giúp học sinh viết đúng các tiếng có phụ âm đầu là “d” hoặc “r” hay “ gi - Pdf 18

Phần I : Mở đầu
I/ Lí do chọn đề tài:
Trong khi dạy Tiếng Việt, chúng ta hẳn đã biết chính tả là một
phân môn rất quan trọng, nó giúp cho học sinh hoàn thiện quá trình
đọc thông, viết thạo.Chính tả là phân môn có tích chất công cụ, tích
chất thực hành, làm cơ sở cho việc dạy học các môn khác của Tiếng
Việt. Cùng với phân môn tập viết, chính tả cung cấp kiến thức hoàn
thiện kĩ năng, tạo ra hình thức vật chất biểu hiện ngôn ngữ trong hoạt
động giao tiếp. Mục đích của chính tả là rèn khả năng “đọc thông,
viết thạo”, chủ yếu là viết đúng chuẩn mực chữ viết và dạng chữ viết
của ngôn ngữ. Mà chính tả Tiếng Việt chủ yếu là ghi âm tiết. Để viết
đúng chính tả, các em phải nắm được sự phân tích cấu tạo của âm
tiết. Nừu nắm được sự phân tích cấu tạo của âm tiết và thuộc bảng
chữ cái thì việc đọc thành tiếng hay đọc thầm từng âm tiết và biểu
hiện bằng cách kết hợp chữ cái thể hiện các âm đoạn theo trật tự của
chúng. Chính vì vậy, phân môn chính tả được coi trọng hàng đầu. Để
đạt kết quả cao khi viết chính tả,các em cần nắm vững qui tắc chính
tả và hình thành kĩ năng kĩ xảo theo phương pháp có ý thức. Ngoài ra,
dạy chính tả không những luyện nét chữ mà còn rèn nết người, giúp
cho việc hình thành nhân cách tốt cho học sinh. Muốn đạt được điều
đó, trước tiên giáo viên phải cung cấp cho học sinh các qui tắc chính
tả cần thiết. Từ đó các em biết luyện tập, vận dụng trở thành kĩ năng,
kĩ xảo viết đúng chính tả.
Đã rất nhiều năm tôi từng theo dõi các em viết đúng chính tả,
tôi đã tìm tòi rất nhiều phương pháp để hướng dẫn các em viết đúng
chính tả các tiếng viết với phụ âm l/n và các tiếng viết với phụ âm s/x
rồi áp dụng rất có hiệu quả cao cho mọi đối tượng học sinh. Song tôi
tiếp tục nghiên cứu phương pháp giúp học sinh viết đúng các tiếng
viết với phụ âm d/ r/ gi. Tôi biết đây là cặp âm khi viết rất hay nhầm
lẫn phụ âm nọ với phụ âm kia. Qua quá trình theo dõi học sinh cùng
với mong muốn của mình, tôi đã nghiên cứu, thực nghiệm trên nhiều

