Tình hình sử dụng phương tiện xe máy của sinh viên đại học Ngoại thương hiện nay - Pdf 18

LỜI MỞ ĐẦU
gày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu đi lại của các
cá nhân tăng lên nhanh chóng. Các phương tiện giao thông phải
đáp ứng nhu cầu gia tăng về mọi mặt như số lượng, chất lượng
cũng như sự đa dạng. Nhìn chung do cơ sở hạ tầng còn kém phát triển nên
người dân Việt Nam nói chung và người dân Hà Nội nói riêng có xu hướng
sử dụng các phương tiện cá nhân đặc biệt là xe máy để thỏa mãn nhu cầu đi
lại của mình.
N
Theo kết quả nghiên cứu của Bộ Giao thông vận tải và tổ chức JICA về
quy hoạch đô thị cũng cho thấy xe máy là phương tiện đi lại chính của người
dân thủ đô: Năm 2005, xe máy đáp ứng 62,7% nhu cầu đi lại tại Hà Nội
trong khi đó các phương tiện giao thông công cộng chỉ đáp ứng 3,5%, tỷ lệ
xe bus ở thành phố này đạt 8,4%… Đối với sinh viên, cụ thể là sinh viên
đại học Ngoại Thương, xe máy cũng là một ưu tiên trong sự lựa chọn
phương tiện đi lại, ngoài ra còn có xe đạp, xe bus… Mỗi phương tiện đều có
điểm mạnh, điểm yếu riêng nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để lựa chọn
và phối hợp những điểm mạnh của mỗi phương tiện và hạn chế những bất
cập để phù hợp với điều kiện kinh tế của sinh viên nói chung và phục vụ đắc
lực cho nhu cầu đi lại để học tập của sinh viên đại học Ngoại Thương.
Nhằm góp phần tìm cách giải quyết vấn đề trên, chúng em đã lựa chọn
đề tài nghiên cứu thống kê: “Tình hình sử dụng phương tiện xe máy của sinh
viên đại học Ngoại thương hiện nay”. Thông qua những con số thống kê,
chúng em có cơ sở để đánh giá thực trạng sử dụng các phương tiện đi lại của
sinh viên Ngoại thương và phân tích ảnh hưởng của một số yếu tố tới nhu
1
cầu đi lại của sinh viên như giá nhiên liệu tăng trong quý I năm 2011 hay xu
thế sử dụng các phương tiện giao thông thân thiện với môi trường. Đồng
thời đưa ra một số dự đóan về nhu cầu và xu hướng trong việc sử dụng các
phương tiện đó trong tương lai…Những đánh giá và phân tích trên nhằm
mục đích cuối cùng là tìm ra một giải pháp hợp lí cho các bạn sinh viên nói

- Tổng hợp thông tin
- Bảng biểu, đồ thị thống kê
- Các tham số đo mức độ đại biểu trong bước phân tích thống kê
3
- Phương pháp hồi quy và tương quan.
- Dự đoán thống kê
II. NỘI DUNG
A. Điều tra thống kê
PHIẾU ĐIỀU TRA
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH PHƯƠNG TIỆN XE
MÁY CỦA SV NGOẠI THƯƠNG NĂM 2011
Phiếu điều tra gồm 02 trang và 10 câu hỏi, mong bạn đọc kĩ câu hỏi
và lựa chọn phương án cho sẵn phù hợp nhất với bản thân.
Phần 1: Thông tin cá nhân
Họ và tên: …………………………………………………….
Lớp, khóa:…………………………………………………
Phần 2: Thông tin điều tra:
( Vui lòng tích vào ô đại diện cho câu trả lời phù hợp với bạn nhất)
1. Nơi ở hiện tại của bạn cách trường bạn đang học bao xa?
□ < 1 km □ 1-3 km
□ 3-5 km □ >5 km
2. Xe máy có phải là phương tiện đi lại của bạn ?
□ Có ( Chuyển tiếp câu 3) □ Không ( Chuyển sang câu 12)
3 Giá xe máy của bạn vào khoảng ? ( đvị: triệu VNĐ)
□ <20 □ 20 - 30
□ 30 - 50 □ > 50
4. Xe máy của bạn thuộc loại xe gì ?
□ Xe số □ Xe gas
4
5. Yếu tố nào ảnh hưởng nhất đến việc mua xe của bạn?

