Các khái niệm về du lịch bền vững - Pdf 18

CÁC KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH BỀN
VỮNG HỌC PHẦN 1
1.1 TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH BỀN VỮNG

Du lịch bền vững là gì?
Những nhu cầu về du lịch bền vững?
Những lợi ích và đe doạ của du lịch

1.2 TÌM HIỂU VỀ CỘNG ĐỒNG

Ai là các bên liên quan?
Tìm hiểu cộng đồng địa phương
Tranh thủ hỗ trợ và nuôi dưỡng các mối quan hệ
Du lịch bền vững và cộng đồng địa phương

1.3 TÌM HIỂU CÁC BÊN LIÊN QUAN KHÁCVai trò của chính phủ

sustainable tourism and ecotourism. The International Ecotourism
Society.

Christ, Costas, Oliver Hillel, Seleni Matus, and Jamie Sweeting. 2003.
Tourism and Biodiversity, Mapping Tourism’s Global Footprint.
Conservation International and UNEP, Washington, DC, USA.

Department of Environment and Natural Resources, Bureau of
Fisheries and Aquatic Resources of the Department of Agriculture,
and Department of the Interior and Local Government. 2001.
Philippines Coastal Management Guidebook Series No. 7: Managing
Impacts of Development in the Coastal Zone. Coastal Resource
Management Project of the Department of Environment and Natural
Resources, Cebu City, Philippines.

Drumm, Andy and Alan Moore. 2005. An Introduction to Ecosystem
Planning, Second Edition. The Nature Conservancy, Arlington,
Virginia, USA.

Gutierrez, Eileen, Kristin Lamoureux, Seleni Matus, and Kaddu
Sebunya. 2005. Linking Communities, Tourism, & Conservation: A
Tourism Assessment Process - Tools and Worksheets. Conservation
International and the George Washington University.

IUCN. 2004. Managing Marine Protected Areas: A Toolkit for the
Western Indian Ocean. IUCN Eastern African Regional Programme,
Nairobi, Kenya.

UNEP T i P b it U it d N ti E i t l
Lời cảm ơn

Ngược lại, du lịch bền vững được lập kế hoạch một cách cẩn trọng để mang
những lợi ích đến cho cộng đồng địa phương, tôn trọng văn hoá địa phương,
bảo tồn nguồn lợi tự nhiên, nguồn lợi trực tiếp được mang đến cho cộng đồng
địa phương và KBTB và giáo dục cả du khách và cư dân địa phương về tầm
quan trọng của bảo tồn.

Các bên liên quan có những mối quan tâm hoặc gắn liền với những quyết định
được đưa ra – nên được tham gia vào tất cả các giai đoạn trong quá trình lập kế
hoạch cho bất kỳ nỗ lực quản lý nào trong các KBT, bao gồm du lịch bền vững
bên trong và xung quanh các KBTB. Các bên liên quan bao gồm các thành viên
cộng đồng địa phương, chính quyền, Tổ chức phi chính phủ cũng như ngành du
lịch, du khách và nhiều nhóm khác nữa. Bước đầu tiên trong việc lập kế hoạch
cho du lịch bền vững là xác định các bên liên quan và giao tiếp cởi mở với họ.
Các cộng đồng địa phương, các Tổ chức phi chính phủ và các ngành du lịch cần
phối hợp để tạo ra các xí nghiệp kinh doanh về du lịch bền vững mà có các lợi
ích địa phương và cũng có tính khả thi về mặt kinh tế.

Bước đầu tiên trong quá tình lập kế hoạch là ‘hướng tầm nhìn” - định hướng tầm
nhìn về một viễn cảnh du lịch tốt nhất có thể có cho cộng đồng và KBTB của
Bạn.

CÁC KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH BỀN VỮNG
HỌC PHẦN 14
Mục tiêu huần luyện

bản của việc lập kế hoạch quản lý KBTB. Bây giờ chúng ta sẽ sang phần lập kế
hoạch du lịch bền vững. Trong vài ngày tới, chúng ta sẽ thảo luận về những lợi
ích và chi phí của du lịch bền vững đối với KBTB và cộng đồng địa phương và
cách khuyến khích các bên liên quan và cộng đồng tham gia làm du lịch. Một chủ
đề sẽ được học là cách áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chung mà đã được trình
bày trong các trường hợp riêng về du lịch bền vững. Nhưng trước hết cần phải
biết: du lịch bền vững là gì và tại sao chũng ta lai quan tâm đến nó?