giỏi, các em viết ít sai lỗi chính tả hơn, các em chỉ sai khi gặp từ nào
mà các em chưa biết nhiều hoặc chưa hiểu nghĩa của từ đó hay chưa
biết đến bao giờ; còn đối với học sinh trung bình yếu thì các em mắc
lỗi chính tả phổ biến hơn. Cho nên, tôi muốn thực nghiệm trên tất cả
các đối tượng học sinh ở lớp 3. Đối với học sinh trung bình yếu, tôi
trang bị cho các em dần dần các thủ thuật viết với “d” hoặc “r’ hay
“gi”cơ bản trước rồi mới nâng cao dần. Đối với học sinh khá giỏi, tôi
trang bị cho các em thêm những thủ thuật rộng hơn, giúp các em có
thể tự mình biết hệ thống các từ ngữ viết với d/r/gi. Có như vậy,kết
quả rèn viết đúng chính tả mới đạt tới đỉnh cao, các em mới có hứng
thú khi viết.
22
IV/ Nhiệm vụ nghiên cứu:
Căn cứ vào mục đích và đối tượng nghiên cứu học sinh,
căn cứ vào tình hình thực tế học sinh. Tôi muốn cùng các đồng
nghiệp của mình hãy tham gia chữa lỗi chính tả cho học sinh bằng
cách trang bị cho các em một số thủ thuật về nhận biết các chữ khi
nào thì viết với “d” , khi nào viết với “r’ hay khi nào thì viết với “gi”.
Từ đó, các em vừa phát âm chuẩn, vừa viết đúng chính tả. Cho nên,
nhiệm vụ nghiên cứu của chúng ta là:
- Một là: Nghiên cứu thủ thuật dựa vào cấu tạo của âm tiết.
- Hai là: Nghiên cứu thủ thuật dựa vào cách láy âm đầu.
- Ba là: Thủ thuật dựa vào cách láy vần.
- Bốn là: Hệ thống các từ chỉ viết với “d” hoặc “r’ hay “gi”.
Để học sinh nắm tốt các thủ thuật này, chúng ta phải biết phối
kết hợp sinh động giữa phương pháp có ý thức với phương pháp
không có ý thức, phương pháp tích cực và phương pháp và phương
pháp tiêu cực. Phải biết phối hợp việc luyện tập thường xuyên về
chính tả với việc luyện tập về ngôn ngữ. Phải biết phân loại các lỗi
chính tả để tìm cách khắc phục thích hợp.

ra thời gian và nội dung kế hoạch thực hiện theo từng bước sau:
*Bước 1: Tiến hành khảo sát học sinh viết chính tả ngay từ
đầu năm học. Giáo viên chuẩn bị một đoạn văn có nhiều từ, tiếng viết
với d/r/gi. Sau đó đọc cho học sinh viết chính tả rồi chấm điểm, thống
kê các hiện tượng viết sai chính tả, phân loại các lỗi, lập bảng thống
kê kết quả.
* Bước 2: Hướng dẫn học sinh nắm các thủ thuật viết đúng
chính tả với các tiếng có phụ âm “d” hoặc “r” hay “gi” ở các tiết
chính tả và các tiết học bồi dưỡng nâng cao.
* Bước 3: Tiến hành kiểm tra, thống kê kết quả viết chính tả
khi học xong mỗi một thủ thuật và khi tổng kết mỗi thủ thuật.
* Bước 4: Phân tích đánh giá, rút kinh nghiệm sau khi kết
thúc mỗi thủ thuật và sau khi tổng kết thực nghiệm.
44
Phần II: Nội dung
I/ Cơ sở lí luận:
Như chúng ta đã biết, đối với học sinh Tiểu học, quá trình
nhận thức của trẻ em mang đậm màu sắc cảm tính. Trực quan làm học
sinh Tiểu học nhanh chóng phát hiện ra cái bên ngoài của tri thức. Do
đó, sự nhận thức về vốn từ vựng không chắc chắn, dẫn đến các em
mới viết sai nhầm chính tả. Mặt khác, trong nhà trường hiện nay, hiện
tượng phạm lỗi chính tả khá phổ biến, nhất là các tiếng có phụ âm
d/r/gi. Mà kiến thức về ngôn ngữ có liên quan đến chính tả, trước hết
là vấn đề chính âm. Nếu học sinh không nắm vững chính âm thì dễ
viết sai chính tả. Do vậy, chúng ta phải dạy học sinh phát âm đúng.
Mặt khác phải phối hợp luyện tập thường xuyên và lâu dài về chính
âm, với sự rèn luyện ngôn ngữ, phải giúp các em phân biệt sự phát
âm khác nhau giữa d/ r/ gi. Bên cạnh đó, dạy chính tả cho học sinh
phải theo phương pháp chính tả có ý thức kết hợp với phướng pháp
chính tả không có ý thức. Chính tả có ý thức sẽ giúp cho học sinh

