skkn một số kinh nghiệm rèn học sinh giỏi kỹ năng nhận dạng toán có lời văn “ tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó - Pdf 24

Sáng kiến kinh nghiệm Trường TH Tân Hiệp
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
II. MỤC ĐÍCH , PHƯƠNG PHÁP VÀ GIỚI HẠN
B/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN
II. THỰC TRẠNG
III .GIẢI PHÁP
1. Nội dung chương trình dạy toán có lời văn ở các khối lớp
liên quan.
2. Nội dung chương trình dạy toán có lời văn ở khối lớp 4.
3.Mục tiêu và yêu cầu đặt ra khi giải toán có lời văn ở lớp 4.
4.Chuẩn bị của thầy và trò.
5.Hướng dẫn xây dựng các bước khi thực hiện giải toán có lời
văn và hình thành kĩ năng nhận dạng toán có lời văn “ Tìm hai số
khi biết tổng và hiệu của hai số đó.” ở lớp 4.
6. Biện pháp rèn kỹ năng nhận dạng toán có lời văn “ Tìm
hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó.” ở lớp 4.
7.Kết quả
C/ KẾT THÚC VẤN ĐỀ
I. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
II. KẾT LUẬN
Trang 3
Trang 4
Trang 6
Trang 7
Trang 9
Trang 9
Trang 10
Trang 11
Trang 11

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Toán học có vị trí rất quan trọng phù hợp với cuộc sống thực tiễn đó
cũng là công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp học sinh nhận thức
thế giới xung quanh, để hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn.
Trong chương trình bậc tiểu học môn toán được dành thời gian rất nhiều
5 tiết/ tuần chính khóa , ngoài ra còn các tiết ôn luyện buổi chiều . Khả năng
giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn, nó có khả năng phát triển tư duy
lôgic, phát triển trí tuệ. Nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyện phương pháp
suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề có suy luận,
có khoa học toàn diện, chính xác, có nhiều tác dụng phát triển trí thông minh,
tư duy độc lập sáng tạo, linh hoạt góp phần giáo dục ý chí nhẫn nại, ý chí
vượt khó khăn.
Giải toán là một trong những vấn đề trung tâm của phương pháp dạy học
toán ở cấp học phổ thông. Giải toán còn là thước đo việc nắm lí thuyết, trình
độ tư duy, tính linh hoạt sáng tạo của người học toán. Qua đó, người học toán
được làm quen với cách đặt vấn đề, biết cách trình bày lời giải rõ ràng, chính
xác và logic.
Trong đó môn Toán nói chung, môn Toán lớp 4 nói riêng là nền tảng
cho nền kiến thức sau này. Các em mà hổng kiến thức ở bậc Tiểu học thì sau
này các em khó có thể giải các bài toán ở bậc cao hơn. Toán học là “ khoa học
của các ngành khoa học” toán học kết nối những môn học đến gần nhau như ,
hóa học , lý , sinh học … Mà bất cứ một ngành nào hay một lĩnh vực nào thì
Toán học cũng góp phần trong đó , giúp nhà doanh nghiệp thành công trong
kinh doanh hay các nhà khoa học thành công trong việc nghiên cứu. Vậy
muốn có được kết quả như mong muốn chúng ta phải gây dựng, kèm cặp ngay
từ bậc Tiểu học là một việc rất cần làm. Như chúng ta đã biết: Toán là “ sai
một li đi một dặm ”, có nghĩa là Toán rất cần sự tuyệt đối chính xác.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Kim Oanh Trang
3
Sáng kiến kinh nghiệm Trường TH Tân Hiệp

