. Mod_perl kết hợp với một số công nghệ khác cho phép xây dựng các website cao cấp, nổi bật nhất là

Livewire của Netscape. SSJS chỉ chạy trên máy chủ web Netscape.
Nguồn: http://www.pcworld.com.vn/articles/cong-nghe/cong-nghe/2005/06/1184927/ngon-ngu-
lap-trinh-web/
6. Tổng quan về ColdFusion
Đây là ngôn ngữ kịch bản do hãng Allaire phát triể n, hiện đã được Macromedia mua lại. Coldfusion được thiết kế
ngay từ đầu chuyên dành cho nền tảng ứng dụng web, nó không bị ràng buộc bởi các mô hình công nghệ trước đây
trong việc tìm giải pháp thích hợp cho những vấn đề mà các nhà phát triển web gặp phải. CFML (Cold Fusion
Markup Language) là ngôn ngữ rất mạnh và dễ học, dùng tập thẻ lệnh tương tự như thẻ lệnh HTML. Một điểm đặc
biệt là mỗi trang Colfusion có thể dùng như một thẻ lệnh: ví dụ bạn có file list.cfm thì một trang khác có thể dùng nó
như thẻ Coldfusion cũng có tập hàm API mạnh và có một số chức năng hay như mảng, cấu trúc, xử lý lỗi
Công cụ phát triển Coldfusion Studio là một trong những công cụ phát triến tốt nhất. Công cụ thiết kế web
Macromedia Dreamweaver hỗ trợ tạo tự động mã lệnh CFML và cả JSP. Phần mềm máy chủ Coldfusion không
miễn phí, do vậy tăng phí dịch vụ web.
Các ngôn ngữ như ASP, Coldfusion, JSP và PHP được quan tâm rất nhiều, nhưng các ngôn ngữ giới thiệu dưới đây
cũng được dùng để phát triển một số ứng dụng chuyên biệt và được dùng cho số lượng không nhỏ website.
Nguồn: http://www.pcworld.com.vn/articles/cong-nghe/cong-nghe/2005/06/1184927/ngon-ngu-
lap-trinh-web/
7. Tổng quan về Tcl hay Tcl/Tk (Tool Command Language/Toolkit)
Theo John Ousterhout, cha đẻ của ngôn ngữ Tcl, thoạt đầu nó được tạo như là ngôn ngữ lệnh kết nối các chương
trình ứng dụng đánh giá sinh viên ở đại học Berkerley. Tcl không được thiết kế để xây dựng các chương trình tính
toán lớn và phức tạp. Chương trình Tcl - được gọi là script - thực hiện phân luồng dữ liệu từ một chương trình này
đến chương trình khác. Các chương trình lớn và chạy nhanh thực hiện phần công việc nặng nhọc, chương trình Tcl
gắn các chương trình lớn này lại với nhau. Tcl là ngôn ngữ hướng đối tượng.
Điểm mạnh nhất của Tcl là khả năng điều khiển, liên kết các thiết bị hay chương trình ứng dụng. Hai đặc tính chủ
chốt của ngôn ngữ: khả năng nhúng và mở rộng. Phương tiện mở rộng mà Tcl cung cấp (giao diện lập trình) có thể
13
dùng để tạo các tính năng mới trong ngôn ngữ bằng chương trình C, C++ hay Java. Rất nhiều mô đun mở rộng cho
Tcl được viết và cung cấp miễn phí trên internet, công cụ GUI hỗ trợ thiết kế giao diện Toolkit (Tk) là một ví dụ
điển hình. Các ngôn ngữ khác như Perl, Python cũng dùng Tk. Một điểm mạnh khác của Tcl là khả năng kiểm soát
văn bản nhập vào chính khả năng này làm cho Tcl được dùng phổ biến để tạo các trang và hình ảnh lúc thực thi trên

