Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng , chuẩn chính tả tiếng Việt - Pdf 26

Phần I : đặt vấn đề
I . lý do chọ đề tài
Ngôn ngữ âm thanh trong một thời gian rất dài để trở thành công cụ duy nhất để con
ngời có thẻe truyền đạt cho nhau những kinh nghiệm sản xuất và đấu tranh . Tuy nhiên
việc sử dụng ngôn ngữ âm thanh không phải không có những hạn chế nhất định . Ngôn
ngữ âm thanh ( tức là lời nói ) chỉ có hiệu lực trong một phạm vi nhất định . Ngoài phạm
vi ấy , ngời này không thể nghe đợc tiếng nói của ngời kia . Nh vậy , ngôn ngữ âm thanh
có sự hạn chế nhất định về mặt không gian . Để khắc phục mặt hạn chế đó , con ngời đã
tìm ra một hình thức thông tin mới , thông tin bằng chữ . Nh vậy , chữ viết ra đời do nhu
cầu thông tin liên lạc .
Chữ viết là hệ thống ký hiệu đồ hoạ đã đợc sử dụng để cố định hoá ngôn ngữ âm
thanh . Chức năng của chữ viết là đại diện cho lời nói . So với lời nói thì chữ viết xuất
hiện sau . Vì vậy , chữ viết phải phụ thuộc vào lời nói . Khi chữ viết và lời nói không có
sự phù hợp nữa thì phải cải tiến chữ viết .
Chữ quốc ngữ của ngời Việt ( Tiếng Việt ) là hệ thống chữ viết ghi âm . Trong đó
chính tả là sự chuẩn hoá hình thức của ngôn ngữ tiếng Việt . Đó là một hệ thống các quy
tắc về cách viết các âm vị , âm tiết , từ , cách dùng các dấu câu , lối viết hoa . Từ đó ,
chính tả có vai trpf rất lớn trong việc thể hiện thông tin của chữ viết . Viết đúng chính tả
sẽ làm cho việc truyền tin một cách chính xác đến ngi\ời nhận ,ngời nghe . Ngợc lại ,
trong một số trờng hợp a\sai chính tả sẽ dẫn đến nhiều cách hiểu trái ngợc đến thông tin
định chuyển tải , có khi dẫn đến sự hiểu nhầm tai hại .
Trong nhà trờng , vai trò của chính tả rất quan trọng . Một văn bản viết đúng chính tả
thể hiện một nhận thức đúng đắn về tiếng Việt . Viết đúng chính tả cũng là một phần góp
cho sự trong sáng của ngôn ngữ tiếng việt .
II . Tình hình chính tả trong trờng trung học cơ sở .
Học sinh học chữ và rèn luyện viết chính tả ngay từ khi học lớp 1 . Trong suốt thời gian
học Tiểu học , công việc này diễn ra đều đặn và thờng xuyên trong chơng trình . Đến lớp
7 ( Cải cách giáo dục 1994 ) thì việc rèn luyện chính tả dừng lại để học các môn văn hoá
1
. Trong chơng trình Văn Tiếng Việt bậc trung học cơ sở không đề cập đến việc rèn
chính tả cho học sinh nữa . Điều đó cũng phù hợp với đặc điểm chơng trình giáo dục .

3
Phần II : giải quyết vấn đề
I . chính tả và một số đặc điểm của chuẩn chính tả
1 . Đặc điểm đầu tiên của chuẩn chính tả là tính chất bắt buộc gần nh tuyệt đối của nó .
Đặc điểm này đòi hỏi ngời viết bao giờ cũng phải viết đúng chính tả . Chữ viết có thể cha
hợp lý , nhng khi đã đợc thừa nhận thì ngời cầm bút không đợc tự ý viết khác đi . Ai
cũng biết rằng viết ghế , ghen không hợp lý và tiết kiệm bằng gế ,gen nhng
chỉ có cách viết thứ nhất mới đợc coi là đúng chính tả .
Vì vậy , khi nói đến chuẩn chính tả là nói đến tính chất pháp lệnh . Trong chính tả
không có sự phân biệt hợp lý hay không hợp lý , hay dở mà chỉ có phân biệt đúng
sai , lỗi không lỗi . Đối với chính tả , yêu cầu cao nhất là cách viết thống nhất , thống
nhất trong mọi văn bản , mọi địa phơng .
2 . Do chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần nh tuyệt đối , cho nên nó ít bị thay đổi
nh các chuẩn mực khác của ngôn ngữ . Nói cách khác , chuẩn chính tả có tính chất ổn
định , tính chất cố hữu khá rõ .
II . Một số quy định về chuẩn chính tả ( Theo UB khoa học xã hội và Bộ
Giáo dục )
1 . Thống nhất viết nguyên âm
( Âm chính ) / i / bằng chữ cái i Ví dụ : Lí luận , kĩ thuật , thẩm mĩ .v.v.
- Khi cần phân biệt uy với ui nh tuý với túi thì vần uy vẫn viết nh cũ . Hoặc
uy trong quy luật , quy tắc
+ i hoặc y đứng một mình hoặc đứng đầu âm tiết vẫn viết theo tói quen cũ . Ví dụ : ý
kiến , ỉ eo .v.v.
2 . Khi trong thực tế đang tồn tại hai hình thức chính tả mà cha xác định đợc một
chuẩn mực duy nhất thì chấp nhận cả hai hình thức ấy .
Ví dụ : eo sèo / eo xèo ; sứ mạng / sứ mệnh .v.v.
3 . Về cách viết hoa tên riêng tiếng Việt
a . Tên ngời và tên nơi chốn
* Viết hoa tất cả các chữ cái đầu của từ mà không dùng gạch nối :
4

