skkn giúp học sinh viết đúng chính tả ở lớp 5 - Pdf 24

SKKN: Giúp học sinh viết đúng chính tả ở lớp 5.
PHÒNG GD - ĐT KRÔNG PẮC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG TH HỒNG HOA THÁM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học : 2008-2009

Họ và tên: Nguyễn Thị Lý.
Chức vụ: Giáo viên.
Đơn vị công tác: Trường TH Hồng Hoa Thám –Krông Pắc – Đắc Lắc.
Tên sáng kiến kinh nghiệm: “Giúp học sinh viết đúng chính tả ở lớp 5”.
Ngày viết sáng kiến kinh nghiệm: 24–3-2009.
ĐẶT VẤN ĐỀ.
Chúng ta đều biết rằng: “ Nhân cách của con người chỉ có thể được hình
thành thông qua hoạt động giao tiếp”. Tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất trên
tồn bộ lãnh thổ Việt Nam. Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta không chỉ lúc
nào cũng giao tiếp bằng ngôn ngữ viết. Ngôn ngữ viết đóng vai trò quan trọng của
Tiếng Việt. Yêu cầu đầu tiên và quan trọng của ngôn ngữ viết là phải viết đúng
chính tả. Có nghĩa là khi thể hiện ngôn ngữ viết cần phải tuân theo hệ thống các
quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ. Hay nói cách khác,
chính tả là những chuẩn mực của ngôn ngữ viết được thừa nhận trong ngôn ngữ
tồn dân. Mục đích của nó là phương tiện thuận tiện cho việc giao tiếp bằng chữ
viết làm cho người viết và người đọc đều hiểu thống nhất những điều đã viết.
Chính tả có thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ mới không bị cản trở giữa
các địa phương trong cả nước, cũng như giữa các thế hệ đời trước và đời sau.
Vì vậy việc dạy chính tả đúng phải được coi trọng ngay từ bậc Tiểu học.
Việc dạy chính tả được hiểu như rèn luyện việc thực hiện những chuẩn mực của
Người thực hiện: Nguyễn Thị Lý - Trường TH Hoàng Hoa Thám. 1
SKKN: Giúp học sinh viết đúng chính tả ở lớp 5.
ngôn ngữ viết. ở các lớp Tiểu học, chính tả sẽ tạo điều kiện ban đầu trong hành
trang ngôn ngữ cả một đời người trong các em.

vùng có nhiều đối tượng học sinh có vấn đề về chính tả , tôi mạnh dạn tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Giúp học sinh viết đúng Chính tả ở lớp 5” để góp phần nâng
cao chất lượng dạy – học phân môn Chính tả.
NỘI DUNG
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN
A. Cơ sở về ngữ âm học.
a. Mối quan hệ giữa âm chữ và nghĩa.
- Chữ viết của Tiếng Việt là chữ viết ghi âm nên nguyên tắc chính tả chủ yếu
của Tiếng Việt là nguyên tắc ngữ âm học, nghĩa là mỗi âm vị được thể hiện bằng
một tổ hợp chữ cái, mỗi âm tiết, mỗi từ có một cách viết nhất định. Do đó việc viết
đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở viết đúng. Để phát huy một cách
có ý thức. đặc biệt là những vùng phương ngữ, việc dạy chính tả phải theo sát
nguyên tắc này. Nghĩa là phải tôn trọng việc phát âm, lấy phát âm để điều chỉnh
chữ viết
b. Những bất hợp lý của chữ quốc ngữ.
Ở Tiếng Việt, nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc ngữ âm học, ngồi ra chính tả
Tiếng Việt còn được xây dựng trên một số nguyên tắc như: Nguyên tắc truyền
thống lịch sử, nguyên tắc khu biệt… Khi viết chính tả phát âm thế nào thì viết thế
ấy. Hiện tượng cách phát âm ở những vùng miền khác nhau (phương ngữ), trong
khi đó hệ thống ghi âm tiêu chuẩn của Tiếng Việt lại chưa được xác định một cách
chính thức. Do đó khó có thể phổ biến rộng rãi hệ thống ấy được. Hơn nữa trong
Tiếng Việt việc phát âm không phù hợp với tiêu chuẩn lại có trường hợp trong đó
một từ đồng thời mang hai biến thể phát âm, khó có thể nói biến âm nào là chuẩn.
Ví dụ: chong chóng – trong tróng
Người thực hiện: Nguyễn Thị Lý - Trường TH Hoàng Hoa Thám. 3
SKKN: Giúp học sinh viết đúng chính tả ở lớp 5.
Hoặc có khi cùng một cách phát âm nhưng lại có hai cách viết.
Ví dụ: /z/