đã thật sự lưu tâm sâu sắc tới chất lượng học sinh viết đúng chính tả,
song chất lượng học sinh đạt được chưa cao lắm. Các em có ý thức
viết đúng chính tả tương đối tốt, nhưng thật đáng tiếc hiện tương các
em viết sai nhầm chính tả còn khá phổ biến, nhất là đối với học sinh
trung bình yếu. Qua quá trình theo dõi học sinh viết chính tả, tôi thấy
lỗi chính tả phổ biến nhất thường xảy ra ở các cặp từ, tiếng có phụ âm
dễ lẫn như: l/n, ch/tr, s/x, d/ r/ gi,…Ví dụ: “giản dị” thì các em lại viết
là “dản dị” hay viết là “dản gị”; “ tham gia” thì các em lại viết là
“tham ra”; “ giơ tay” thì các em lại viết “dơ tay”;…Hiện tượng này
xảy ra không phải do lỗi phát âm mà chủ yếu là do các em chưa có
kiến thức vững về từ vựng, các em còn hiểu sai cấu tạo của các âm
tiết trong Tiếng Việt. Để nắm vững tình hình của học sinh cùng với
các hiện tượng viết sai nhầm chính tả, tôi tiến hành cho học sinh làm
bài kiểm tra sau:
Câu 1: Điền “d” hay “ r” hoặc “gi” vào chỗ chấm trong các
từ sau :
…oạ nạt …ung…inh bứt…ứt
…ai…ẳng …óng…ả bủn…ủn
Câu 2: Em hãy khoanh vào chữ cái đặt trước từ viết đúng
chính tả trong các từ sau:
a/ A. déo dắt B.réo rắt C. réo dắt D. déo rắt
66
b/ A. dằn rỗi B. rằn dỗi C.dằn dỗi D. rằn rỗi
Câu 3: Viết đoạn văn sau:
Cha mẹ Phương sống rất giản dị. Hàng ngày đi làm chỉ mặc
bộ quần áo màu đơn giản nhưng sạch sẽ. Hết giờ là, cha mẹ phụ
mỗi người một việc lo cơm nước giặt giũ, chăm sóc cho chúng em.
Khi đi học về , làm bài xong, em cũng giúp đỡ cha mẹ những việc
có thể làm được như : rửa bát, quét nhà…
Sau đó, tôi thu bài, chấm bài rồi thống kê kết quả, kết quả đạt

77
doãi chân, doãi tay, phủ doãn, doãng chân ra, doạng chân, doanh
lợi, doanh nghiệp, doanh thu, doanh số, doanh trại, chuyên doanh,
hợp doanh, kinh doanh, liên doanh, quốc doanh, tư doanh, tự doanh,

Ngoài ra, những tiếng của từ Hán - Việt mang thanh ngã,
thanh nặng thì viết với “d” ( diễn biến, diện tích, diệu kì, diệu kế, diện
mạo, diện kiến, diễm phúc, diễn xuất, diễn văn, diệt chủng, diệt vong,
diện kiến, dục vọng, duyệt binh, dưỡng đường, dưỡng sinh,…); còn
mang thanh hỏi, thanh sắc thì viết với “gi” (giải thích, giả định, giám
sát, đơn giản, giáo sư, giải cứu, giải đáp, giải ngũ, giải nhiệt, giải
oan,giải pháp, giải phẫu, giải phóng, giải mã, giải tán, giải thể, giải
trí, giám định, giám hộ, giám khảo, giám mục, gián điệp, giản lược,
giấc nồng, gián tiếp, gián thu, gián đoạn, giáng hoạ, giáng phúc,
giáng sinh,…
Khi học sinh nắm được thủ thuật này rồi, tôi cho học sinh luyện
tập các dạng bài tập sau:
Bài 1: Điền “d” hoặc “r” hay”gi” vào chỗ chấm:
…iệt chủng, …ải pháp, …ám khảo, liên …oanh, đe …oạ,
quốc …oanh, …án tiếp, …áng sinh,…
Bài 2: Em hãy gạch dưới các từ, tiếng viết sai lỗi chính tả
rồi sửa lại cho đúng:
dám khảo roạ dẫm dáng phúc
roãi tay rám mục dán đoạn
Bài 3: Viết đoạn văn sau:
Cô giáo bước vào lớp, chúng em đứng dậy chào. Cô
mỉm cười vui sướng nhìn chúng em bằng đôi mắt dịu hiền. Tiết học
đầu tiên là tập đọc. Giọng cô thât ấm áp khiến cả lớp lắng nghe. Cô
giảng bài thật dễ hiểu. Những cánh tay nhỏ nhắn cứ rào rào đưa
lên phát biểu. Boongxhooif trống vang lên. Thế là hết tiết học đầu

