SKKN kinh nghiệm rèn học sinh viết đúng chính tả (nghe viết) lớp 4 - Pdf 34

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tên đề tài: Kinh nghiệm rèn học sinh viết đúng chính tả (nghe-viết) lớp 4.
Tên tác giả: Nguyễn Thi Thu Lê và Lê Văn Hoàn.
Đơn vị công tác: Trường tiểu học Thị Trấn A.
1. Lý do chọn đề tài:
- Thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và theo chuẩn kiến thức
kỹ năng các môn học lớp 4. Yêu cầu của chương trình sách giáo khoa lớp 4.
- Thực trạng học sinh viết sai, viết chưa đúng chính tả trong phân môn
Chính tả ở trường Tiểu học nói chung và học sinh khối 4 nói riêng.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Học sinh biết viết đúng chính tả một bài văn, bài thơ.
- Học sinh nắm được các quy tắc khi viết chính tả.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Phương pháp dạy học phân môn chính tả lớp 4 và những kinh nghiệm rèn
kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh.
4. Phạm vi nghiên cứu:
- Phương pháp dạy học phân môn chính tả (nghe-viết) lớp 4.
- Học sinh lớp 4 Trường tiểu học Thị Trấn A huyện Dương Minh Châu tỉnh
Tây Ninh năm học 2014-2015.
5. Đề tài đưa ra giải pháp mới:
a. Đối với giáo viên:
- Chuẩn bị kỹ nội dung bài trước khi đến lớp.
- Chuẩn bị đồ dùng dạy học phục vụ cho tiết dạy.


- Lựa chọn những phương pháp tối ưu nhằm giúp học sinh tiếp thu bài
nhanh và hiệu quả.
- Tổ chức tiết học cho sinh động, tích cực, nhẹ nhàng đảm bảo mọi học sinh
đều dễ dàng phát huy năng lực tư duy.
- Chuẩn bị giải quyết những tình huống mà học sinh có thể đưa ra trong quá
trình học tập.

và chiếm thời lượng học nhiều nhất vì thông qua môn tiếng Việt hình thành và
phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học
tập và giao tiếp. Giúp học sinh phát huy ưu thế của việc học tiếng mẹ đẻ, đồng
thời phát huy tư duy nhận thức và bồi dưỡng ngôn ngữ hoàn chỉnh. Bên cạnh đó,
học sinh hiểu được việc viết đúng chính tả, viết đẹp, viết rõ ràng một bài viết là
những biểu hiện của thái độ đúng đắn, một hành động tích cực góp phần hình
thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình
thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.
- Môn Tiếng Việt ở trường phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực
hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện
trong 4 dạng hoạt động tương ứng với chúng là 4 kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết.
Trong đó kỹ năng nghe và viết được hình thành chủ yếu ở phân môn Chính tả.
Như vậy chính tả cũng có vai trò rất quan trọng. Hơn nữa, trong nhà trường chỉ
với cấp Tiểu học, chính tả mới được dạy và học với tư cách là một phân môn. Vì
thế nếu ở Tiểu học, học sinh đã mắc lỗi chính tả thì sau này rất khó sửa chữa.
- Qua nhiều năm trực tiếp chỉ đạo và giảng dạy, chúng tôi luôn bắt gặp
nhiều lỗi sai trong bài viết chính tả của học sinh. Điều làm chúng tôi băn khoăn,
lo lắng khi thấy học sinh còn viết sai nhiều lỗi chính tả. Ngoài việc sai lỗi ở tính
cẩu thả, viết tùy tiện không suy nghĩ, các em còn viết sai do không nắm quy tắc
chính tả, quy tắc viết hoa, không hiểu nghĩa của từ và cách phát âm theo ngôn
ngữ địa phương. Làm thế nào để học sinh viết bài chính tả tốt hơn, ít sai lỗi hơn?