/i/

sắc cảm tính. Các giác quan như tai, mắt được sử dụng nhiều trong nhận thức sự
vật, cho nên trực quan cụ thể là những yếu tố đặc biệt quan trọng góp phần tạo nên
nhận thức và tư duy của học sinh Tiểu học. “Từ trực quan sinh động đến tư duy
trừu tượng” Khi dạy chính tả cho học sinh Tiểu học cần vận dụng triệt để đặc
điểm, nhận thức của trẻ em ở lứa tuổi này.
VD: Nghe và quan sát cách phát âm đúng để phát âm đúng. Quan sát cách
viết đúng để viết đúng , dần dần học sinh sẽ tích luỹ được những kinh nghiệm, làm
giàu thêm tri thức chính tả cho bản thân. Kết quả là các em nhận thức được những
vốn kinh nghiệm một cách có ý thức, tạo nên kĩ năng kĩ xảo cho các em. Từ đó
giúp các em dễ dàng trong việc tiếp thu các tri thức của các môn học, nhất là trong
phân môn Tập làm văn.
II. NỘI DUNG
1.Thực tế trình độ chính tả của học sinh Tiểu học.
Qua thực tế giảng dạy và nghiên cứu khảo sát sách vở chính tả, vở tập làm
văn của học sinh. bản thân tôi nhận thấy: Vở chính tả, tập làm văn của các em và
các vở khác mắc khá nhiều lỗi chính tả. Thống kê số lỗi chính tả của các em tôi
thấy có 3 lỗi cơ bản sau.
- Lỗi chính tả do không nắm vững chính tả: lỗi này thường gặp khi viết các
phụ âm đầu: d/gi; ch/tr; ng/ngh
- Lỗi do không nắm vững cấu trúc âm tiết của Tiếng Việt và không hiểu cấu
trúc nội bộ của âm tiết Tiếng Việt nên học sinh viết sai.
VD: quanh co; khúc khuỷ; ngoằn nghèo.
- Lỗi chính tả do viết theo lối phát âm địa phương hoặc do không nắm vững
âm chính. Đây là lỗi cơ bản nhất mà qua khảo sát tôi nhận thấy ở lớp tôi. Cụ thể là
âm: l – n, dấu ngã và dấu chấm. Học sinh thường nhầm lẫn và viết sai chính tả
trong các bài viết của mình.
Tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng sai trên tôi thấy chủ yếu là do học
sinh phát âm sai. Thường các em còn phát âm lẫn lộn giữa âm l – n nên không
Người thực hiện: Nguyễn Thị Lý - Trường TH Hoàng Hoa Thám. 5
SKKN: Giúp học sinh viết đúng chính tả ở lớp 5.

SKKN: Giúp học sinh viết đúng chính tả ở lớp 5.
chỗ không đủ thời gian để đi sâu hơn, luyện tập nhiều hơn để tránh những lỗi mà
các em thường mắc phải. Nội dung chính tả được trình bày trong SGK Tiểu học
còn mang tính ngẫu nhiên, chủ quan, áp đặt, không được xây dựng dựa trên sự điều
tra khảo sát tình hình chính tả ở từng vùng, từng khu vực. Chính tả trong SGK
chưa thống nhất, điều này cũng gây không ít khó khăn cho việc dạy học chính tả ở
Tiểu học, đặc biệt ở những vùng phương ngữ.
III. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
Qua kết quả điều tra, khảo sát thực tiễn tôi nhận thấy rằng trọng điểm chính
tả mà học sinh lớp tôi mắc phải chính là do lỗi phát âm địa phương không phân
biệt được giữa l với n, dấu thanh ~/./ Trước thực tế như vậy, bản thân tôi phải hết
sức cố gắng nỗ lực nhiều mặt như: tâm lý học lý luận dạy học, các kiến thức về
ngữ âm, về văn học làm sao phải để học sinh “tâm phục khẩu phục”. Có như vậy
chất lượng giáo dục chính tả vùng phương ngữ mới thu được kết quả như mong
muốn.
Muốn làm được điều đó, trước hết tôi phải đặt phân môn chính tả nằm trong
mối quan hệ giữa các phân môn khác của Tiếng Việt, đặc biệt là phân môn tập đọc
và từ ngữ. Học sinh muốn viết đúng được thì phải hiểu được nghĩa và phát âm
đúng từ đó. Nếu học sinh phát âm sai, tuỳ tiện sẽ dẫn đến hiểu sai và viết sai hoặc
do thói quen lâu ngày không được sửa chữa. Trong các giờ tập đọc, tôi dành nhiều
thời gian hơn cho việc sửa lỗi phát âm cho học sinh, đặc biệt là hai âm l và n, dấu ~
/./. Giáo viên phát âm mẫu cho học sinh học tập và hướng dẫn cách phát âm tỉ mỉ.
Đặc biệt tôi không bao giờ được phạm sai lầm về lỗi phát âm này. Nếu không việc
sửa lỗi của giáo viên sẽ mất tác dụng.
Ngồi ra tôi hướng dẫn học sinh viết đúng chính tả trên cơ sở hiểu đúng nghĩa
của từ. Muốn viết đúng một từ, học sinh phải biết đặt từ đó trong mối quan hệ với
cụm từ và các văn bản. Nếu ta tách từ đó ra khỏi văn bản có thể học sinh sẽ không
hiểu được nghĩa và do đó dẫn đến việc viết sai chính tả.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Lý - Trường TH Hoàng Hoa Thám. 7
SKKN: Giúp học sinh viết đúng chính tả ở lớp 5.

