Kinh nghiệm rèn kỹ năng viết đúng chính tả ở lớp 2.
1.Thực trạng hoặc vấn đề đặt ra:
- Thực trạng ở lớp 2 đầu năm học, học sinh yếu là do các
nguyên nhân như: tiếng địa phương, chưa chuẩn trong phát
âm, thời gian nghỉ hè. Vào đầu năm học, qua khảo sát chất
lượng đầu năm phần đông các em viết sai rất nhiều lỗi
chính tả, mà nguyên nhân chính là do cách phát âm tiếng
địa phương. Môn Tiếng Việt bước đầu dạy cho học sinh
nhận biếtđược những tri thức cơ bản cần thiết bao gồm những
ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ nghĩa,ngữ pháp, chính tả.
Trên cơ sở rèn luyện các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết
nhằm giúp học sinh sử dụng tiếng Việt có hiệu quả trong
suy nghĩ và giao tiếp. Qua đó chúng tôi nhận thấy lớp 2
còn nhiều em học yếu phân môn Chính tả, nguyên nhân
chủ yếu là do các em đọc bài chưa trôi chảy , đọc ngọng,
phát âm chưa đúng các âm đầu và các vần, dấu thanh;
cách ngắt, nghỉ giữa các cụm từ chưa đúng; không nắm
được quy tắc viết hoa. Từ đó dẫn đến viết sai ở các âm
đầu, các vần; tên riêng và những chữ đầu câu, đầu đoạn,
đầu mỗi dòng thơ.
- Trong thời gian học tập thì các em thuộc sự quản lý của nhà
trường, nhưng phần lớn thời gian còn lại là sự quản lý và
quan tâm của gia đình. Nhưng thực tế nhiều gia đình
không có điều kiện quan tâm đến việc học của con em
mình. Họ còn phải lo lắng trong việc kiếm sống hằng ngày
vì kinh tế còn gặp nhiều khó khăn.
- Bên cạnh đó cũng có những gia đình có điều kiện nhưng quan
tâm không đúng mức, chưa uốn nắn con em mình đi vào nề nếp
học tập đúng đắn.
- Phần lớn phụ hu y nh là nông dân nghèo, trình độ nhận
thức chưa cao, có người không biết chữ nên không thể
(nói, viết). Chính vì lẽ đó mà trong môn Tiếng Việt ở tiểu học
giáo viên là người giúp học
sinh có kỹ năng đọc đúng và viết đúng chính tả. Kỹ năng
nghe, viết của học sinh là một
vấn đề luôn được mọi người quan tâm.
- Là cán bộ quản lý và giáo viên trưc tiếp dạy lớp,
chúng tôi tự nhận thấy rằng chữ
viết đóng vai trò rất quan trọng trong việc lĩnh hội tri thức.
- Do chữ viết đóng vai trò quan trọng trong việc lĩnh hội tri thức
nên ta phải đọc đúng
và viết đúng để trang bị cho mình vốn kiến thức cần
thiết. Hơn thế nữa “Nét chữ, nết
người”, câu thành ngữ giản dị nhưng có ý nghĩa thật xúc tích
biết bao: thứ nhất qua nét chữ
thể hiện tính cách con người; thứ hai thông qua việc rèn
chữ, lu y ện viết mà giáo dục nhân
cách cho con người
- Vào đầu năm học qua khảo sát chất lượng đầu năm phần
đông các em sai rất nhiều
lỗi chính tả, mà ngu y ên nhân chính là do cách phát âm
tiếng địa phương; do không hiểu
đầy đủ về các quy tắc chính tả và nội dung ngữ nghĩa của các
từ. Môn Tiếng Việt bước đầu
dạy cho học sinh nhận biết được những tri thức cơ bản
cần thiết bao gồm những ngữ âm,
chữ viết, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp, chính tả. Trên cơ sở
rèn luyện các kỹ năng “nghe,
nói, đọc, viết” nhằm giúp học sinh sử dụng tiếng Việt có
hiệu quả trong suy nghĩ và giao
tiếp.
2. Phạm vi nghiên cứu
- Vì khả năng nhận thức, điều kiện thu thập thông tin và thời
gian nghiên cứu còn hạn
hẹp, nên chúng tôi không thể nghiên cứu vấn đề trên
trong phạm vi rộng lớn, mà chỉ
nghiên cứu về học sinh y ếu phân môn Chính tả ở lớp 2
trường TH Xã Phan được nhà
trường phân công giảng dạy trong năm học 2012 - 2013.
