Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
o0o
NGUYỄN THỊ NHUNG
GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG CHO HỌC SINH
CÁC TRƢỜNG THPT HUYỆN SÔNG LÔ – VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Chuyên ngành: Giáo dục học
Mã số: 601 401
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHAN THANH LONG THÁI NGUYÊN - 2010
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian tiến hành nghiên cứu, dưới sự hướng dẫn khoa học
của tiến sỹ Phan Thanh Long, em đã hoàn thành xong luận văn thạc sỹ của
mình với đề tài: “Giáo dục môi trường cho học sinh các trường THPT
huyện Sông Lô – Vĩnh Phúc”.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4. Phạm vi nghiên cứu 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6. Giả thuyết khoa học 3
7. Các phương pháp nghiên cứu 4
8. Những đóng góp mới của đề tài 4
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG 5
1.1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Giáo dục môi trường trên thế giới 5
1.1.2 Giáo dục môi trường ở Việt Nam 9
1.2. Một số khái niệm công cụ của vấn đề nghiên cứu 16
1.2.1. Khái niệm môi trường 16
1.2.2. Ô nhiễm môi trường 18
1.2.3. Bảo vệ môi trường 19
1.2.4. Giáo dục môi trường 20
1.2.5. Chất lượng giáo dục môi trường 22
1.3. Đặc điểm tâm lý học sinh THPT 24
1.4. Giáo dục môi trường cho học sinh THPT 26
1.4.1. Vai trò và ý nghĩa của GDMT cho học sinh THPT 26
1.4.2. Mục tiêu GDMT cho học sinh THPT 28
1.4.3. Những quan điểm nguyên tắc trong GDMT 30
1.4.4. Nội dung GDMT ở trường THPT 32
1.4.5. Các phương pháp GDMT và hình thức tổ chức GDMT trong nhà
trường THPT 34
1.4.6. Sử dụng phương tiện dạy học trong giáo dục môi trường 37
1.4.7. Kiểm tra, đánh giá trong GDMT ở nhà trường THPT 39
1.4.8. Các điều kiện để tiến hành GDMT trong nhà trường THPT 40
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GDMT CHO HỌC SINH
Ở CÁC TRƢỜNG THPT HUYỆN SÔNG LÔ – VĨNH PHÚC 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MT
BVMT
GDMT
GD – ĐT
DH
GD
GV
HS
LHQ
THPT
UNESSCO
UNDP
UNEP
SXKD
CNH –HĐH
ÔNMT
PP
GDNGLL
SGK
TNTN
TN&MT
Môi trường
Bảng 2.4: Nhận thức của GV về các con đường GDMT cho học sinh THPT
Bảng 2. 5: Nhận thức của GV về khả năng lồng ghép GDMT vào các môn học
Bảng 2.6: Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học của GV khi giảng
dạy những bài học có lồng ghép nội dung GDMT
Bảng 2.7: Thực trạng sử dụng các phương tiện dạy học của GV khi giảng dạy
những bài học có lồng ghép nội dung GDMT.
Bảng 2.8: Thực trạng tổ chức các hoạt động ngoại khoá nhằm GDMT cho học
sinh các trường THPT huyện Sông Lô
Bảng 2.9: Nhận thức của học sinh về các vấn đề môi trường và BVMT
Bảng 2.10: Thái độ của HS đối với những hành động ảnh hưởng tới môi trường
Bảng 2.11: Thói quen và hành vi tham gia BVMT của học sinh
Bảng 3.1: Sự cần thiết và mức độ quan trọng của các biện pháp nâng cao chất
lượng GDMT trong các trường THPT
Bảng 3.2: Tính khả thi của các biện pháp nâng chất lượng GDMT trong các
trường THPT huyện Sông Lô – Vĩnh Phúc
Sơ đồ 1.1: Các phương pháp giáo dục môi trường (Nguồn UNESCO)
Sơ đồ 1.2: Các điều kiện cơ bản trong GDMT
Sơ đồ 2.1 Nhận Thức của GV về mục tiêu GDMT cho học sinh THPT
Sơ đồ 2.2: Thái độ và mức độ tham gia các hoạt động GDMT do nhà trường
tổ chức của học sinh THPT
Sơ đồ 2.3: Nhận xét của GV về nhận thức, thái độ và hành vi tham gia BVMT
của HS các trường THPT huyện Sông Lô
1
MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
1. Môi trường đang trở thành vấn đề chung của nhân loại được cả thế giới
quan tâm. Việt Nam cũng là nước có môi trường đang bị huỷ hoại nghiêm
trọng, gây nguy cơ mất cân bằng sinh thái, cạn kiệt tài nguyên, ảnh hưởng đến
chất lượng cuộc sống và sự phát triển của đất nước. Một trong những nguyên
3. Là huyện miền núi của tỉnh Vĩnh Phúc, Huyện Sông Lô được thành lập
và chính thức đi vào hoạt động từ ngày mùng 1/4/2009. Là huyện mới nên điều