SKKN: Giúp học sinh viết đúng chính tả ở lớp 5.
VD: “l” láy với “c”: lò cò, la cà, lục cục
“l” láy với “b”: lệt bệt, lùng bùng, lõm bõm
“l” láy với “d”: líu díu, lò dò
“l” láy với “h”: lúi húi, lay hoay
“l” láy với “n”: lơ mơ, liên miên
- Mẹo 2: Khả năng kết hợp âm: Âm /l/ đứng trước âm đệm nhưng /n/ không
đứng trước âm đệm. Do đó /n/ không bao giờ đứng trước một vần bắt đầu: oa, uê,
uy trái lại /l/ lại đứng trước các vần đó như: loa, luân
- Mẹo 3: mẹo luật láy âm, điệp âm.
/l/ láy âm rất rộng rãi, trái lại /n/ không láy âm với một âm nào mà chỉ điệp
âm với chính nó. Đồng thời lại không có hiện tượng /l/ láy âm với /n/. Từ đó suy ra
quy tắc: Nếu gặp một từ láy mà hai âm đầu đọc giống nhau thì nhất định là một
điệp âm đầu và cả hai chữ phải cùng có âm đầu là /l/ hoặc /n/. Vì vậy ta chỉ cần
biết một chữ là đủ.
VD: Lấp lống, long lanh, lanh lảnh
No nê, ninh ních, nõn nà
- Mẹo 4: Đối với trường hợp “l” và “n” đứng ở chữ thứ 2. Trong từ láy
thì”n” khi láy âm chỉ láy với “gi” và không láy với âm nào khác. Trái lại “l” lại
không láy với “gi” mà láy với các âm khác .
(Ngoại lệ có: khúm núm, khệ nệ)
kh – l : khéo léo, khốc lác
ch – l : cheo leo
/n/ láy với những âm tiết không có âm đầu như: ảo não, áy náy
- Mẹo 5: Những chữ không biết được “l” hay “n” nhưng đồng nghĩa với một
từ khác viết với “nh” thì chữ ấy là “l”.
VD: lăm le (nhăm nhe)
lỡ làng (nhỡ nhàng)
Trên đây là một số mẹo luật nhận diện chữ cái phân biệt l/n trong khi viết
chính tả mà tôi nắm được để hướng dẫn các em viết chính tả.

Người thực hiện: Nguyễn Thị Lý - Trường TH Hoàng Hoa Thám. 10
SKKN: Giúp học sinh viết đúng chính tả ở lớp 5.
Mục đích cuối cùng của bài chính tả là phải ghi nhớ các trường hợp viết
đúng một cách có ý thức mà trong đó thực chất của loại bài so sánh là: giúp học
sinh nắm vững nội dung ngữ, nghĩa của từ gắn với chữ viết. Tôi so sánh để phân
biệt những trường hợp dễ lẫn lộn cho các em. Soạn ra những bài luyện tập phù hợp
với các em ở địa phương mình. Cho học sinh đặt câu với những từ dễ mắc lỗi hoặc
có thể đưa ra những đoạn văn, đoạn thơ trong đó có nhiều từ viết sai chính tả để
học sinh tự mình phát hiện lỗi, tìm hiểu nguyên nhân sai và chữa lại cho đúng.
Qua việc tìm hiểu nguyên nhân là: tìm được những trọng điểm chính tả cần
dạy cho học sinh lớp tôi. Qua một thời gian thực hiện, kết quả thu được như sau:
Số
TT
Lớp
T.số học
sinh
Các lỗi chính tả thường mắc
l/n; ~/./ tr/ch; s/x; gh/g cấu trúc âm tiết
1 5B 22 1 em 1 em 1
Phần thứ ba
KẾT LUẬN CHUNG VÀ ĐỀ XUẤT
I. Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN VỚI CÔNG TÁC GIÁO DỤC.
Việc xác định các trọng điểm chính tả cần dạy cho học sinh vùng phương
ngữ là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng. Chúng ta đang thực hiện luật phổ
cập giáo dục Tiểu học để tạo nên một mặt bằng dân số, trình độ dân trí nhất định
trong cả nước. Tuy nhiên trình độ này có đồng đều hay không điều đó tuỳ thuộc
vào chất lượng giảng dạy và học tập ở mỗi địa phương. Là một giáo viên vùng
phương ngữ, tôi nhận thấy phải trang bị cho các em những kiến thức chuẩn mực để
các em có đầy đủ năng lực để học tiếp lên các lớp trên và giao tiếp với xã hội một
cách tự tin, chững chạc. Đây là một nhiệm vụ quan trọng của giáo viên giảng dạy ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status