Du lịch bền vững là:

Việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có
trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên
(và tất cả những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ
và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ
du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về
kinh tê-xã hội của cộng đồng địa phương.
(World Conservation Union,1996)

Du lịch trở thành một hoạt động kinh tế quan trọng ở bên trong và xung quanh
các KBTB và các vùng bảo vệ khác trên toàn thế giới. Các chương trình du lịch
bền vững được lập kế hoạch tốt sẽ cung cấp những cơ hội cho du khách tìm
hiểu về các vùng tự nhiên, cộng đồng địa phương và học thêm về tầm quan
trọng của công tác bảo tồn biển và văn hoá địa phương. Hơn thế nữa, các hoạt
động du lịch bền vững có thể tạo ra những thu nhập cho các cộng đồng địa
phương và các KBTB. Du lịch bền vững có những hứa hẹn riêng như là một cơ
chế cần thiết cho cộng đồng địa phương được hưởng lợi từ các nguồn lợi đa
dạng sinh học và môi trường trong KBTB, vì thế họ có thể thích thú hơn trong
việc bảo tồn những nguồn lợi này.

Du lịch bền vững khác với du lịch đại chúng như thế nào?

Ngược lại, du lich bền vững cân nhắc tìm kiếm để giảm thiểu đến mức tối thiểu
các tác động xấu của du lịch, trong khi đóng góp cho bảo tồn và các giá trị tốt
cho cộng đồng địa phượng, cả về kinh tế và xã hội. Du lịch đại chúng không
cung cấp nguồn quỹ tài trợ cho cả các chương trình bảo tồn lẫn cộng đồng địa
phương bảo vệ vùng tránh khỏi những hoạt động và phát triển mà có thể gây hại
đến cảnh đẹp tự nhiên của vùng. Những cơ hội và các đe doạ có thể chỉ được
điều khiển thông qua du lịch bền vững đã được lập kế hoạch và quản lý cẩn
thận.

Du lịch đai chúng
1. Có một mục đích: lợi tức
2. Thường không được lập kế hoạch từ trước; “chỉ đến lúc xảy ra”
3. Định hướng đến du khách
4. Điều khiển bởi các nhóm bên ngoài
5. Tập trung làm giải trí cho du khách
6. Không ưu tiên cho bảo tồn
7. Không ưu tiên cho cộng đồng
8. Phần lớn lợi tức được đưa về cho các nhà điều hành và đầu tư từ bên
ngoài

Du lịch bền vững
1. Được lập kế hoạch với 3 mục đích: lợi tức, môi trường và cộng đồng (3
chân)
2. Thường được lập kế hoạch trước cùng với sự tham gia của các bên liên
quan
3. Định hướng đến địa phương
CÁC KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH BỀN VỮNG

nhập công bằng và ổn định cho cộng đồng địa phương cũng như càng nhiều bên
liên quan khác càng tốt. Nó mang lợi ích cho người chủ, cho nhân viên và cả
người xung quanh. Nó không bắt đầu một cách đơn giản để sau đó sụp đổ
nhanh do các hoạt động kinh doanh nghèo nàn.

Một đơn vị kinh doanh du lịch mà có đủ 3 tiêu chí trên thì “sẽ kinh doanh tốt nhờ
làm tốt”. Điều này có nghĩa là việc thực hiện kinh doanh du lịch trong nhiều cách
có thể không phá huỷ các nguồn lợi tự nhiên, văn hoá và kinh tế, nhưng cũng
khuyến khích đánh giá cao những nguồn lợi mà du lịch phụ thuộc vào. Việc kinh
doanh mà được thực hiện dựa trên 3 tiêu chí này có thể tăng cường việc bảo tồn
nguồn lợi tự nhiên, đánh giá cao giá trị văn hoá và mang lợi tức đến cho cộng
đồng và có thể cũng sẽ thu lợi tức.

Điểm điển cứu: Du lịch đại chúng không được lập kế hoạch ở
Cancun, Mexico
Trước khi được phát triển như là các khu nghỉ mát cho du khách vào những năm
1970, chỉ có 12 gia đình sống trên hòn đảo Cancun. Toàn vùng này bấy giờ bao
gồm Bang Quintana Roo - được hình thành gồm những rừng nhiệt đới khá
nguyên vẹn và những bãi biển hoang sơ và được định cư bởi 45.000 cư dân địa
phương của cộng đồng Maya. Ngày nay, Cancun có hơn 2.6 triệu du khách
CÁC KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH BỀN VỮNG
HỌC PHẦN 18
hàng năm và có hơn 20.000 phòng khách sạn và cộng đồng định cư lâu dài ở
đây là hơn 300.000. Những tác động môi trường và xã hội được xem là tầm