với HTML ngôn ngữ đánh dấu) để hổ trợ và tăng cường các khả năng của web.
Cho phép điều khiển các phần tử của trang web dễ dàng hơn.
Chúng ta có một số ngôn ngữ lấp trình web như: ASP, ASP.NET, PHP, JSP
C. Web Server
Web Server (máy phục vụ Web): máy tính mà trên đó cài đặt phần mềm phục vụ Web, đôi khi
người ta cũng gọi chính phần mềm đó là Web Server. Tất cả các Web Server đều hiểu và chạy
được các file *.htm và *.html, tuy nhiên mỗi Web Server lại phục vụ một số kiểu file chuyên biệt
chẳng hạn như IIS của Microsoft dành cho *.asp, *.aspx ; Apache dành cho *.php ; Sun Java
System Web Server của SUN dành cho *p
Máy Web Server là máy chủ có dung lượng lớn, tốc độ cao, được dùng để lưu trữ thông tin như
một ngân hàng dữ liệu, chứa những website đã được thiết kế cùng với những thông tin liên quan
khác. (các mã Script, các chương trình, và các file Multimedia)
Web Server có khả năng gửi đến máy khách những trang Web thông qua môi trường Internet
(hoặc Intranet) qua giao thức HTTP - giao thức được thiết kế để gửi các file đến trình duyệt Web
(Web Browser), và các giao thức khác.
Tất cả các Web Server đều có một địa chỉ IP (IP Address) hoặc cũng có thể có một Domain
Name. Giả sử khi bạn đánh vào thanh Address trên trình duyệt của bạn một dòng
http://www.abc.com sau đó gõ phím Enter bạn sẽ gửi một yêu cầu đến một Server có Domain
Name là www.abc.com. Server này sẽ tìm trang Web có tên là index.htm rồi gửi nó đến trình
duyệt của bạn.
Bất kỳ một máy tính nào cũng có thể trở thành một Web Server bởi việc cài đặt lên nó một
chương trình phần mềm Server Software và sau đó kết nối vào Internet.
Khi máy tính của bạn kết nối đến một Web Server và gửi đến yêu cầu truy cập các thông tin từ
một trang Web nào đó, Web Server Software sẽ nhận yêu cầu và gửi lại cho bạn những thông tin
mà bạn mong muốn.
15
Giống như những phần mềm khác mà bạn đã từng cài đặt trên máy tính của mình, Web Server
Software cũng chỉ là một ứng dụng phần mềm. Nó được cài đặt, và chạy trên máy tính dùng làm
Web Server, nhờ có chương trình này mà người sử dụng có thể truy cập đến các thông tin của
trang Web từ một máy tính khác ở trên mạng (Internet, Intranet).