3


Trước tình hình thực tế như vậy là người quản lý, người giáo viên cần phải có
những biện pháp nào để rèn học sinh viết chính tả được tốt hơn, viết đúng chính
tả? Đó là việc làm hết sức quan trọng đối với người giáo viên tiểu học hiện nay.
Từ những suy nghĩ trên và kinh nghiệm rút ra trong công tác chỉ đạo, trong
giảng dạy trực tiếp chúng tôi quyết định thực hiện đề tài: Kinh nghiệm rèn học

chúng tôi trình bày một cách có lập luận, có hệ thống và khoa học, với đề tài này
chúng tôi đã đọc các loại sách: Tài liệu tâm lý giáo dục; Chuẩn kiến thức kỹ
năng; Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh; Sách giáo khoa-Sách giáo viên lớp 4
tập 1- 2; Tài liệu hướng dẫn giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 4; Tài liệu bồi dưỡng
phương pháp dạy học cho giáo viên tiểu học.
5.2. Điều tra thực trạng:
Tìm hiểu phương pháp dạy và học các bài chính tả và tình hình dạy phân
môn Chính tả ở các lớp thuộc đơn vị Trường tiểu học Thị Trấn A. Đồng thời
điều tra thực trạng viết chính tả của học sinh qua hình thức kiểm tra để giáo viên
thấy được sự sai sót của học sinh để có hướng khắc phục.
5.3. Thực nghiệm:
Nhằm kiểm chứng khả năng ứng dụng của đề tài vào thực tiễn và tính khả
thi của sáng kiến kinh nghiệm.
5.4. Đàm thoại:
Thông qua đàm thoại trực tiếp giữa học sinh và giáo viên nhằm thu thập
thông tin từ học sinh qua cách hiểu, cách đọc bài để có cách điều chỉnh kịp thời
trong từng tiết giảng.
5.5. Tổng hợp, đối chiếu, so sánh:
Sau khi thực hiện những nội dung của đề tài so sánh đối chiếu kết quả theo
từng giai đoạn của năm học, nhằm thống kê những ưu, khuyết điểm trong quá

5


trình tiếp nhận kiến thức của học sinh và làm cơ sở cho việc khắc phục các thiếu
sót và nghiên cứu tiếp nội dung đề tài.
6. Giả thuyết khoa học:
Chúng ta biết rằng chữ viết có tầm quan trọng trong việc học tập ở bậc tiểu
học, vì học sinh phải dùng chữ viết để học tập và giao tiếp. Hơn nữa bậc Tiểu
học là nền tảng, là căn bản cho học sinh học tiếp lên các cấp tiếp theo. Nếu học

đảm bảo cho người phát và người nhận đều hiểu rõ nội dung văn bản một cách
thống nhất, người ta đã đưa ra hệ thống quy tắc về cách viết cho các từ của một
ngôn ngữ. Như vậy, chính tả là một phân môn có tính thực hành thông qua luyện
tập thực hành để rèn luyện cho học sinh năng lực và thói quen viết đúng chính tả

7


mà còn giúp các em vận dụng vào cuộc sống hàng ngày, còn rất cần thiết để học
các môn học khác, góp phần hình thành cho các em thành một người toàn diện
về phẩm chất đạo đức, xây dựng con người mới yêu quê hương đất nước, bồi
dưỡng tình yêu tiếng Việt, ý thức xây dựng đất nước ngày càng đẹp hơn. Vì vậy,
vấn đề rèn luyện để nâng cao chất lượng viết đúng chính tả là việc làm hết sức
cần thiết và cấp bách.
2. Cơ sở thực tiễn:
- Viết đúng chính tả có ý nghĩa rất to lớn đối với học sinh, đặc biệt là học
sinh tiểu học. Viết đúng chính tả giúp các em chiếm lĩnh và sử dụng ngôn ngữ
tiếng Việt thành thạo và chính xác. Đó cũng là một khả năng không thể thiếu
của con người Việt Nam trong thời đại văn minh. Nếu học sinh viết sai chính tả
thì người đọc sẽ không hiểu và hiểu sai ý muốn diễn đạt.
- Nhưng thực tế trong công tác quản lý và dạy Chính tả (nghe-viết) chúng
tôi nhận thấy rằng việc viết chính tả còn mắc nhiều lỗi ở học sinh là do việc vận
dụng các hình thức, nội dung dạy và học của thầy và trò còn nhiều hạn chế.
2.1. Đối với học sinh:
Học sinh chưa hiểu nghĩa của từ, nắm chưa rõ luật chính tả, dùng tiếng địa
phương.
Học sinh ít đọc bài, ít xem sách báo.
Do thói quen “đọc sao viết vậy”; viết tự nhiên, thoải mái theo cách hiểu của
mình.
Học sinh còn nhầm lẫn giữa thanh hỏi và thanh ngã, còn viết sai âm đầu:

Mức độ
Số lượng
Tỷ lệ
Sai cách viết hoa
22
16,3
Sai thanh hỏi/ngã
27
20,0
135
Sai phụ âm đầu
25
18,5
Sai âm cuối
28
20,7
Viết đúng
33
24,5
Như số liệu trên cho thấy số học sinh viết đúng chính tả còn thấp.
Thực tế ở một số giờ dạy chính tả, thời gian giáo viên dành cho học sinh
phân tích từ, giải nghĩa từ khó còn quá ít, giáo viên còn áp đặt cho các em. Bản
thân học sinh cho rằng mình viết đúng chính tả rồi nên không chú tâm đến việc

9


phân tích và hiểu nghĩa của từ khó. Giáo viên ít tổ chức, ít gợi ý để học sinh
khám phá tìm hiểu cách đọc, cách viết để giờ chính tả đạt hiệu quả cao hơn.
Qua thực trạng trên, là người quản lý, người giáo viên cần phải có biện

chính tả thông thường khó hiểu. Vì thế, là một cán bộ quản lý cần quan tâm và
có hướng chỉ đạo cho giáo viên phải sâu sát trong việc viết đúng chính tả. Muốn
thực hiện được điều này bản thân giáo viên phải nghiên cứu thêm tài liệu tiếng
việt ở tất cả các miền, nắm vững nghĩa của từ, Luật chính tả. Phần bài tập của
chính tả giáo viên cần phân tích sâu để học sinh nắm vững nghĩa của từ để
không viết sai, đặc biệt là các lỗi thông thường. Muốn thực hiện tốt điều này thì
cán bộ quản lý, giáo viên phải có mục tiêu, phương hướng cụ thể để giúp học
sinh viết đúng chính tả ở trường tiểu học nói chung và học sinh lớp 4 nói riêng.
- Chỉ đạo tổ chuyên môn nghiên cứu nắm chắc chương trình môn Tiếng
Việt (Chính tả nghe-viết). Tổ chức các tiết thao giảng, mở chuyên đề, hội thảo
về phương pháp dạy và học phân môn Chính tả để giáo viên có điều kiện trao
đổi tìm ra những biện pháp tối ưu nhất giúp học sinh viết đúng chính tả.
- Nhắc nhở tổ chuyên môn sinh hoạt nội dung họp tổ phải có chất lượng đối
với môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Chính tả nói riêng, nhằm phát huy
tính sáng tạo của mỗi giáo viên góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
- Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thực hiện nghiêm túc công tác kiểm tra và
chữa bài, đặc biệt là Chính tả. Sau đó ghi kết quả của từng học sinh vào sổ theo
dõi và hướng dẫn cho học sinh kịp thời sửa chữa, khắc phục sai sót, đồng thời
động viên, khích lệ tinh thần học tập của học sinh.
- Thường xuyên dự giờ thăm lớp để nắm bắt tình hình dạy và học của giáo
viên, học sinh để rút kinh nghiệm và điều chỉnh kịp thời.
- Động viên, khuyến khích giáo viên luôn có tinh thần đổi mới phương
pháp dạy học, vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào tiết dạy chính tả.
3.2.2. Đối với giáo viên:

11


Để rèn học sinh kỹ năng viết đúng chính tả thì giáo viên cần phải hướng
dẫn các em qua các bước:

không viết sai.
Ví dụ: phân biệt muốn/muống.
Muốn = m + uôn + thanh sắc.
Muống = m + uống + thanh sắc.
Học sinh so sánh để thấy sự khác nhau: tiếng “muốn” có âm cuối là “n”,
tiếng “muống” có âm cuối là “ng”.
Cần cho học sinh so sánh để thấy được sự khác nhau trong từng cặp từ vừa
phân tích để học sinh ghi nhớ. Với cặp từ dễ lẫn lộn giáo viên có thể yêu cầu học
sinh tìm thêm từ có âm, vần, thanh dễ lẫn vừa phân tích để các em sẽ ghi nhớ và
viết sẽ không bị sai. Hoặc giáo viên thu thập những từ ngữ có âm cuối mà học
sinh hay viết lẫn lộn, nói cách khác là tiến hành khảo sát, thống kê lỗi chính tả
này của học sinh.
Ví dụ: Học sinh thường viết sai:
Gậc gù, hạc lúa, hạc mưa, tác nước, tấc bậc,…
Biếng mất, châng trời, vang nài, làn xóm,…
Trên cơ sở đó giáo viên soạn một hệ thống so sánh phân biệt các cặp phụ
âm cuối t/c; n/ng, tiến tới hình thành cho học sinh ý thức và thói quen viết đúng,
biết phân biệt các cặp từ ngữ có hai phụ âm cuối này.
Trong giờ tập đọc, khi luyện đọc từ khó, giáo viên nên chọn những từ khó
phát âm vì đó cũng là những từ mà học sinh dễ viết sai lỗi chính tả, giáo viên
hướng dẫn các em phát âm thật chuẩn xác và đưa nó vào trong văn cảnh của bài
học để giải thích. Khi học sinh luyện phát âm, giáo viên chú ý theo dõi, uốn nắn
kịp thời.
+ Học sinh thường đọc sai phụ âm đầu.
Ví dụ: phỏe phắn, cá gô.
Hướng dẫn các em đọc đúng: khỏe khoắn, cá rô.

13





Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền,
nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng trước mang
thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược lại).
Ví dụ: Ngang + hỏi: nho nhỏ, vui vẻ, trong trẻo,…
Sắc + hỏi: mát mẻ, sắc sảo, vắng vẻ,…
Hỏi + hỏi: thỏ thẻ, hổn hển, rủ rỉ,…
Huyền + ngã: sẵn sàng, lững lờ, vồn vã,…
Nặng + ngã: nhẹ nhõm, mạnh mẽ, đẹp đẽ,…
Ngã + ngã: dễ dãi, nhõng nhẽo, nghễnh ngãng,...
* Ngoài ra giáo viên có thể hướng dẫn cho học sinh phân biệt thanh hỏi và
thanh ngã như sau:
Áp dụng quy tắc “Mình nên nhớ là viết dấu ngã”.
Những từ Hán Việt bắt đầu bằng “d, v, n, m , l” thì viết với dấu ngã (kể cả
“nh, ng, ngh”).
Ví dụ: D: dã man, dũng sĩ, anh dũng, bồi dưỡng, diễn đạt,…
V: vĩ đạt, hùng vĩ, vũ khí, dĩ vãng, vũ lực, vũ trang,…
N: nỗ lực, phụ nữ, tầm nã, truy nã, trí não, nhẫn nại,…
M: mã số, mã lực, mãnh liệt, mẫn cảm, mỹ mãn,…
L: lãnh đạo, lãng mạn, nghi lễ, lĩnh vực, chiếm lĩnh,…
Những từ Hán Việt còn lại được bắt đầu bằng các phụ âm khác thì viết với
dấu hỏi.
Trừ các trường hợp ngoại lệ sau đây: bãi khóa, hoài bão, cưỡng bức, linh
cữu, chiêu đãi, quang đãng,…
3.2.2.3. Khắc phục lỗi về phụ âm đầu:
Trong phương ngữ Bắc và Nam có sự nhầm lẫn giữa các chữ ghi âm đầu
ch/tr, d/v/gi, s/x. Mặt khác, trong khi một số vùng miền Bắc thường nhầm lẫn âm
đầu l/n thì người miền Nam thường nhầm lẫn v/d, r/g. Ngoài ra, trong quy ước về
chữ Quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 dạng (ví dụ: âm “ngờ” ghi bằng ng/ ngh, âm