4
Sáng kiến kinh nghiệm Trường TH Tân Hiệp
dạng toán có lời văn và hình thành kỹ năng nhận dạng tốt các bài toán có lời
văn “ Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” trong chương trình toán
lớp 4. Hình thành năng lực tư duy và phấm chất trí tuệ cho người học.
2/ Phương pháp :
Để nắm bắt tình hình học tập của học sinh mình tôi sử dụng phương
pháp điều tra biết được những kĩ năng toán giải toán có lời văn ở lớp dưới của
các em.
Phương pháp quan sát các em trong các hoạt động nhóm, hoạt động cá
nhân để biết điểm mạnh và điểm yếu sau đó kịp thời bổ sung cho hoàn thiện.
Phương pháp thực hành: Qua quá trình thực hành của các em tôi theo
dõi và có kế hoạch giúp đỡ kịp thời .
Tiến hành thực nghiệm là phương pháp quan trọng nhất để biết được
những nội dung tôi đưa ra có phù hợp với các em hay không từ đó có hướng
điều chỉnh.
3. Giới hạn nghiên cứu
Rèn kĩ năng giải toán có lời văn ở lớp 4 gồm 5 dạng toán có lời văn cơ
bản : “Tìm số trung bình cộng, Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó;
Phân số của một số . Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó. Tìm 2 số khi
biết hiệu và tỉ số của 2 số đó.” Bản thân tôi có hạn nên tôi tập trung vào dạng
toán có lời văn “ Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” ở lớp 4.
Nghiên cứu cách đưa các mạch kiến kiến thức lý thuyết vào nội dung vận
dụng thực hành từng bài cụ thể cho học sinh khá giỏi của lớp 4.3 và đội tuyển
học sinh giỏi khối 4 của trường. Từ đó xây dựng nội dung rèn học sinh giỏi kĩ
năng nhận dạng toán có lời văn “ Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số
đó.” Với các dạng toán các em đang học.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Kim Oanh Trang
5
Sáng kiến kinh nghiệm Trường TH Tân Hiệp

6
Sáng kiến kinh nghiệm Trường TH Tân Hiệp
nhiên, hiệu quả". Để đáp ứng với công cuộc đổi mới của đất nước nói chung
và của ngành giáo dục tiểu học nói riêng.
5. Học lí thuyết phải luôn đi đôi với thực hành phương ngôn có câu: "
Trở thành nhân tài một phần do tài năng còn 99 phần là ở sự tôi luyện".
Theo tôi, điều quan trọng hơn cả là chúng ta phải trang bị cho các em kiến
thức , kĩ năng cần thiết khi thực hành luyện tập giải các bài toán Thông qua
việc giải toán các em thấy được nhiều khái niệm toán học. Như các số, các
phép tính, các đại lượng, các yếu tố hình học đều có nguồn gốc trong cuộc
sống hiện thực, trong thực tiễn hoạt động của con người, thấy được mối quan
hệ biện chứng giữa các sự kiện, giữa cái đã cho và cái phải tìm.
Qua việc giải toán đã rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy và những
đức tính của con người mới. Có ý thức vượt khó khăn, đức tính cẩn thận, làm
việc có kế hoạch, thói quen xét đoán có căn cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả
công việc mình làm, óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo, giúp học sinh vận dụng
các kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán, kĩ năng ngôn ngữ. Nhưng cái cuối
cùng mà mỗi người giaó viên muốn mang đến cho các em ngoài kiến thức còn
hình thành nhân cách của một con người mới xã hội chủ nghĩa “ Con người
sáng về trí tuệ , giàu về đạo đức , đẹp về nhân cách”.
II. THỰC TRẠNG:
1. Thuận lợi:
Đa số học sinh thích học môn toán nhà trường trang bị tương đối đầy đủ
đồ dùng cho dạy học toán. Học sinh có đầy đủ phương tiện học tập. Nhà
trường cũng như cha mẹ học sinh đầu tư cho các em một cách toàn diện. Tạo
sự đồng thuận rất lớn giữa dạy và học.
Các em học sinh có thức học tập rất tốt. Sau nhiều năm hướng dẫn đội
tuyển học sinh giỏi của trường vừa làm vừa học thêm trong quá trình hướng
dẫn tôi đã có thể nắm bắt được những nội dung trọng tâm. Từ đó dễ dàng hơn
khi xây dựng nội dung rèn phù hợp với học sinh.