Ví dụ : nghành ( ngh không đi trớc a ) ; kách ( k không đi trớc a trừ kali )
c . Lỗi do không nắm đợc quy tắc viết hoa
Ví dụ : Trần bình trọng ; Nam định .v.v.
* Để khắc phục lỗi này , chỉ cần cho học sinh ghi nhớ và tuân thủ những đặc điểm và
nguyên tắc kết hợp , quy tắc viết hoa của chữ viết .
2 . Lỗi chính tả do viết sai với phát âm chuẩn
Đặc điểm phát âm đặc trng cho từng vùng khác với phát âm chuẩn là nguyên nhân dẫn
đến những cách viết sai chính tả . Có thể quy những lỗi loại này thành ba dạng chủ yếu :
a . Lỗi viết sai phụ âm đầu
- Lỗi do không phân biệt đợc tr và ch : Do cách phát âm của học sinh không phân biệt đ-
ợc tr ch . Có thể giúp các em nhớ một số quy tắc nhỏ để phân biệt tr ch :
+ Tr không kết hợp với những vần bắt đầu bằng : oa , oă , oe , uê ( choáng , choai .v.v.)
+ Từ láy phụ âm đầu phần lớn là ch ( Những từ láy phụ âm đầu là tr rất ít : trơ trọi , trống
trãi .v.v.)
- Lỗi do không phân biệt s và x
+ Hiện tợng này cũng là do đặc điểm phát âm không phân biệt . ở lỗi này cần cho học
sinh hiểu và nhớ một soó quy tắc phân biệt giữa s và x nh sau :
+ S không kết hợp với các vần : oa , oă , oe , uê ( xuề xoà , xoay xở , xoen xoét .v.v.)
( Từ láy phụ âm đầu có cả s và x ) Từ láy bộ phận vẫn thờng là x : loăn xoăn , loà xoà
+ Về nghĩa : Tên thức ăn thờng viết là x : xôi , xúc xích , lạp xờng .v.v.
+ Những từ chỉ hơi ra : xì , xỉu , xọp , xẹp .v.v.
+ Những từ chỉ sụp xuống viết với s : sục , sụp , sẩy .v.v
+ Những từ chỉ quan hệ ngữ pháp phần lớn là đi với s : sự , sẽ , sắp , sao .v.v.
- Lỗi do không phân biệt r , gi với d : Giúp học sinh nhớ một số quy tắc để phân biệt r ,
gi với d nh sau :
+ R và gi không kết hợp với những vần : oa , oă , uâ , oe , uê , uy .
+ Xét về nguồn gốc , không có từ Hán Việt đi với r ; Trong Hán Viẹt , D đi với thanh ngã
và nặng , Gi đi với thanh hỏi và sắc .
6
+ Trong từ láy bộ phận vần : R láy với B và C , còn Gi và D không láy : bứt rứt , bủn

chuẩn chính tả . Đây cũng là một trong những việc làm để khuyến khích học sinh viết
đúng chính tả .
4 . ở các giờ thực hành tập nói ( Phân môn tập làm văn ) tôi đã rất chú ý rèn và sửa chữa
cách phát aam cho đúng giữa s và x , tr và ch , d và r và phân biệt giữa thanh hỏi với
thanh ngã .
5 . Ra thêm các dạng bài tập rèn chính tả để học sinh có thể tự làm ở nhà . đay là biện
pháp rất có hiệu quả mà lại không mất thời gian trên lớp . Biện pháp này vừa giúp học
sinh viết đúng chính tả , vừa rèn luyện cho các em thói quen trình bày sạch , đẹp . Biện
pháp này đòi hỏi ngời giáo viên cần tận dụng thời gian các tiết trả bài , các buổi sinh
hoạt lớp để giao bài tập chính tả cho học sinh .

Các dạng bài tập thờng là :
Dạng A : Dạng bài tập điền phụ âm đầu
Điền ch hay tr ?
a . úng tôi đều úng tuyển ( Chúng tôi đều trúng tuyển )
b . Ngời ồng đang lo ồng cây ( Ngời chồng đang lo trồng cây )
Điền s hay x ?
a . ơng uống đầy cả mặt ông ( Sơng xuống đầy cả mặt sông )
b . Hôm nay có úp , có ôi , có bún áo nóng ốt mời các cậu học
inh ơi tạm ( Hôm nay có súp , xôi sáo xốt sinh xơi )
Điền R , D hay Gi ?
Chúng tôi ót ợu mời ông ám đốc
Dạng B : Dạng bài tập thanh điệu
Điền thanh hỏi , thanh ngã cho phù hợp :
Tôi không có tiền le , le ra tôi phai mang theo( lẻ lẽ phải )
Hoặc tìm lỗi và chữa lỗi :Bài giãi có thễ đúng có thễ sai
Dạng C : Dạng bài tập vần
Sửa lỗi cho câu : Anh ấy là tay nát riệu , đầu óc đôi khi hòn tòn không bình thờng
8
( nát rợu , hoàn toàn )

Nói tóm lại : Học sinh viết đợc đúng chính tả điều quan trọng là :
Nhớ đợc nghĩa của từ ở mặt chữ viết
Đợc viết nhiều , tiếp cận nhiều với văn bản đúng
Trên đay là kinh nghiệm nhỏ tôi rút ra từ thực tế của bản thân . kính mong sự góp ý của
các anh , chị đồng nghiệp để kinh nghiệm này hoàn thiện hơn .
Tôi xin chân thành cảm ơn .
Bỉm Sơn , ngày 20 tháng 3 năm 2008
Ngời thực hiện
Kiều Văn Kặp

10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status