đang được dự kiến là sẽ tăng gấp đôi vào năm 2020. Tuy nhiên, những kết luận
này chỉ dựa trên những con số thống kê các điểm đến mà chỉ tập trung vào du
lịch quốc tế và vì thế mà một con số đáng kể về du lịch nội địa chưa được tính
vào. Những thống kế này có thể chưa đánh giá hết được việc di chuyển du lịch
trong vùng bằng đường bộ so với di chuyển bằng máy bay hay tàu thuỷ. WTO
đánh giá rằng tỷ lệ của du lịch nội địa so với du lịch quốc tế là khá cao 10:1 -
mặc dù rằng tỷ lệ này có thể dao động mạnh từ nước này sang nước khác.

Điều thú vị để ghi nhớ, đặc biệt là trong những thời gian này, là du lịch vẫn đang
được tiếp tục mở rộng trong suốt nữa thế kỷ qua cho dù có những thay đổi về
CÁC KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH BỀN VỮNG
HỌC PHẦN 19
cải cách và chiến tranh. Có thể du lịch nhận được sự kiểm tra lớn nhất sau sự
kiện ngày 11/9/2001, cuộc khủng bố xảy ra tại Thành phố New York,
Washington, Hoa Kỳ; Những tấn công tiếp theo sau đó ở Tây Ban Nha, Anh
Quốc và Bali; những chiến tranh liên quan đến các mâu thuẫn ở Iraq,
Afghanistan, và những vùng khác; Sự giảm mạnh kinh tế toàn cầu; những khó
khăn cho ngành hàng không đang tăng do các tiến trình về an ninh và giá dầu
tăng cao; các dịch bệnh bùng nổ như cúm gia cầm. Kết quả là du lịch toàn cầu bị
giảm 0,5% vào năm 2001, nhưng sau đó một năm thì ngành này cũng được
phục hồi và bắt đầu tăng chậm trở lại. Năm 2004, du lịch toàn cầu bật nhanh trở
lại và bắt đầu tăng trưởng nhanh; Nữa đầu năm 2006, du lịch toàn cầu đã tăng
4.5%.


Lan tăng 29% trong 3 tháng đầu năm của 2006. Sự tăng trưởng du lịch nhanh ở
CÁC KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH BỀN VỮNG 10
HỌC PHẦN 1
trong vùng cũng nhờ vào sự tăng du lịch liên tục ở Ấn Độ (+15%), sự tự do trong
việc đi lại của du khách ở trong đất liền của Trung Quốc và sự phát triển của các
dich vụ vận chuyển hàng không giá rẻ trong khu vực.

Ở khu vực Đông Nam Á, Cambodia (+19%), Philippines (+13%), Singapore
(+15%), và Vietnam (+12% đến tháng 5) tất cả đều được tăng 2 con số ở những
điểm đến của du lịch quốc tế trong nữa đầu năm 2006 và trong một số năm. Như
thế, sự tăng trưởng du lịch trong vùng đang gia tăng nhanh một cách bất thường
và không có dấu hiệu giảm.

Sử dụng nguồn lợi của du khách trên toàn thế giới
Chỉ số tiêu dùng trung bình ở một số nước, thống kế của WTO, và đánh giá du
lịch quốc gia có các điểm đến quốc tế, Chương trình môi trường của Liên hợp
quốc (UNEP) dự kiến đánh giá một số con số sử dụng nguồn lợi lớn của du lịch.

Nếu ngành du lịch toàn cầu được xem như 1 đất nước, nó sẽ
sử dụng nguồn lợi ở cấp độ như một nước phát triển ở phía
bắc.

Trải qua một năm, du khách nội địa và quốc tế trên toàn thế giới:
• Sử dụng đến 80% năng lượng sử dụng cơ bản hàng năm của Nhật Bản

HỌC PHẦN 1
vùng tự nhiên, những dạng tăng trưởng này là mối quan tâm riêng sẽ đe doạ
đến các hệ sinh thái. Một số chỉ số cho sự tăng trưởng này là:

• Ở những quốc gia mà ngành du lịch chủ yếu là “du lịch sinh thái” có tỷ lệ
tăng trưởng du lịch rất cao. Như Costa Rica, du lịch tăng 400% từ 1986
cho đến 1991 và Belize, số lượng du khách tăng 600% từ 1986 đến 1996.
• Khảo sát của các nhà điều hành du lịch hải cảng nước ngoài đóng tại Hoa
Kỳ chỉ ra rằng số lượng nhà điều hành du lịch tăng 820% từ 1970 đến
1994, hoặc trung bình 34% mỗi năm.