kiện kinh tế - xã hội, giáo dục của huyện còn gặp rất nhiều khó khăn. Công tác
giáo dục nói chung và GDMT tại các trường THPT nói riêng trên địa bàn huyện
chưa được quan tâm đúng mức và còn nhiều tồn tại, bất cập: Hoạt động DGMT
ở các trường THPT nơi đây mới chỉ mang tính chất phong trào, chưa có biện
pháp hiệu quả; đội ngũ giáo viên chưa được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên về
hệ thống nghiệp vụ và chuyên môn trong công tác GDMT… làm cho công tác
GDMT của các nhà trường nơi đây chưa đạt đạt được hiệu quả cao, chưa đáp
ứng được yêu cầu của thực tiễn GDMT hiện nay.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để khắc phục được những tồn tại, bất cập và
nâng cao được chất lượng công tác GDMT ở các nhà trường nói chung và các
trường THPT trên địa bàn huyện Sông Lô nói riêng? Đây chính là lý do khiến
chúng tôi quyết định lựa chọn vấn đề: “Giáo dục môi trƣờng cho học sinh các
trƣờng THPT huyện Sông Lô – Vĩnh Phúc” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác GDMT cho học sinh
ở các trường THPT trên địa bàn huyện Sông Lô – tỉnh Vĩnh Phúc. Đề tài xây
dựng một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng GDMT cho học sinh THPT
phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và các nhà trường THPT trên địa
bàn huyện Sông Lô -Vĩnh Phúc.
3
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình GDMT cho học sinh THPT.
- Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
GDMT cho học sinh THPT.
- Đối tượng khảo sát: Điều tra lấy ý kiến của 117 giáo viên, cán bộ quản
lý và 300 học sinh (100 HS khối 10, 100 HS khối 11, 100 HS khối 12) ở hai
trường: THPT Bình Sơn và THPT Sáng Sơn thuộc huyện Sông Lô.
Chúng tôi sử dụng nhóm phương pháp này để thu thập và tập hợp các
thông tin lý luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Các phương pháp cụ thể
như:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
- Phương pháp phân loại và hệ thống hoá lý thuyết
- Phương pháp giả thuyết
- Phương pháp mô hình hóa lí thuyết
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (bằng ankét).
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động.
7.3. Phương pháp xử lí các số liệu bằng toán thống kê
8. Những đóng góp mới của đề tài
* Về mặt lý luận: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về môi trường,
BVMT, GDMT cho học sinh nói chung và cho học sinh THPT nói riêng.
* Về mặt thực tiễn:
- Phản ánh thực trạng công tác GDMT ở các trường THPT trên địa bàn
huyện Sông Lô – Vĩnh Phúc và chỉ ra được nguyên nhân cơ bản của thực
trạng đó.
- Xây dựng được cơ sở khoa học và cách thức thực hiện một số biện pháp
nhằm nâng cao chất lượng GDMT cho học sinh THPT.
5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG
1.1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Giáo dục môi trường trên thế giới
Stockholm về Môi trường và Con người gồm 7 điểm và 26 nguyên tắc, trong
đó nguyên tắc thứ 19 đã chỉ rõ: “GDMT cho thế hệ trẻ cũng như người lớn
tuổi, quan tâm thích đáng tới những người tàn tật là một việc làm hết sức cần
thiết”. Đến ngày15/12/1972 chương trình nghiên cứu của LHQ về môi trường
(UNEP) được thành lập. Sau Hội nghị Stockholm, hàng loạt các hội nghị sau
đó của các tổ chức quốc tế diễn ra tại nhiều nước trên thế giới đều dành sự
quan tâm rất lớn đến vấn đề bảo vệ môi trường và giáo dục môi trường trong
giai đoạn hiện nay:
- Năm 1975, Hội nghị quốc tế về GDMT họp ở Belgrade (Nam Tư) đã
khởi thảo một chương trình quốc tế về GDMT (chương trình IEEP). Các mục
đích, mục tiêu, những khái niệm cốt yếu và các nguyên tắc hướng dẫn của
chương trình được đưa vào một văn kiện của Hội nghị có tên là “Hiến chương
Belgrade - một hệ thống nguyên tắc toàn cầu cho GDMT”. Một tập hợp các
mục tiêu ngắn gọn, bao quát về GDMT được đưa ra tại Belgrade có thể tóm
tắt như sau:
1) Nâng cao nhận thức và quan tâm tới mối quan hệ tương tác về kinh
tế, xã hội, chính trị, sinh thái giữa nông thôn và thành thị.