** Đối với “ d” và “gi”thì chỉ điệp âm đầu với chính nó mà
thôi.
Các từ láy điệp âm đầu với “d” là: dai dẳng, dài dạc, dại dột,
dắt díu, dí dỏm, dở dang, dõng dạc, dông dài, dồn dập, dửng dưng,
dãi dầu, dan díu, dạn dày, dạt dào, dạt dề, dằn dỗi, day dứt, dành
dành, dàu dàu, dành dụm, dăng dăng, dầm dề, dân dã, dần dà, dần
dần, dật dờ, dây dưa, dị dạng, dính dáng, dìu dắt, dịu dàng, dìu dặt,
doạ dẫm, dỗ dành, dồi dào, dơ dáng, du dương, dớn dác, duyên
dáng,dập dềnh, dặt dìu, diêm dúa, dò dẫm, do dự, dong dỏng, dùng
dằng, dư dả, dữ dội, …
Các từ láy điệp âm đầu với “gi” là: gia giảm, giữ gìn, giậm
giật,gióng giả, giục giã, giông giống, giãy giụa, giặc giã, giẹo giọ,
giệch giặc, giềnh giàng, giệnh giạng, giữ giàng, giậm giật, giàn giụa,
giun giủi, …
Sau khi đã có một hệ thống các từ láy “r”, “d”, “gi” các em
cần ghi nhớ các từ này theo kĩ năng học thuộc, nhớ lâu để áp dụng.
Cho nên hàng ngày, tôi thường cho các em thi đua kể các từ láy trong
nhóm học tập, thi kể trước lớp. Mặt khác, tôi cho các em làm một số
bài tập sau:
99
Bài 1 : Trong những câu sau, từ nào viết sai chính tả. Em
hãy viết lại cho đúng:
- Suối chảy dóc dách. - Cánh hoa rung rinh.
- Nụ cười rạng rỡ. - Chân bước rộn ràng.
- Sức khoẻ rẻo rai. - Khúc nhạc du dương.
Bài 2 : Nối các tiếng ở cột A với các tiếng ở cột B để tạo ra từ
láy thích hợp: A B
rực dàng