3. Giải pháp hoặc tính mới, tính sáng tạo của đề tài
* Đối với cán bộ quản lý
- Chỉ đạo cho chuyên môn nhà trường, tổ chuyên môn
nghiên cứu nắm sát nội dung
chương trình phân môn Chính tả, lưu ý một số từ khó, một
số bài tập mà giáo viên thường
gặp khó khăn trong giảng dạy hiệu quả không cao. Từ đó tìm ra
cách giúp giáo viên hướng
dẫn học sinh dễ hiểu, dễ tiếp thu giúp học sinh viết đúng
chính tả, hình thức tổ chức dạy
học sao cho nhẹ nhàng, sinh động trong đổi mới phương
pháp dạy học, phát huy tính tích
cực của học sinh.
- Gặp gỡ, dự giờ giáo viên giảng dạy và trao đổi với các em
học sinh về một số thuận
lợi, khó khăn khi giảng dạy và học về phân môn Chính tả,
ưu tiên giáo viên trình bày một
số khó khăn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phân
môn giảng dạy. Để từ đó giúp giáo
viên thấy được khi dạy phân môn Chính tả cần phải phát
âm thật chuẩn. Khi phân tích từ
khó thì giáo viên phải hướng dẫn học sinh thật kỹ. Cách
những lỗi sai của mình, các em sẽ ghi nhớ lỗi sai và tự chữa
lỗi cho đúng.
* Đối với học sinh
- Có ý thức học tập cao, tự giác hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo
viên giao.
- Tích cực tham gia các hoạt động học tập theo nhiều hình
thức khác nhau: nhóm, tổ,
cá nhân,…
- Ngồi viết đúng tư thế, biết cách cầm bút và nắm vững quy tắc
chính tả.
- Trong giờ Chính tả, giáo viên cần đề cặp những cụm từ, vần
khó và ý nghĩa của bài
đồng thời chỉ cho các em những lỗi thường mắc phải.
13
- Các nhóm học sinh tham gia thi đọc truy ện trong giờ ra chơi.
- Ở lớp các em phải tập trung nghe giảng để nắm được
nghĩa của từ, quy tắc viết
chính tả, kiểm tra lại các từ sau khi viết để tránh trường hợp
thiếu dấu thanh. Ngoài ra, các
em phải có ý thức tự học, tự rèn luy ện ở nhà.
* Về phía gia đình
- Phụ huynh cũng cần phải thường xuyên kiểm tra kết quả học
tập của các em.
- Giáo viên liên hệ thường xu y ên với phụ huynh hay
ngược lại để cùng kết hợp nhắc
nhở các em tích cực hơn trong học tập.
- Phụ huynh cần trang bị cho các em góc học tập riêng.
- Động viên, nhắc nhở con em mình tích cực đọc thêm
sách báo, truyện thiếu nhi để
bồi dưỡng thêm kiến thức cũng như rèn đọc tốt, hiểu
giờ tất cả giáo viên khối lớp
2 khi dạy Chính tả, qua đó đánh giá các ưu khuyết điểm
của từng giáo viên về nội dung
truyền thụ kiến thức, phương pháp giảng dạy , bao quát học
sinh…, đồng thời kiểm tra kiến
thức chất lượng học sinh, đánh giá tỷ lệ học sinh đạt yêu
cầu và không đạt y êu cầu trong
tiết dạy cụ thể để rèn kỹ năng kịp thời
4. Kết quả thực hiện đề tài sau khi triển khai đạt được
Đúng hoàn
toàn
Chưa đúng
Sai hoàn
toàn Thời điểm
Lớp/
Khối
TSHS
SL TL SL TL SL TL
2A 20/8 8 40% 8 40% 4 20%
Chưa áp
dụng đề
tài
Đầu
năm
Khối 2 94/44 45 47,8% 37
39,4
%
12 12,8%
2A 20/8 11 55% 7 35% 2 10%
GHKI
- Khi áp dụng đề tài vào thực tế giảng dạy chúng tôi
thấy chất lượng phân môn
Chính tả được nâng lên rõ rệt. Tuy nhiên vẫn còn vài em
viết sai, chúng tôi đã khắc phục
những hạn chế nêu trên để đến cuối học kỳ II không còn học
sinh viết sai nhiều lỗi chính tả
nữa.
b. Về khả năng áp dụng và mức độ triển khai: Đề tài này
chúng tôi đã áp dụng
trong tổ chu y ên môn, áp dụng tr ong lớp 2 có hiệu quả.
Trong các buổi họp tổ, chúng tôi
tiếp tục trao đổi về đề tài này và nhân rộng ra các khối
lớp trong trường. Với kết quả đạt
được đã nêu trên, chúng tôi đã áp dụng ở đơn vị, ở cụm và
trong toàn huyện cho năm học
tới