2) Cung cấp cho mỗi cá nhân cơ hội tiếp thu kiến thức, những giá trị, quan
niệm, trách nhiệm và các kĩ năng cần thiết nhằm bảo vệ và cải tạo môi trường.
3) Tạo ra những mô hình ứng xử với môi trường cho các cá nhân, cũng
như toàn xã hội
7
- Tháng 10/1977, Hội nghị liên Chính phủ về DGMT do UNESCO tổ
chức họp tại Tbilisi (thủ đô Cộng hòa Gruzia) đã đưa ra tuyên ngôn về
GDMT trong đó có 41 khuyến nghị về chiến lược GDMT đối với các quốc
gia. Hội nghị đã khuyến cáo mỗi nước ưu tiên thành lập một tổ chức có hiệu
quả để chịu trách nhiệm triển khai GDMT. Hội nghị cũng đưa ra các ý kiến
đóng góp cho việc áp dụng rộng rãi hơn nữa GDMT trong chương trình giáo
dục chính thức và không chính thức. Sự kiện quan trọng này và những công
mạnh nhiệm vụ GDMT cho tất cả mọi người, đặc biệt cho thế hệ trẻ và việc
bồi dưỡng kiến thức, năng lực GDMT cho giáo viên các cấp.
- Tháng 6/1992, tại Rio De Janeiro (Brazin) LHQ đã tổ chức Hội nghị
Thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển với sự hội tụ chưa từng thấy
của chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế. Trong số hơn 1000 đại biểu
đại diện cho 178 quốc gia, có 116 nguyên thủ quốc gia. Hội nghị đã hội thảo
trên một phạm vi rộng về các đề tài và vấn đề môi trường. Có nhiều công bố
dành cho GDMT thông qua suốt các văn kiện. Một trong những kết quả chính
của Hội nghị là sự nhất trí rằng: Sự phát triển, giáo dục và môi trường phải là
một bộ phận thống nhất của quá trình học tập ở cả hai dạng chính thức và
không chính thức. Và một dự kiến được đưa ra là mọi chính phủ phải nỗ lực
phấn đấu để cập nhật hoá hoặc chuẩn bị các chiến lược nhằm mục đích kết
hợp môi trường và phát triển thành vấn đề trung tâm để đưa vào tất cả các cấp
giáo dục.
Tóm lại trên bình diện quốc tế GDMT đã được đề cập ở những góc độ sau:
+ Các nhà khoa học đều khẳng định vai trò quan trọng của GDMT và sự
cần thiết phải GDMT cho các đối tượng khác nhau, đặc biệt là cho thế hệ trẻ.
+ Các hội nghị quốc tế cũng đi đến thống nhất mục tiêu của GDMT là
nhằm giúp cho mọi người có được nhận thức, tri thức, ý thức trách nhiệm,
9
khả năng đánh giá các vấn đề nảy sinh về môi trường, có thói quen trong hành
vi và tự giác tham gia vào các hoạt động bảo vệ, cải thiện môi trường
+ Nội dung GDMT cũng được xác định tập trung ở một số chủ đề như:
mối quan hệ tương hỗ trong thiên nhiên, sự cân bằng trong thiên nhiên, hậu quả
của sự mất cân bằng trong thiên nhiên, sự cần thiết phải bảo tồn thiên nhiên.
+ Khẳng định GDMT cần phải đưa vào trường học ở tất cả các bậc
học và cho mọi đối tượng. Cần phải có những biện pháp và xây dựng
những chương trình về GDMT một cách hợp lý để đưa những nội dung
GDMT vào các trường học, nâng cao và bồi dưỡng năng lực GDMT cho
quốc dân”. Đây là một trong những giải pháp cơ bản để thực hiện nhiệm vụ
bảo vệ môi trường nước ta trong thời kỳ CNH – HĐH.