cao. Hiện nay, chất lượng cuộc sống của sinh viên được cải thiện, do vậy mà
ngày càng có nhiều hình thức phương tiện giao thông để sinh viên chọn lựa.
Thật vậy, ta có thể thấy rõ hơn điều này khi xem số liệu sau.
1.Các hình thức phương tiện đi lại của sinh viên Ngoại Thương:
Xe máy
80 (53%)
Phương tiện khác
70 ( 46,67%)
Xe gas
24 (30%)
Xe số
56 (70%)
Xe bus
21(30%)
Xe đạp
17(24%)
Khác
2 (2,87%)
Đi bộ
30(42%)
Qua số liệu thống kê về tình hình phương tiện giao thông của 150 sinh
viên đại học Ngoại Thương, ta có thể thấy, xe máy là hình thức được lựa
chọn nhiều nhất, chiếm 53% số loại phương tiện của những sinh viên được
khảo sát. Điều này cho thấy xe máy là ưu tiên lựa chọn của sinh viên Ngoại
thương. Đó là do một trong những ưu điểm của xe máy là tính cơ động, cho
phép người sử dụng di chuyển khá dễ dàng với khỏang cách ngắn và tần suất
đi lại lớn. Một ưu điểm khác khiến xe máy được các bạn sinh viên chọn lựa
là nó có kích thước nhỏ gọn, dễ luồn lách trên đường đi, ít tốn diện tích để
xe. Ngoài ra phải kể đến giá thành và nguồn cung của xe máy. Ngành lắp ráp
xe máy của nước ta đã đạt được bước phát triển đáng kể. Theo tổng cục

7
đạp, xe bus, đi bộ. Các phương tiện khác có thể là đi nhờ xe… chỉ chiếm
một tỉ lệ nhỏ, không đáng kể (chiếm 2,8%)
Tóm lại, phương tiện xe máy là một phần không thể thiếu trong cuộc
sống sinh hoạt của đa số các bạn sinh viên Ngoại Thương. Các yếu tố như
khoảng cách, chi phí cho việc đi lại, giá xe và yếu tố tác động đến việc mua
xe sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định lựa chọn loại hình xe máy của
sinh viên. Điều này sẽ được phân tích cụ thể ở các phần tiếp theo của tiểu
luận.
2 Ảnh hưởng của yếu tố khoảng cách từ nhà tới trường lựa chọn phương
tiện đi lại của các bạn sinh viên :
2.1. Với các bạn sử dụng phương phương tiện xe máy
Từ 80 bạn khẳng định mình sử dụng xe máy làm phương tiện đi lại của
mình, khảo sát khoảng cách từ nhà của các bạn tới trường, ta có bảng kết quả
sau:
khoảng cách (x
i
)
(đv: km)
Số phiếu (f
i
)
(đv: phiếu)
tỷ lệ phần trăm (d
i
)
(đv: %)
< 1 11 13.75
1→3 20 25
3→5 19 23.75
chiếm tỉ lệ 24%. Hai mức khoảng cách này có số lượng sinh viên đi xe máy
chiếm tỉ lệ 24%. Hai mức khoảng cách này có số lượng sinh viên đi xe máychênh lệch không đáng kể. Từ đó có thể cho thấy, khoảng cách gần hay xa
chênh lệch không đáng kể. Từ đó có thể cho thấy, khoảng cách gần hay xachỉ quyết định một phần nhỏ đến quyết định có chọn xe máy là phương tiện
chỉ quyết định một phần nhỏ đến quyết định có chọn xe máy là phương tiệnđi lại hay không của sinh viên Ngoại Thương.
đi lại hay không của sinh viên Ngoại Thương.
9
2.2. Với các bạn dử dụng phương tiện đi lại khác.
2.2. Với các bạn dử dụng phương tiện đi lại khác.
Xã hội ngày càng phát triển, phương tiện đi lại ngày càng đa dạng, nên
con người nói chung và sinh viên nói riêng có càng nhiều sự lựa chọn cho
mình. Điều tra thống kê về sử dụng phương tiện đi lại của sinh viên Ngoại
thương các khóa 47, 48 ,49 cho thấy sinh viên sử dụng nhiều phương tiện đi
lại khác nhau. Bên cạnh xe máy là phương tiện chủ yếu vẫn còn nhiều sinh
viên lựa chọn xe đạp hay xe bus…Việc lựa chọn các loại xe khác có nhiều
nguyên nhân, trong đó có khoảng cách từ nhà đến trường của sinh viên.
Chính vì thế mà nhóm thống kê đã tiến hành khảo sát và thu được kết quả cụ
thể dưới đây:
a. Với sự lựa chọn xe bus :
Khoảng