16
trong hệ thống mạng riêng hoặc các tài liệu (files) đến các hệ thống file (file system). Hoặc
cũng được dùng để tiết kiệm tài nguyên thông tin cho các hệ thống lưu trữ file.
Nguồn: http://esvn.com.vn/108/Kien-thuc-web/Web-browser trinh-duyet-web-la-gi.html
F. URL (Uniform Resource Locator)
URL (Uniform Resource Locator) là địa chỉ của 1 tài nguyên trên Internet. Nó có thể là 1 website, 1 trang
web, 1 hình ảnh,… Nó có cấu trúc phân cấp giống như folder và file trên máy tính.
Nguồn: http://inet.edu.vn/tin-tuc/2993/url-la-gi.html
G. HTTP (Hypertext Transfer Protocol)
HTTP là chữ viết tắt từ HyperText Transfer Protocol (giao thức truyền tải siêu văn bản). Nó là giao thức
cơ bản mà World Wide Web sử dụng. HTTP xác định cách các thông điệp (các file văn bản, hình ảnh đồ
hoạ, âm thanh, video, và các file multimedia khác) được định dạng và truyền tải ra sao, và những hành
động nào mà các Web server (máy chủ Web) và các trình duyệt Web (browser) phải làm để đáp ứng các
lệnh rất đa dạng. Chẳng hạn, khi bạn gõ một địa chỉ Web URL vào trình duyệt Web, một lệnh HTTP sẽ
được gửi tới Web server để ra lệnh và hướng dẫn nó tìm đúng trang Web được yêu cầu và kéo về mở trên
trình duyệt Web. Nói nôm na hơn, HTTP là giao thức truyền tải các file từ một Web server vào một trình
duyệt Web để người dùng có thể xem một trang Web đang hiện diện trên Internet.HTTP là một giao thức
ứng dụng của bộ giao thức TCP/IP (các giao thức nền tảng cho Internet).
Có một tiêu chuẩn chính khác cũng điều khiển cách thức World Wide Web làm việc là HTML (HyperText
Markup Language, ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản), có chức năng quản lý cách thức mà các trang Web
được định dạng và hiển thị.
người ta gọi HTTP là một giao thức “phi trạng thái” (stateless) bởi vì mỗi lệnh đều được thực thi một
cách độc lập, lệnh sau không biết bất cứ điều gì về các lệnh đã đến trước mình. Đây chính là một hạn chế,
khiếm khuyết của HTTP. Nó là nguyên nhân chính của tình trạng rất khó thực thi các trang Web có khả
năng phản ứng thông minh đối với lệnh mà người dùng nạp vào. Và sự hạn chế này đang được các nhà
phát triển khắc phục trong các công nghệ mới như ActiveX, Java, JavaScript và cookies.
Nguồn: http://tin01brvt.forumvi.com/t70-http-la-gi
2. Các đặc điểm của ngôn ngữ PHP
–PHP đượcchạytrênhệthốngchủ(Server)
–PHP rấtđơngiản

hạn $ab và $Ab là 2 biến hoàn toàn khác nhau. Một điểm cần lưu ý khác là không được đặt tên
biến bắt đầu bằng các chữ số (0 9)
Do quy định các chuỗi ký tự có chứa dấu $ ở trước là một tên biến, nên PHP tự động khởi gán
giá trị của các biến này là rỗng (đối với kiểu dữ liệu văn bản) hoặc 0 đối với kiểu dữ liệu số. Bạn
sẽ được biết đến các kiểu dữ liệu sau này.
18
Để gán giá trị cho các biến, bạn sử dụng câu lệnh gán như sau:
$tên_biến = giá trị cần gán;
Ví dụ:
PHP Code:
$nam_sinh=1980;
$ho_ten="CMXQ";
Các bạn chú ý đến 2 ví dụ tôi nhập dữ liệu: một cái thì nằm trong cặp dấu ngoặc kép chỉ thị biến
đó chứa dữ liệu theo kiểu xâu, còn một cái thì không nằm trong cặp dấu ngoặc kép chỉ thị biến
đó chứa dữ liệu kiểu số. Bạn sẽ biết chi tiết hơn ở ngay sau đây:
2. Các kiểu dữ liệu trong PHP
PHP có 3 kiểu dữ liệu cơ bản: Integer, double và string. Ngoài ra còn một số kiểu dữ liệu khác,
đượ xây dựng dựa trên các kiểu dữ liệu cơ bản trên, như mảng, object, mà chúng ta sẽ đề cập đến
sau. Tất cả các biến đều được chỉ định kiểu dữ liệu, và như chúng ta đã nói ở trên, giá trị của
chúng có thể bị thay đổi trong quá trình sử dụng.
Kiểu giá trị Integer sử dụng 4 byte của bộ nhớ. Đây là kiểu giá trị nguyên (không phải là số thực)
và có giá trị nằm trong khoảng từ -2 tỷ đến 2 tỷ. Kiểu dữ liệu double là kiểu dữ liệu số thực, cho
phép chứa các số thưc. Kiểu String được sử dụng để chứa các dữ liệu như là các ký tự văn bản,
ký tự đặc biệt và các chữ số. Dữ liệu kiểu string được đặt trong cặp dấu ngoặc kép ("") chỉ định
một xâu (hay còn gọi là chuỗi ký tự).
Ví dụ:
2: Kiểu integer;
2.0: kiểu double
"2": Kiểu xâu
"2 gio": Kiểu xâu