thực hiện bài toán sai là do : Do nhầm lẫn trong thực hiện phép tính, nhưng
nguyên nhân chính vẫn là do kĩ năng nhận dạng toán, kỹ năng phân tích tóm
và giải các bài toán có lời văn của các em còn nhiều hạn chế. Phân tích tóm tắt
bài toán chính là phản ánh sự hiểu bài và làm bài của các em. Em nào tóm tắt
được bài toán thì khả năng làm bài giải đúng sẽ cao hơn. Chính vì thực trạng
này đặt ra cho tôi là : Dạy giải toán có lời văn như thế nào để các em ngoài
việc nắm được kiến thức thì phải có kỹ năng giải những dạng bài tương tự như
nhau. Và kỹ năng đó được nâng cao dần theo thời gian rèn luyện có như vậy
mới nâng cao chất lượng dạy - học.
Việc phối kết hợp nhịp nhàng giữa nội dung chương trình các em đang
học trên lớp, với chương trình thực hành luyện tập là một phương pháp luyện
tập thực hành thật sự mang lại hiệu quả. Các em tham gia thực hành nhiều thì
kĩ năng nhận dạng và phân tích đề chính xác , tư duy logic hơn.
Với những lí do trên tôi mạnh dạn chọn đề tài : Một số kinh nghiệm rèn
học sinh giỏi kỹ năng nhận dạng toán có lời văn: “Ttìm hai số khi biết tổng
và hiệu của hai số đó"
III. GIẢI PHÁP
1. Nội dung chương trình giải toán có lời văn ở các lớp liên quan :
Tôi nhận thấy rằng việc "Để có thể dạy giải toán có lời văn ở lớp 4"
đạt được kết quả tốt thì giáo viên phải nắm được nội dung chương trình dạy
toán có lời văn ở tất cả các khối lớp trước đó như 1,2,3 và lớp 5 để có thể lấy
nội dung kiến thức đã có của các em làm nền tảng và làm bước đệm giúp giáo
viên đưa ra những phương pháp và cách tiếp cận kiến thức mới cho học sinh ở
lớp 4 tốt nhất . Và giáo viên biết được những mạch kiến thức trọng tâm sẽ theo
các em lên lớp cao hơn. Nhưng để có những kỹ năng giải toán tốt thì việc thực
hành và luyện tập là điều kiện “cần và đủ” để làm được điều đó. Qua những
kiến thức đã có các em sẽ thực hành và củng cố kiến thức , kỹ năng giải được
những bài toán ngày một khó hơn.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Kim Oanh Trang
9

nội dung giải toán phù hợp với sự phát triển nhận thức của học sinh lớp 4.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Kim Oanh Trang
10
Sáng kiến kinh nghiệm Trường TH Tân Hiệp
Toán có lời văn giữ một vị trí đặc biệt trong chương trình toán lớp 4 bao
gồm các dạng toán có lời văn điển hình:
- Tìm số trung bình cộng
- Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó
- Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó.
- Tìm 2 số khi biết hiệu và tỉ số của 2 số đó.
- Tìm phân số của một số
- Bài toán có nội dung hình học (chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông)
Nội dung giải toán được sắp xếp hợp lý đan xen với nội dung hình học
(diện tích, chu vi hình vuông, hình chữ nhật ) và các đơn vị đo lường, đo diện
tích nhằm đáp ứng với mục tiêu của chương trình toán 4.
3. Mục tiêu của giải toán có lời văn ở lớp 4:
Học sinh biết giải các bài toán hợp không quá 3 bước tính liên quan đến
các dạng toán điển hình và 5 bước đối với những bài toán nâng cao.
Biết trình bày bài giải đầy đủ gồm các câu lời giải (mỗi phép tính đều có
lời văn) và đáp số theo đúng yêu cầu của bài toán.
Đối với học sinh khá, giỏi phải tìm được nhiều cách giải một bài toán và các
dạng toán được nâng dần có thể 4 , 5 bước.
Để làm được những điều đó việc rèn cho học sinh kĩ năng nhận dạng
từng dạng toán điển hình là một việc rất cần thiết. Chỉ khi nhận dạng đúng đề
toán mới có thể thực hiện được dạng toán ấy.
4. Chuẩn bị của thầy và trò
Tôi thấy muốn rèn kĩ năng thực hành giải toán có lời văn cho học sinh
thì các mấu chốt là phải tìm ra các phương pháp tiếp cận những dạng toán đó.
Phương pháp giải chính là “chìa khóa” mở cánh cổng cất giấu tri thức mà mỗi
người thầy muốn học trò mình mở ra. Chìa khóa thì chỉ có một và một , kết