675,2
20
56246275.0
=
×+×+×+×
=x
Vậy những sinh viên lựa chọn xe đạp làm phương tiện đi lại thường ở
cách trường một khoảng không quá xa, khoảng cách trung bình là 2,675km.
c. Với sự lựa chọn đi bộ:
Khoảng cách (km) Số
người
<1 24
1-3 9
3-5 0
>5 0
Khoảng cách trung bình của sinh viên lựa chọn đi bộ là :
91,0
33
060492245.0
=
×+×+×+×
=x
Với khoảng cách trung bình là 0,91km, các bạn sinh viên có thể dễ dàng
đi bộ tới trường.
3. Sự lựa chọn phương tiện xe máy đối với sinh viên mỗi khóa:
3.1 Kết quả điều tra:
3.1 Kết quả điều tra:
Nhóm thống kê đã phát phiếu điều tra cho khóa k47,k48,k49 mỗi khóa
Nhóm thống kê đã phát phiếu điều tra cho khóa k47,k48,k49 mỗi khóa


trong khóa
trong khóa
Tỷ lệ sinh viên đi xe
Tỷ lệ sinh viên đi xe
máy so với toàn bộ
máy so với toàn bộ
sinh viên điều tra
sinh viên điều tra
K47
K47
31
31
62%
62%
38%
38%
K48
K48
30
30
60%
60%
37.5%
37.5%
K49
K49
19
19
38%
38%

xe của sinh viên. Từ xưa đến nay, trong việc mua bán hàng hóa, giá cả đã là
một yếu tố rất quan trong quyết định cầu của người tiêu dùng . Trong trường
hợp chúng ta đang nghiên cứu, khi mà đối tượng là sinh viên thì điều này là
tất nhiên . Bởi vì sinh viên là đối tượng đang đi học, mặc dù có một số bộ
phận đã đi làm thêm nhưng chỉ là những công việc phụ phần lớn để tăng thu
nhập trang trải chi phí sinh hoạt hoặc để có thêm kinh nghiệm. Chính vì thế
mà thu nhập của sinh viên thấp, chủ yếu phụ thuộc vào trợ cấp của gia đình.
Do đó, khi chọn mua xe, sinh viên phải cân nhắc đến giá cả là điều hợp
lí. Trên thị trường có rất nhiều loại xe kiểu dáng sang trọng , chất lượng tốt
nhưng giá thành quá cao nên sinh viên mặc dù thích nhưng cũng không thể
có cầu đối với những loại xe đó. Bên cạnh giá thành thì ý kiến của bố mẹ
cũng chiếm một vị trí quan trọng trong việc quyết định mua xe, cụ thể là
32,5% sinh viên đi xe máy được khảo sát chọn xe để mua dựa vào ý kiến của
bố mẹ. Như đã phân tích ở trên, sinh viên là đối tượng còn đang đi học, các
khoản chi phí chủ yếu do gia đình trợ cấp. Chính vì thế mà ý kiến của bố mẹ
có vai trò quan trọng trong việc quyết định chọn xe của sinh viên.
14
Còn về kiểu dáng và tiết kiệm xăng tuy cũng là một trong những yếu
tố quan trọng trong việc chọn mua xe nhưng chi một tỉ lệ không lớn lắm
( 12,5% và 13,75% ) sinh viên coi đây là yếu tố quyết định chính.
Biểu đồ về tỉ lệ các yếu tố chính quyết định đến việc mua xe máy
của sinh viên Ngoại Thương
5 . Mức giá xe máy của sinh viên đại học Ngoại thương
Phân tổ số sinh viên sử dụng xe máy làm phương tiện đi lại thành 4 tổ
với khoảng cách theo tiêu thức giá xe. Từ kết quả điều tra thống kê, ta có
bảng tổng hợp kết quả ở trang bên.
Dựa vào kết quả thống kê đó, ta có thể thấy, nhìn chung mức giá của xe
gas được sinh viên Ngoại thương sử dụng đều từ 20.000.000 đ trở lên, trong
khi mức giá xe số được sinh viên Ngoại thương lựa chọn đều dưới
50.000.000 đ. Số sinh viên sử dụng xe máy làm phương tiện đi lại lựa chọn