<HTML>
<! phpinfo.php >
<BODY>
<?php
phpinfo();
?>
</BODY>
</HTML
5. Lừa kiểu và ép kiểu dữ liệu
Như chúng ta đã biết, tất cả các biến PHP đều có kiểu dữ liệu riêng. Kiểu dữ liệu của biến sẽ
được tự động xác định bởi giá trị đặt vào biến
PHP Code:
$a=1 // $a là kiểu integer
$a=1.2 // Bây giờ, nó là kiểu double
$a="1" // Và bây giờ nó là kiểu string
a) Chuyển kiểu chuỗi và lừa kiểu dữ liệu
Nếu bạn làm các thao tác tính toán số trên một chuỗi, PHP sẽ tính toán chuỗi như là một số. Điều
này được biết đến với cái tên gọi là "chuyển kiểu chuối (String conversion), mặc dù giá trị chuỗi
của nó có thể không cần phải thay đổi. Trong đoạn ví dụ sau, biến $str được xác định là một
chuỗi:
20
PHP Code:
$str="756300 không có";
Nếu chúng ta cố cộng thêm một giá trị nguyên là 3 vào biến $str, biến $str sẽ tự động tính với số
nguyên 756300:
PHP Code:
$x=4+$str;//$x =756304
Nhưng bản thân giá trị của biến $str không thay đổi
PHP Code:
echo ($str); // In ra màn hình chuỗi "756300 không có"

Ví dụ:
PHP Code:
echo(gettype($name));
- Hàm settype($ten_bien,"kieu_du_lieu") sẽ đặt kiểu dữ liệu cho biến $ten_bien. Kiểu dữ liệu
được viết dưới dạng một chuỗi, và có thể có một trong các kiểu sau: "integer", "double", "string",
"array", "object". Nếu kiểu dữ liệu không được đặt, giá trị false sẽ được trả về, còn nếu thành
công, nó sẽ trả về giá trị true.
VD:
PHP Code:
$a=7.5; //$a là kiểu thực
settype($a,"integer"); // bây giờ nó là một số nguyên có giá trị 7
- Hàm isset($ten_bien) được sử dụng để xác định xem biến $ten_bien đã đặt một giá trị nào đó
hay chưa. Nếu biến đó đã có giá trị, hàm trả về true. Trong truờng hợp ngược lại, hàm trả về giá
trị false;
- Hàm unset($ten_bien) được sử dụng để huỷ bỏ biến $ten_bien, giải phóng bộ nhớ bị chiếm
dụng của biến đó
Nguồn: http://sinhvienit.net/@tut/lap-trinh-web-dong/php/90-bai-5-hang-va-bien-trong-php.html
4. Kiểu Dữ Liệu
• Boolean
• Integer
• Float / double
• String
• Array
• Object
<?php
$don_gia= 7000;
$so_luong= 900;
$thanh_tien= (double)($so_luong*$don_gia);
?>
Nguồn:

Cấu trúc rẽ nhánh if
• Dạng1: if
– Cúpháp: if (điềukiện)
{
khối lệnh
}
• Dạng2: if … else
– Cúpháp: if(điềukiện)
{
khốilệnh1
}
else
{
khốilệnh2
}
Cấu trúc chọn lựa switch
• Dạng1: mỗi truờng hợp một cách xử lý khác nhau
Cúpháp
switch(biếnđiềukiện)
{
casegiátrị 1:
khốilệnh1
break;
24
casegiátrị 2:
khốilệnh2
break;

[default: khốilệnhkhikhôngthỏatấtcảcáccase trên]
}


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status