16


Cả 3 âm v/d/gi không láy với nhau chỉ láy như: “d” láy với “d”, “v” láy với
“v”, “gi” láy với “gi”.
Ví dụ: Dại dột, da dẻ, dịu dàng,…
Vui vẻ, vi vu, vù vù,...
Giẫy giụa, giặt giũ, giặc giã,...
c. Đối với âm đầu “s/x”:
- Viết “s” trong một số trường hợp sau:
Đa số những từ chỉ trạng thái tốt được viết với âm đầu là “s”.
Ví dụ: Sáng suốt, suôn sẻ, sạch sẽ, sung sướng,...
Đa số những từ chỉ tên con vật, tên cây cối, hiện tượng tự nhiên được viết
với âm đầu là “s”.
Ví dụ: Sếu, sáo, sâu, sên, sò, sóc, sói, sư tử, sứa,…
Sả, si, sứ, su su, sim, sầu đâu, sầu riêng, sung,…
Sông, suối, sấm, sương,...
- Viết “x” trong một số trường hợp sau:
Đa số các từ chỉ tên thức ăn được viết với âm đầu là “x”:
Ví dụ: xôi, xúc xích, xá xíu,...
Đa số các từ chỉ sự nhỏ đi, sút đi hoặc teo đi được viết với âm đầu “x”:
Ví dụ: xì, xẹp, nhỏ xíu,...
“S chỉ láy với “s”, “x” chỉ láy với “x”.
Ví dụ: Sạch sẽ, sáng suốt,…
Xinh xắn, xui xẻo, xó xỉnh,…
d. Đối với âm đầu “l/n”:
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh biết âm “l” đứng trước các âm đệm
nhưng âm “n” lại không đứng trước âm đệm, nó chỉ điệp âm đầu mà thôi.
Ví dụ: những từ điệp âm đầu “n”: no nê, nao núng, náo nức, nỗi niềm,

Ví dụ: thước kẻ, kể chuyện, kỹ lưỡng,...
Như vậy:
- Khi đứng trước các nguyên âm o, ô, u, uô, a, ă, â, ơ, ư, ươ,…thì:
+ Phụ âm đầu “cờ” được viết bằng con chữ ‘c”;

18


+ Phụ âm đầu “gờ” được viết bằng con chữ “g”;
+ Phụ âm đầu “ngờ” được viết bằng con chữ “ng”.
- Khi đứng trước các nguyên âm i, ê, iê, e,…thì:
+ Phụ âm đầu “cờ” được viết bằng con chữ “k”;
+ Phụ âm đầu “gờ” được viết bằng con chữ “gh”;
+ Phụ âm đầu “ngờ” được viết bằng con chữ “ngh”.
3.2.2.4. Khắc phục lỗi về vần và âm cuối:
Đa số học sinh lớp 4 là người miền Nam, mà người miền Nam hoàn toàn
không phân biệt các vần ắt/ắc; ăn/ăng và các vần có âm cuối n/ng/nh và t/c/ch.
Mà số từ mang các vần này không nhỏ. Mặt khác hai bán âm cuối i/u lại được
ghi bằng bốn con chữ i/y (trong lai/lây), u/o (trong sau/sao).
Để khắc phục tình trạng học sinh viết sai về vần và âm cuối chúng tôi đã
hướng dẫn học sinh:
* Hướng dẫn cho các em nắm mẹo viết vần ăt/ăc, ăn/ăng.
Các từ có vần “ăt” thường có nghĩa là cắt nhỏ, tách rời hoặc túm giữ một
vật gì đó.
Ví dụ: cắt, chặt, thắt, tắt, ngắt,…
Các từ có vần “ăc” thường có nghĩa chỉ sự lung lay, dao động.
Ví dụ: lúc lắc, ngắt ngứ, cà nhắc,…
Các từ có vần “ăng” thường có nghĩa thẳng ra.
Ví dụ: căng, thẳng, phẳng,…
Các từ có vần “ăn” thường chỉ sự cuộn tròn không thẳng.

Ví dụ: nội quy, quy cách,...
Viết “i” trong các trường hợp còn lại.
Như vậy, căn cứ vào luật chính tả, chỉ những âm “i” nào đứng sau âm đệm
“u” (âm đệm “u” đi sau “q” và trước “ê, y, ơ, â”) mới viết “y”, còn không thì
đều viết thành “i”.
3.2.2.5. Hướng dẫn giải nghĩa từ:
Để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giải nghĩa từ. Việc giải nghĩa từ
thường được thực hiện trong các tiết Luyện từ và câu, Tập đọc, Tập làm văn,…

20


nhưng nó cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết chính tả, khi mà học sinh
không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng.
Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh:
+ Giáo viên cho học sinh đọc chú giải ở sách giáo khoa.
Ví dụ: Nghe-viết: Thợ rèn.
. Quai (búa): vung búa lên cao rồi giáng mạnh xuống.
. Tu: uống nhiều và liền một mạch bằng cách ngậm vào miệng chai
hay vòi ấm.
+ Giáo viên cho học sinh đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học
sinh đã hiểu nghĩa từ).
Ví dụ: Phân biệt rối/dối.
Giáo viên cho học sinh phân biệt rối/ dối bằng cách đặt câu.
Em thích xem múa rối.
Cô dạy em không được nói dối.
Học sinh đặt đúng câu có hai tiếng trên có nghĩa là học sinh đã phân biệt
được “rối” và “dối”. “Rối” là một trò chơi còn “dối” là nói không đúng sự thật.
Vì vậy khi viết các em chắc chắn khi nào thì viết “rối” còn khi nào thì viết
“dối”.