Mật
độ phân
phối (D
i
)
<20 0 0 0
30
53,57 3
20- 30 8 33,33 0,8 18 32,14 1,8
30. - 50 6 25 0,3 8 14,29 0,4
>50 10 41,67 0,5 0 0 0
Có sự khác biệt này là do xe số có nhiều ưu điểm hơn so với xe gas
như: giá thành rẻ hơn, tiết kiệm xăng hơn, nhiều loại xe số nhỏ gọn, tiện cho
việc đi lại và trông giữ,… Đây là những điểm rất phù hợp với tầng lớp sinh
viên trong điều kiện chưa có thu nhập hoặc thu nhập thấp, hay di chuyển,
chỗ cất giữ xe còn hạn chế,…
Đối với xe gas, loại xe với mức giá trên 50.000.000 đ được sử dụng
nhiều nhất, chiếm 41,67 % trong tổng số xe gas được sử dụng. Loại xe gas
với mức giá tầm trung bình từ 20.000.000 đ đến 30.000.000 đ chiếm 33,33%
và từ 30.000.000 đ đến 50.000.000 đ chiếm 25 %. Xe gas với mức giá cao
trên 50.000.000 đ được ưa chuộng hơn vì đó đều là những xe có kiểu dáng
đẹp và thời trang hơn, chất lượng tốt hơn, vì vậy, nó góp phần thể hiện
phong cách của người sử dụng và có thể thấy những sinh viên lựa chọn loại
xe gas có mức giá cao đều có thu nhập cao nên vấn đề được quan tâm hàng
đầu không phải là chi phí mà là kiểu dáng.
16
Biểu đồ so sánh số lượng xe gas và xe số được sinh viên
Ngoại thương sử dụng theo mức giá
.
Giá bình quân của 1 xe máy loại xe gas được sinh viên Ngoại thương sử

19
Như vậy, dãy số phân phối lượng xe số là dãy số lệch phải (số lượng xe
máy có mức giá thấp hơn mức giá bình quân là 21.785.714 đ chiếm đa số
trong số lượng xe số được sử dụng).
So sánh xe gas với xe số, có thể thấy rằng giá bình quân 1 xe gas cao
gần gấp 2 lần (1,99 lần) giá bình quân 1 xe số được sinh viên Ngoại thương
sử dụng. Mức giá phổ biến nhất của 1 xe gas cũng cao hơn 1 xe số. Có thể
nói mức giá của 1 xe gas cao hơn 1 xe số vì chi phí sản xuất xe gas lớn hơn
xe số nhiều, các loại xe gas có mức giá cao lưu hành trên thị trường đều là
hàng nhập khẩu, trong nước 1 số loại xe gas chưa sản xuất được linh kiện để
lắp ráp,… Lựa chọn xe gas là lựa chọn đối với những sinh viên có mức thu
nhập cao hơn (từ gia đình, công việc làm thêm,…) và phục vụ nhu cầu đi lại
ở khoảng cách gần hơn vì chi phí xăng xe dành cho xe gas lớn hơn cho xe
số.
6. Ảnh hưởng của việc tăng giá xăng đối với việc sử dụng phương tiện xe
máy của sinh viên Ngoại thương
Phân tổ số sinh viên sử dụng xe máy làm phương tiện đi lại thành 4 tổ
với khoảng cách theo tiêu thức chi phí xăng xe. So sánh 2 loại xe gas và xe
số, tại thời diểm trước và sau khi giá xăng tăng, dựa vào kết quả điều tra
thống kê, ta có bảng thống kê sau (trang bên).
Dựa vào kết quả điều tra thống kê, có thể thấy, trước khi giá xăng tăng,
có 24 sinh viên sử dụng xe gas và 56 sinh viên sử dụng xe số làm phương
tiện đi lại, trong khi sau khi giá xăng tăng, chỉ còn 23 sinh viên sử dụng xe
gas và 56 sinh viên vẫn sử dụng xe số làm phương tiện đi lại. Như vậy, sau
khi xăng tăng giá, có 1 sinh viên sử dụng xe gas làm phương tiện đi lại
chuyển sang sử dụng phương tiện khác. Nguyên nhân có thể là do giá xăng
tăng khiến chi phí xăng xe đi lại trở nên cao hơn nhiều, để giảm chi phí đi
20
lại, sinh viên sử dụng xe gas đó chuyển sang sử dụng phương tiện khác có
chi phí đi lại thấp hơn.