giục rỡ

Cứ mỗi ngày, lịch lại thay một gương mặt mới, …ạng …ỡ
và vui vẻ. Vào ngày chủ nhật, lịch thay chiếc áo …ản …ị hàng
ngày bằng màu sắc đỏ tươi, làm ửng hồng cả trang …ấy trắng
tinh. Mỗi lầnđưa tay lên bóc tờ lịch, em cảm thấy nó quyến luyến vì
phải từ biệt ngôi nhà yêu …ấu của nó để …a đi.
Bài 2: Tìm từ láy theo yêu cầu của giáo viên đề ra.
Bài 3 : Viết đoạn văn ngắn có ít nhất 3 từ láy.
Được luyện tập nhiều các em đã nắm tương đối chắc các thủ
thuật trên. Để giúp các em có phương pháp phân biệt d/r/gi tốt hơn,
tôi tiến hành hướng dẫn các em hệ thống một số từ thường chỉ viết
với “d” hoặc “r” hay “gi”.
4/ Hệ thống các từ thường chỉ viết với “d” hoặc “r’
hay “gi’:
Thủ thuật này giúp các em nắm được một hệ thống các từ
thường chỉ viết với “d” hoặc “r” hay “gi”. Để thủ thuật này đến với
các em một cách tự nhiên, chúng ta nên tổ chức cho các em thi đua
tìm từ theo nhóm rồi tiến hành củng cố, giới thiệu thêm một số từ
khác nữa.
* Các từ thường chỉ viết với “d” là: diện, diễn, doanh, doạ,
doãng, diệu, doãn, duyên, duyến, duy, duyệt, dư, dưng, dửng, dài,
dưỡng, dược, dự, duỗi, dũng,dõng,doá, diều, diêm, diềm, diễm,diệt,
dịch, diếc, dẫn, dấp, …
*Các từ thường chỉ viết với “r” là : rõ, rết, rách, rợ, rịn, rộn,
rèo, rẩy, rủ, rau, rèn, rút, rợi, rét, rát, rạch, ráy, rắc, rắn, rên,
rệp,rọi, rổ, rộng, rỗng,rơm, rớm , rởm, rợp, rúc, rủi, ruốc, ruộng,
ruồng, ruột, rụt, rửa, rước, rươi, rực, rướm, rườm, rượu,…
* Các từ thường chỉ viết với “gi” là: giúp, giẹo, giếng, giản,
giảm, giam, giảng, giãn, giẵm, giấc, giật, giọng, gióng, giũa, giựt,…
Ngoài ra, tôi còn kết hợp hướng dẫn học sinh nắm được vốn
từ ghép có tiếng viết với “d” hoặc với “r” hay với “gi”.

rút, chửi rủa, co rút, cống rãnh,rã họng, rách bươm, ràng buộc, râu
câu, ranh con, rành mạch, rạng đông, rẻ mạt, reo hò, rét buốt, rối
bời, rối loạn, rỗng tuếch, rộng lượng, rùm beng, rung cảm, rút cuộc,
rung cảm,rượu chè, rượu, chổi, rượu tăm, rượu thuốc, hò reo,…
+ Các từ ghép có chứa tiếng viết với “gi” : bàn giấy, bát
giác, băng giá, bắt gió, khai giảng, bế giảng, biên giới, biện giải,
bóng gió, bột giặt, bờ giậu, cải giá, can giá, cảnh giác, cáo gian, cầm
giá, cất giấu, chân giả, chém giết, chú giải, chứng giám, co giật,
cướp giật, cứu giúp, thế giới, gia bảo, gia cảnh, gia công, gia cư, gia
dụng, gia đạo, gia hạn, gia nghiệp, gia quyến, gia sản, gia súc, gia
tốc, gia tài, gia tăng, gia thất, gia tiên, gia truyền, giá vị, giá biểu,
giá lạnh, giá thành, giá thú, giá trị, già cả, già cỗi, già họng, giả bộ,
giả dạng, giả danh, giả mạo, giả tưởng,giả thiết, giác mạc, giác ngộ,
giác quan, giai cấp, gai điệu, giai đoạn, giai phẩm, giải cứu, giải
1212
đáp, giải độc, giải khát, giải khuây, giải lao, giải mã, giải nghệ, giải
ngũ, giải nhiệt, giải oan, giải pháp, giải phẫu, giả phóng, giải quyết,
giải tán,giải tích, giải toả, giải thể, giải thoát, giải thưởng, giải trí,
giải trừ, giải vây, giãi bày, giám định,giám hộ, giám khảo, giám sát,
giám thị, giảm sút, giảm thọ, gian ác, gian khổ, gian lận, gian manh,
gian tham, gian thương, gian truân, gián điệp, giả lược, giang sơn,
giang hồ, giao ban, giao bóng, giao ca, giao cấu, giao dịch, giảng
hoà, giảng đường, giạng háng, giáng chức, giáng hoạ, giáng sinh,
giao đấu, giao điểm, giao hữu,giao kèo, giao kết, giao lưu, giao tiếp,
giao thiệp, giao thông, giao thừa, giao ước, giáo án, giáo sĩ, giáo
sinh, giáo sư, giáo trình, giáo hoá, giáo hoàng, giáo hội, giáo huấn,
hiaos khoa, giáo lý, giáo viên, giảo quyệt, giáp mặt, giáp ranh, giàu
sụ, giãy nẩy, giằng co, giấc nồng, giật lùi, giây lát, gièm pha, gieo
cấy, gieo neo, giẹp lép, giọng lưỡi, giới hạn, giới nghiêm, giới tính,
giúp ích, giúp việc, giữa chừng, giữ miếng, giữ lời, giường thờ,…