thường viết sai do các em không nắm được quy tắc viết hoa. Vì vậy, giáo viên
hướng dẫn học sinh cách viết như sau:
Đối với tên người, tên địa lý Việt Nam:
Hướng dẫn học sinh khi viết tên người, tên địa lý Việt Nam, cần viết hoa
chữ cái đầu của mỗi tiếng tạo thành tên đó.
Ví dụ: Tên người: Nguyễn Huệ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai.
Tên địa lý: Trường Sơn, Sóc Trăng, Vàm Cỏ Tây, Tây Ninh.
Đối với tên người, tên địa lý nước ngoài:
Hướng dẫn học sinh khi viết tên người, tên địa lý nước ngoài, ta phải viết
hoa chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo thành tên đó, nếu bộ phận tạo thành tên đó
gồm nhiều tiếng thì giữa các tiếng cần có dấu gạch nối.
Ví dụ: Tên người: Lép Tôn-xtôi.

22


Hướng dẫn học sinh tên người Lép Tôn-xtôi gồm 2 bộ phận: bộ phận thứ 1
là lép, bộ phận thứ 2 là tônxtôi ta phải viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo
thành tên đó. Bộ phận thứ 2 gồm hai tiếng tôn/xtôi thì giữa hai tiếng này có dấu
gạch nối.
Ví dụ: Tên địa lý: Hi-ma-lay-a.
Hướng dẫn học sinh tên địa lý Hi-ma-lay-a gồm 1 bộ phận ta phải viết
hoa chữ cái đầu bộ phận tạo thành tên đó và có 4 tiếng giữa 4 tiếng này có
dấu gạch nối.
Có một số tên người, tên địa lý nước ngoài viết giống như cách viết tên
riêng Việt Nam. Đó là những tên riêng được phiên âm theo âm Hán Việt.
Ví dụ: Tên người: Thích Ca Mâu, Khổng Tử, Bạch Cư Dị.
Tên địa lý: Hi Mã Lạp Sơn, Luân Đôn, Bắc Kinh, Thụy Điển.
Đối với tên các tổ chức, tên các huân chương, danh hiệu, giải thưởng:
Khi viết tên các tổ chức, tên các huân chương, danh hiệu, giải thưởng phải

chính tả khác nhau như: Bài tập điền âm, vần, tìm từ,… để giúp học sinh vận
dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể.
Sau mỗi lần làm bài tập giáo viên giúp học sinh rút ra quy tắc chính tả để các em
ghi nhớ.
Ví dụ: Nghe-viết: Sầu riêng.
Điền vào chỗ trống: ut hay uc:
Con đò lá tr … qua sông
Trái mơ tròn trĩnh, quả bòng đung đưa.
B… nghiêng lất phất hạt mưa.
B… chao gợn nước Tây Hồ lăn tăn.
Theo Hồ Chí Minh
Ví dụ: Nghe-viết: Cha đẻ của chiếc lốp xe đạp
Điền vào chỗ trống: tr hay ch
…uyền …ong vòm lá.
…im có gì vui

24


Mà nghe ríu rít
Như …ẻ reo cười.
Ví dụ: Nghe-viết: Chiếc áo búp bê.
Thi tìm tính từ: chứa bắt đầu bằng “s” hoặc “x”.
Mẫu: sung sướng, xấu
Để làm tốt phần bài tập chính tả, giáo viên cần sử dụng những phương pháp
dạy học thích hợp gây hứng thú học tập cho học sinh. Tùy theo nội dung phần
bài tập, giáo viên có thể cho học sinh làm việc cá nhân, theo nhóm, thi đua hoặc
ai đúng ai nhanh,… nhằm tránh sự nhàm chán cho học sinh khi học phân môn
chính tả, tạo sự hứng thú học tập, giúp học sinh ham thích học chính tả.
Ví dụ: Nghe-viết: Người tìm đường lên các vì sao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status