Thực hiện Chỉ thị 36 của Bộ Chính trị, ngày 02/10/1998 Bộ Giáo dục –
Đào tạo đã có Quyết định số 6621/QĐ-BGDĐT-KHCN ngày 30/12/2002 phê
duyệt "Chính sách và chương trình hành động giáo dục môi trường trong
trường phổ thông giai đoạn 2001 - 2010". Theo Chương trình này, thì giai
đoạn 2001 - 2005 là giai đoạn chuẩn bị, trong đó có các công việc như: soạn
thảo và ban hành các văn bản pháp quy; xây dựng chương trình, nội dung,
phương pháp giáo dục môi trường; bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý về
giáo dục môi trường; xây dựng tổ chức và cơ sở vật chất; tiến hành các hoạt
động ngoại khóa, các chiến dịch truyền thông môi trường; chỉ đạo điểm. Từ
năm 2006 trở đi mới là triển khai mở rộng trong phạm vi toàn quốc. Các
văn bản này bước đầu đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức,
triển khai các hoạt động GDMT ở các trường phổ thông và trường sư phạm
trong hệ thống giáo dục quốc dân.
11
Quyết định số 1363/QĐ - TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Đề án : “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống
giáo dục quốc dân” đã xác định rõ các mục tiêu, nội dung, phương thức giáo
dục đào tạo về bảo vệ môi trường trong đó: Đối với giáo dục trung học cơ sở
và trung học phổ thông: trang bị những kiến thức về sinh thái học, mối quan
hệ giữa con người với thiên nhiên; trang bị và phát triển kĩ năng bảo vệ và
gìn giữ môi trường, biết ững xử tích cực với môi trường sống xung
quanh…Việc giáo dục bảo vệ môi trường chủ yếu thực hiện theo phương thức
khai thác triệt để tri thức về môi trường hiện có ở các môn học trong nhà
trường. Nội dung giáo dục BVMT còn thực hiện ngoài nhà trường dưới nhiều
hình thức khác nhau nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi
trường cho toàn cộng đồng.
Như vậy có thể thấy công tác GDMT trong hệ thống giáo dục quốc dân
trường của Đại học Thuỷ Lợi, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Lâm
Nghiệp, Đại học Nông nghiệp Hà Nội… . ở Thành phố Hồ Chí Minh khoa
môi trường cũng được thành lập ở các trường Đại học Khoa học Tự nhiên,
Đại học Bách khoa , Đại học Kỹ thuật
Song song với việc giảng dạy trong nhà trường, nhiều đề tài nghiên cứu
khoa học về GDMT cấp nhà nước và cán bộ quản lý cũng đã và đang được
thực hiện, có tác dụng mở rộng nội dung và hiệu quả của công tác GDMT:
Năm 1991 – 1995 chương trình nghiên cứu cấp nhà nước về BVMT
(KT.02) do Bộ Đại học – Trung học chuyên nghiệp chủ trì đã triển khai một
đề tài nghiên cứu khoa học quan trọng về GDMT (KT02, 07) với các vấn đề
cơ bản như: nâng cao nhận thức về môi trường cho đông đảo nhân dân;
DGMT trong hệ thống các trường phổ thông; GDMT trong các trường đại học
và chuyên nghiệp; GDMT trong các trường thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Nội
13
vụ và các đoàn thể nhân dân. 6 hướng nghiên cứu của đề tài đã đưa ra những
căn cứ khoa học để nâng cao hiệu quả giáo dục - đào tạo, phổ cập kiến thức
môi trường ở Việt Nam và trên cơ sở đó xác định mục tiêu, nội dung, hình
thức GDMT cho tất cả các đối tượng trong xã hội.