Du khách quan tâm đến du lịch bền vững thường đến từ đâu?
Du khách thể hiện mối quan tâm lớn đến sự bền vững và di chuyển dựa vào tự
nhiên chủ yếu đến từ các nước sau:

1. Hoa Kỳ
2. Anh Quốc
3. Đức
4. Australia
5. Pháp
6. Thuỵ Điển
7. Hà Lan
8. Đan Mạch
9. Nauy
10. Áo
11. Canada
12. New Zealand

Những nước này đã đóng góp gần ¼ số du khách đến các vùng đất của khu vực
Đông Nam Á và tỷ lệ này đang tăng lên. Từ 1995, sự tăng trưởng từ những

của họ, trước tiên họ muốn học về các loài đang bị nguy hiểm và các sinh cảnh
sống đang bị đe doạ. Họ muốn hiểu về những thách thức phức tạp của công tác
bảo tồn và muốn có nhiều kinh nghiệm hơn về nó.

Du khách có xu hướng tìm các điểm đến xa xôi. Họ đang muốn có thêm những
trải nghiệm về những con đường mòn và tìm kiếm các động vật hoang dã và
những vùng chưa bị tàn phá. Xét về mặt văn hoá, nhiều du khách muốn trốn
tránh sự nhàm chán các môi trường du lịch tương đồng nhau và muốn có những
trải nghiệm về đa dạng sinh học và sự phong phú của văn hoá địa phương.
Nhiều du khách sau đó trở thành những nhà hoạt động xã hội. Khi có những trải
nghiệm về các đời sống hoang dã đang bị đe doạ hoặc về văn hoá địa phương
và tìm hiểu về những hoàn cảnh khó khăn, họ muốn giúp đỡ. Các du khách
trong nước và quốc tế tìm kiếm những chương trình giáo dục môi trường, họ vui
vẻ trả phí vào tham quan và thích mua những sản phẩm và dịch vụ của địa
phương để hỗ trợ thêm cho cộng đông.

Trên cả “du lịch tự nhiên”: là nhu cầu về sự bền vững thực sự?
Những thống kế ở trên được rút ra từ những nghiên cứu về “du lịch tự nhiên”
hoặc “du lịch sinh thái” – du lịch mà tập trung hướng vào việc đánh giá cao các
vùng hoang sơ bao gồm các hoạt động như nhìn ngắm động vật hoang dã, đi bộ
và bơi có ống thở. Nhưng phần lớn các du khách thật sự quan tâm nếu việc phát
triển du lịch ở cộng đồng được thực hiện theo cách bền vững ?

Một cách tái khẳng định, những nghiên cứu đã xác định những gì họ làm. Trong
các khảo sát, nhiều du khách Anh Quốc nói rằng họ sẽ rất sẵn sàng trả nhiều
hơn cho những chuyến tham quan của họ đến các vùng nước ngoài nếu những
khoản tiền phụ thêm này giúp đảm bảo được tiền lương và điều kiện làm việc
cho các nhân viên trong các khu nghỉ mát hoặc khách sạn cũng như việc bảo vệ
môi trường. Trong số 2000 khảo sát với 2000 người trưởng thành ở Anh Quốc
(đại diện của Tearfund thực hiện), gần một nữa số người trả lời nói họ rất sẵn

trường của vùng họ đến tham quan, theo nghiên cứu khảo sát của Reiseanalyse
hàng năm. Khảo sát năm 2002, 65% người Đức trả lời đánh giá cao các bãi
biển và nước sạch, trong khi đó thì 42% nói họ muốn có thể tìm những nơi
ở thân thiện với môi trường.

Kết quả từ những khảo sát này là rất khuyến khích. Họ xác định rằng những du
khách không chỉ hỗ trợ cho khái niệm bền vững mà họ còn sẵn lòng trả cao hơn
giá thực tế cho sự bền vững này. Lời kết, nhu cầu của du khách nói chung là
lớn và nhu cầu về du lịch bền vững thì đang được tăng lên.

Chúng ta sang phần tiếp theo về các câu hỏi bình luận: Du lịch có tốt cho KBTB
và công đồng địa phương không?