200.000 đ/tháng chiếm tỷ lệ cao hơn.
21
Biểu đồ so sánh chi phí xăng cho xe gas và xe số của sinh
viên Ngoại thương trước khi giá xăng tăng
Chi phí xăng xe bình quân 1 tháng của 1 sinh viên Ngoại thương sử
dụng xe gas làm phương tiện đi lại là:
Mức chi phí xăng xe phổ biến dành cho 1 xe gas là:
Trung vị hay mức chi phí xăng xe đứng giữa trong chi phí xăng xe dành
cho xe gas là:
Chi phí xăng xe bình quân 1 tháng của 1 sinh viên Ngoại thương sử
dụng xe số làm phương tiện đi lại là:
22
Mức chi phí xăng xe phổ biến dành cho 1 xe số là:
Trung vị hay mức chi phí xăng xe đứng giữa trong chi phí xăng xe dành
cho xe số là:
Sau khi giá xăng tăng, chi phí xăng xe 1 tháng của 1 xe gas trên
300.000 đ chiếm tỷ trọng lớn nhất (60,87%), tăng đến 35,87%, chi phí xăng
xe trong khoảng 100.000 đ đến 300.000 đ chiếm 34,78%, còn chi phí xăng
xe dưới 100.000 đ chỉ chiếm 4,35% (chỉ 1 sinh viên sử dụng xe gas được
điều tra). Như vậy, mức chi phí cao (trên 300.000 đ) dành cho xăng xe 1
tháng tăng, trong khi mức chi phí thấp (dưới 300.000 đ) giảm. Đối với xe số,
mức chi phí xăng xe trong khoảng 100.000 đ đến 200.000 đ vẫn chiếm tỷ lệ
lớn nhất (37,5%) nhưng tỷ trọng đã giảm so với trước khi giá xăng tăng
(giảm 7,14%), mức chi phí xăng xe trong khoảng 200.000 đ đến 300.000 đ
tăng tỷ trọng so với trước khi xăng tăng giá (chiếm 35,71%, tăng 12,5%). Tỷ
trọng của mức chi phí xăng xe trên 300.000 đ cũng tăng so với trước khi giá
xăng tăng (tăng 14,28%, lên 17,85%), trong khi mức chi phí xăng xe dưới
100.000 đ chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ nhất (8,93%, giảm 19,64%). Nhìn chung,
mức chi phí xăng xe dành cho xe số cũng bị đẩy lên cao hơn (mức chi phí
trên 200.000 đ/tháng chiếm tỷ trọng cao hơn, trong khi trước khi giá xăng

151.786
đ
280.435
đ
212.500
đ
260.000
đ
142.857
đ
344.000
đ
194.118
đ
240.000
đ
148.000
đ
317.857
đ
210.000
đ
Nhìn vào các tham số đo lường thống kê ở trên, có thể thấy, chi phí
xăng xe bình quân 1 tháng ( ), mức chi phí xăng xe phổ biến ( ) và mức
chi phí xăng xe đứng giữa ( của xe gas đều cao hơn so với xe số. Trước
khi giá xăng tăng, chi phí xăng xe gas bình quân 1 tháng cao hơn so với xe
số 73.214 đ, chi phí xăng xe phổ biến của xe gas cao hơn xe số 117.143 đ.
Mức chênh lệch như vậy là khá lớn. Do xe gas tiêu thụ nhiều năng lượng
hơn xe số nên mức chi phí xăng xe dành cho xe gas cũng lớn hơn so với xe
số. Sau khi xăng tăng giá, các giá trị thống kê ( , đều tăng lên. Cụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status