Năm 1994, với sự hỗ trợ của Cục Môi trường, Bộ Khoa học – Công
nghệ và Môi trường, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã nghiên cứu đề tài
“Thiết kế và thử nghiệm nội dung GDMT ở bậc tiểu học”. Các tác giả tham
gia nghiên cứu đề tài đã bước đầu xác định những nội dung chính cần được
triển khai ở bậc tiểu học và biên soạn mẫu về GDMT ở một số môn học như:
Đạo đức, Giáo dục sức khoẻ, Tự nhiên – xã hội. Năm học 1996 – 1997, Viện
Khoa học Giáo dục Việt Nam tiếp tục nghiên cứu đề tài “Phương thức hoạt
động giáo dục môi trường ở mẫu giáo và tiểu học”. Đề tài này đã đưa ra
những kiến nghị về các phương thức DGMT và điều kiện cần thiết để tiến
hành các phương thức GDMT có hiệu quả. Đến Năm 1998 – 2000. Viện
Khoa học Giáo dục Việt Nam tiếp tục triển khai đề tài “Nghiên cứu xây dựng
dựng cơ sở khoa học của việc xác định các hình thức và phương pháp GDMT
thông qua việc tích hợp giảng dạy các bài học của môn địa lý có liên quan đến
môi trường. Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Tâm (2005) với đề tài:
“Một số biện pháp quản lý hoạt động GDMT ở các trường THPT huyện
Thạch Thất, tỉnh Hà Tây” lại tập trung nghiên cứu các biện pháp để người
hiệu trưởng có thể nâng cao chất lượng quản lý hoạt động GDMT của giáo
viên trong nhà trường, qua đó nhằm nâng cao chất lượng GDMT trong các
trường THPT trên địa bàn huyện Thạch Thất, một số biện pháp được tác giả
đưa ra như: xây dựng kế hoạch DGMT của nhà trường gắn với xây dựng kế
hoạch dạy học bộ môn; Tăng cường công tác kiểm tra thông qua việc dự giờ
của giáo viên ở các bộ môn, bài học có kiến thức liên quan đến GDMT; tăng
15
cường bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn cho đội ngũ giáo viên về các hình
thức và phương pháp GDMT cho học sinh
Cùng với các đề tài nghiên cứu, trong những năm qua, nước ta cũng tổ
chức nhiều hội nghị khoa học về GDMT. Tháng 6/1982, Trung tâm bảo vệ
thiên nhiên và môi trường của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại
học Quốc gia Hà Nội) đã tổ chức hội thảo khoa học dài ngày, trong đó tập
trung nhiều đến vấn đề GDMT. Nhiều báo cáo về GDMT đã được trình bày
như: Báo cáo về GDMT trong chương trình các môn học ở trường phổ thông
của tác giả Hoàng Đức Nhuận; Báo cáo về GDMT ở Việt Nam của tác giả
Đào Văn Tiến… Trong 2 ngày 26 – 27/9/1995. Hội nghị khoa học về giáo
dục môi trường trong trường học do Bộ Giáo dục & Đào tạo và Bộ Khoa học
– Công nghệ và Môi trường tổ chức tại Hà Nội đã nêu lên những nét chung về
thực trạng môi trường và GDMT ở các địa phương và đề xuất các giải pháp
về vấn đề này trong thời gian sắp tới. Hội nghị này đã đưa ra khuyến nghị về
GDMT trong các trường học, vận động các địa phương nhanh chóng hưởng
ứng kế hoạch triển khai GDMT của quốc gia, thực hiện triển khai GDMT tại
các địa phương trong cả nước.
1.2. Một số khái niệm công cụ của vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Khái niệm môi trường
Với cách hiểu rộng nhất “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và các
yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có
ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên
nhiên” (Luật Bảo vệ môi trường).
Tuy nhiên, khái niệm môi trường sống của con người được dùng trong
những trường hợp cụ thể còn tuỳ thuộc vào mục đích, nội dung nghiên cứu và
17
được mở rộng theo sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi dân tộc, mỗi
quốc gia trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau. Vì vậy mà khái niệm Môi
trường còn được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng tựu chung lại không
nằm ngoài định nghĩa khái quát nêu trên.
Trong giáo dục, môi trường chứa đựng phạm vi rộng lớn. Theo
UNESCO thì môi trường sống của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống
tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (tập quán,
niềm tin…), trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các nguồn tài
nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình. Như
vậy, môi trường sống của con người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và
phát triển cho một thực thể sinh vật là con người mà còn là “khung cảnh của
cuộc sống, của lao động và sự vui chơi giải trí của con người” (13).
Như vậy, môi trường sống của con người theo nghĩa rộng là tất cả
các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con
người như: tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh
quan, quan hệ xã hội…Với nghĩa hẹp, thì môi trường sống của con người
chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và nhân tố xã hội trực tiếp liên quan tới
chất lượng cuộc sống của con người như: số m
2
nhà ở, chất lượng bữa ăn