lần được thấy hình ảnh của nó mới có được.”
Sau khi chấm bài xong, tôi đã hệ thống kết quả cụ thể như
sau:
Tổng số HS 9- 10 7- 8 5- 6 1- 4

30
SL %
18 60
SL %
12 40
SL %

0 0
SL %
0 0

Bên cạng đó, tôi cũng nhận thấy được sự thích thú học theo
phương pháp này của các em . Mỗi lần các em được tìm hiểu một thủ
thuật mới, các em lại có thêm được một kiến thức sâu rộng hơn, hiểu
sâu hơn về thủ thuật đã biết. Điều đó đều có ý thức, kĩ năng tìm tòi,
nhận biết cao hơn về cách viết chính tả đúng không phải chỉ dừng lại
những chữ viết với “d” hoặc “r” hay “gi” mà còn với các phụ âm
khác cần so sánh. Đối với học sinh trung bình khá trở lên, số lượng
các em viết đúng rất cao, rất ít xảy ra sai ở các chữ được phân biệt;
còn đối với học sinh yếu, tỉ lệ các em viết nhầm lẫn giữa “d” với “r”
hay “gi” giảm đi rất nhiều. Với kết quả trên, tôi muốn nói rằng: Nếu
các đồng nghiệp đi sâu vào sự nghiên cứu các thủ thuật này thì chắc
chắn sự viết sai nhầm chính tả giữa d/r/gi không còn nữa hoặc ít xảy
ra. Với phương pháp này càng làm tăng thêm hứng thú học tập cho
học sinh. Các em đều có ý thức, kĩ năng viết đúng, viết đẹp hơn so

phải kiên trì khắc phục, rèn luyện.
5. Giáo viên khi dạy phải thường xuyên thay đổi hình
thức luyện tập , phải đưa ra được một số hình thức đối chiếu đúng -
sai để học sinh tự khảng định kiến thức của mình.
6. Khi dạy, giáo viên phải chú trọng phương pháp luyện
tập có ý thức.
VII/ Những điều còn bỏ ngỏ:
Trên đây tôi đã trình bày phương pháp rèn cách viết đúng
cho học sinh ở những tiếng viết bởi phụ âm “d” hoặc “r” hay “gi”, áp
dụng cho mọi đối tượng học sinh từ giỏi đến yếu kém, phương pháp
nào đi chăng nữa thì vẫn có mặt hạn chế của nó. Đó là sự tiếp thu
kiến thức của học sinh yếu kém. Các em học sinh yếu kém có kiến
thức từ vựng kém nên sự tiếp thu và vận dụng các thủ thuật còn hạn
chế, chưa sâu sắc. Đặc biệt, đối với học sinh lớp 3, sự nhận thức về
cấu tạo âm tiết còn chưa chắc chắn, kiến thức về từ láy chưa biết
nhiều. Bên cạnh đó, mỗi văn bản có một sắc thái riêng, dẫn đến cách
viết cũng phải phụ thuộc theo. Cho nên khi dạy, giáo viên phải hướng
dẫn chậm, chắc kết hợp luyện tập thường xuyên thì các emmowis
nắm các thủ thuật viết chính tả tốt được. Mặt khác, muốn đồng bộ các
em đều viết đúng, phát âm đúng những từ, tiếng viết với “d” hoặc “r”
hay “gi” thì đòi hỏi phải có sự kiên trì, chịu khó rèn luyện học hỏi của
các em, sự kiên trì hướng dẫn học sinh viết đúng ở giáo viên là rất
1515
quan trọng. Tôi luôn coi đây là một bài toán khó nhất mà đòi hỏi mỗi
người giáo viên chúng ta không ngừng suy nghĩ, tìm tòi các phương
pháp giảng dạy phù hợp nhất để học sinh là số liệu trả lời cho lời giải
của bài toán này.
VIII/ Khả năng vận dụng vào thực tiễn:

Vừa rồi tôi đã trình bày một số thủ thuật viết đúng chính

dạy các môn học nói chung, chúng ta cần chuyên sâu nghiên cứu các
phương pháp giảng dạy tốt nhất, giúp cho các em có được một kiến
thức sâu rộng hơn. Tôi tin chắc rằng nếu chúng ta quyết tâm, chúng ta
sẽ thành công lớn trong giảng dạy.
II/ Phương hướng tiếp tục hoàn thiện:
Hàng ngày, hàng giờ đứng trên bục giảng, tôi đều chú
trọng tới sự rèn luyện chữ viết của các em, mong sao các em ngày
một viết đúng, viết đẹp hơn. Có như vậy dần dần mới phát hiện ra
nguyên nhân học sinh viết sai từ đâu rồi sẽ đề ra phương pháp sửa sai
cho học sinh , hướng các em biết phân biệt, so sánh các cặp phụ âm
khác nhau, các cặp vần khác nhau. Sau đó sẽ từng bước hướng các
em tới những thủ thuật theo ý muốn của mình để các em làm bài tập
tốt theo yêu cầu cụ thể đối với học sinh lớp 3. Mong muốn của tôi là
mình sẽ cố gắng học hỏi các đồng nghiệp, đọc thêm sách báo để trau
dồi kiến thức cho bản thân, rồi từ đó suy nghĩ, tìm tòi ra các ý tưởng
mới, phương pháp tuyệt diệu nhất để dạy phân môn chính tả nói
riêng, môn Tiếng Việt nói chung. Có được như vậy, thực sự tôi mới
rất tự tin khi đứng tên bục giảng, thực sự mỗi ngày lên lớp là một
ngày vui.

1717
III/ ý kiến đề xuất:
* Đối với giáo viên: Chúng ta hãy tích cực dự giờ, học
hỏi đồng nghiệp, chuyên cần đọc sách báo nói về phương pháp giảng
day ở tất cả các bộ môn để trau dồi các phương pháp dạy học cho bản
thân.
* Đối với tổ chuyên môn :Ngay từ đầu năm, tổ sẽ lập
được kế hoạch chuyên môn của hàng tuần, hàng tháng, nên chú trọng
các biện pháp, hình thức đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các
môn học, giúp cho việc nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà

6. V. Phương pháp nghiên cứu tiến hành 3
7. VI. Phạm vi nghiên cứu 3
8 . VII. Dự kiến kế hoạch nghiên cứu 4
9. Phần II - Nội dung 5
10. I. Cơ sở lý luận 5
11. II. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
12. III. Thực trạng của dạy và học 6
13. IV. Những kinh nghiệm giải pháp chỉ đạo 7
14. V. Tổng kết kinh nghiệm 13
15. VI. Phân tích tổng hợp những bài học kinh nghiệm 14
16 . VII. Những điều còn bỏ ngỏ 15
17. VIII. Khả năng vận dụng vào thực tiễn 15
18. Phần III - Kết luận 16
19. I. Kết quả thành công 16
20. II. Phương hướng tiếp tục hoàn thiện 16
21. III. ý kiến đề xuất 17
22. IV. Lời kết 17
1919
Đánh giá nhận xét của hội đồng khoa học
trường tiểu học hoàn long


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status