Những lợi ích của du lịch và những đe doạ cho các KBTB

Du lịch có thể mang lại những lợi ích cho KBTB và cộng đồng địa phương,
nhưng cũng gây ra một số vấn đề. Thách thức của du lịch bền vững là nâng cao
tối đa các lợi ích nhưng cũng giảm thiểu các chi phí. Trong phần này chúng ta sẽ
xem xét những lợi ích và đe doạ trên quan điểm của KBTB; Chúng ta sẽ xem xét
chi tiết trên quan điểm của cộng đồng địa phương trong ngày hôm sau.

Tài liệu 1.4 - Những tác động từ du lịch

Error!
CÁC KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH BỀN VỮNG
đặc biệt; có thể trên tàu, hoặc có thể cộng thêm vào chi phí của những chuyến
dã ngoại hoặc phí sử dụng cho các khách lặn và bơi có ống thở. Nói chung,
khách nước ngoài có thể được thu nhiều hơn khách trong nước.

Thuê mướn của các tổ chức tư nhân có thể bao gồm các quầy hàng lưu niệm,
việc cho thuê tàu, thức ăn hoặc các tour. Thông thường là do tư nhân đầu tư và
quản lý với một tỷ lệ được phân chia về KBTB. KBTB không có quyền đối với
các hoạt động (hoặc việc cho thuê mướn) ở trên đất liền, vì thế mà những cam
kết về việc chia sẻ lợi nhuận từ các hoạt động trên bờ là rất khó. Về tàu và các
nhóm sử dụng như bơi lặn có khí tài, những hoạt động trực tiếp trong KBTB thì
việc cam kết thu phí có thể được đảm bảo dễ dàng hơn.

Quyên góp
có thể được thu hút để hỗ trợ cho một số chiến dịch đặc biệt, như
việc kêu gọi tài trợ cho việc xây dựng trung tâm du khách, một chương trình
“chấp nhận một loài” hoặc được thu hút để hỗ trợ một số hoạt động quản lý cơ
bản đang được tiến hành. Thời gian tốt nhất để thu hút các hoạt động quyên góp
này là ngay sau khi du khách đã hưởng thụ những giá trị tự nhiên độc đáo của
KBTB và cảm giác cần đóng góp cho những nỗ lực bảo tồn biển.
CÁC KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH BỀN VỮNG 15
HỌC PHẦN 1
2. Tuyển dụng
Du khách có thể mang đến những công việc mới cho vùng, đây được xem là lợi
ích lớn nhất cho cộng đồng địa phương. Để đáp ứng được nhu cầu của du

trường. Những khảo sát về du khách cho biết rằng hướng dẫn viên tốt là nhân tố
quan trọng cho sự thành công của chuyến tham quan. Ví dụ: vào năm 1996,
RARE - Trung tâm bảo tồn nhiệt đới yêu cầu 60 nhóm bảo tồn ở Châu Mỹ La
Tinh để xác định ra những cản trở khách quan cấp bách nhất cho việc phát triển
du lịch sinh thái (hợp phần quan trọng nhất của du lịch bền vững); sự thiếu hụt
về các hướng dẫn viên tự nhiên được đào tạo được xếp thứ 2 trong số những
mối quan tâm này.

Trung tâm du khách bằng những trang thiết bị được in ấn, trưng bày và những
video là những phương tiện rất tốt cho công tác giáo dục môi trường. Những
bảng biểu dựng ở các bãi biển có thể truyền đạt những thông tin quan trọng về
CÁC KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH BỀN VỮNG 16
HỌC PHẦN 1
sinh học và những thông điệp về bảo tồn. Việc thuyết minh cho những du khách
đang trở nên sáng tạo và có sự trao đổi 2 bên.

Giáo dục môi trường là cơ hội quan trọng đối với du khách trong nước. Đó có thể
là những học sinh phổ thông đang tìm hiểu về nguồn lợi mà có giá trị trong cuộc
sống hằng ngày của họ, hoặc những du khách từ những vùng lân cận đang tìm
hiểu về ý nghĩa của các vùng bảo tồn quốc gia, những công dân là những đối
tượng chính. Các thông điệp bảo tồn có tính cấp thiết đặc biệt cho họ. Du lịch
bền vững có thể nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương về các giá trị
của KBTB và những nhu cầu về bảo tồn, thông thường kết quả là những nỗ lực
về bảo tồn địa phương được tốt hơn như việc hạn chế các rác thải. Nhận thức

tượng này được gọi là “rò rỉ” lợi tức. Nếu sự rò rỉ này là cao thì sẽ có rất ít sự hỗ
trợ của cộng đồng địa phương, cho KBTB hoặc công tác bảo tồn biển. Cho dù

Trích đoạn PHÁT TRIỂN TẦM NHÌN CHO DU LỊCH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status