Giải toán đối với học sinh là một hoạt động trí tuệ khó khăn, phức tạp.
Việc hình thành kỹ năng giải toán có lời văn khó hơn nhiều so với kĩ năng tính
vì bài toán giải là sự kết hợp đa dạng hoá nhiều khái niệm, nhiều quan hệ toán
học, chính vì những đặc trưng đó mà giáo viên cần phải rèn cho học sinh có
được thao tác , kĩ năng chung trong quá trình giải toán có lời văn .
Người thực hiện: Nguyễn Thị Kim Oanh Trang
12
Sáng kiến kinh nghiệm Trường TH Tân Hiệp
Bước 1: Đọc kỹ đề bài , phân tích đề , nhận dạng đề : Có đọc kỹ đề bài
học sinh mới tập trung suy nghĩ về ý nghĩa nội dung của bài toán và đặc biệt
chú ý đến yêu cầu của bài toán. Tôi chú ý rèn cho học sinh có thói quen chưa
hiểu đề toán thì chưa tìm cách giải. Khi giải bài toán ít nhất đọc từ 2 đến 3 lần
đến khi nắm được những dữ kiện mà bài toán cho và yêu cầu mà các em cần
thực hiện.
Bước 2: Trình bày những dữ kiện bằng cách tóm tắt đề toán.( Bằng sơ
đồ hoặc bằng chữ) . Để biết bài toán cho biết gì? Hỏi gì? (tức là yêu cầu gì?)
Đây chính là trình bày lại một cách ngắn gọn, cô đọng phần đã cho và
phần phải tìm của bài toán để làm rõ nổi bật trọng tâm, thể hiện bản chất toán
học của bài toán, được thể hiện dưới dạng câu văn ngắn gọn hoặc dưới dạng
các sơ đồ đoạn thẳng.
Bước 3: Tìm cách giải bài toán: Thiết lập trình tự giải, lựa chọn phép
tính thích hợp.( Khuyến khích các em tìm ra những cách giải khác nhau)
Bước 4: Trình bày bài giải: Trình bày lời giải (nói - viết) phép tính
tương ứng, đáp số, kiểm tra lời giải (giải xong bài toán cần thử xem đáp số tìm
được có trả lời đúng câu hỏi của bài toán, có phù hợp với các điều kiện của bài
toán không? (trong một số trường hợp nên thử xem có cách giải khác gọn hơn,
hay hơn không?
Người thực hiện: Nguyễn Thị Kim Oanh Trang
Tóm tắt bài
toán

luyện, năng lực phân tích, tổng hợp của các em không những được nâng cao
mà còn gây được sự hứng thú, ham tìm tòi hiểu biết , sự kiên trì chinh phục
những con số từ đó giúp các em học Toán có hiệu quả hơn.
Dạng toán có lời văn: “ Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó”
là một dạng toán mới với học sinh lớp 4. Nó là phần mở đầu cho hai dạng toán
tổng tỉ và hiệu tỉ mà các em sẽ học trong cuối chương trình lớp 4. Nó cũng là
một dạng toán được kết hợp trong khi xây dựng một số bài toán nâng cao về
Tìm số trung bình cộng , các bài toán ẩn trong nội dung hình học …
Đối với dạng toán Tổng và hiệu , tôi hướng dẫn cho học sinh tóm tắt
bằng sơ đồ đoạn thẳng .Với tôi thì sơ đồ đoạn thẳng gần như là đồ dùng trực
Người thực hiện: Nguyễn Thị Kim Oanh Trang
15
Sáng kiến kinh nghiệm Trường TH Tân Hiệp
quan để các em dễ hiểu nhất. Tóm tắt bằng sơ đồ sẽ là thước đo của việc thể
hiện sự hiểu đề toán của các em.Tôi chia ra làm bốn dạng bài toán chứa nội
dung tổng – hiệu với những nội dung được nâng dần và chứa những yếu tố
tương tự , mỗi dạng bài với một ví dụ cụ thể. Từ đó giúp học sinh nắm chắc
chắn dạng toán tổng – hiệu dù nằm ở dạng nào.
6. 1. Dạng toán tổng - hiệu thuần túy củng cố kiến thức lý thuyết .
Ví dụ 1: Một lớp học có 28 học sinh . Số học sinh trai nhiều hơn số học
sinh gái là 4 em. Hỏi lớp học có bao nhiêu học sinh trai, bao nhiêu học sinh
gái?( SGK trang 47)
Bước 1: 2 học sinh đọc to đề toán phân tích tìm dữ kiện đã cho (cả lớp
đọc thầm theo bạn và gạch chân bằng bút chì dưới những dữ kiện )
Bước 2: Phân tích - tóm tắt bài toán. Cho học sinh phân tích bài toán
bằng 3 câu hỏi:
1. Bài toán cho biết gì? ( Ví dụ : tổng số học sinh là 28 em . học sinh trai
nhiều hơn học sinh gái 4 em) " Tổng và hiệu số học sinh chính là điều kiện
của bài toán".
2. Bài toán hỏi gì? (số học sinh trai, số học sinh gái) "tức là tìm số lớn và

+ Có thể làm bài một trong hai cách như sau.
Hướng giải thứ nhất : Chuyển về hiện tại để tính
Nếu làm cách 1 thì Lấy mốc thời gian hiện nay làm chuẩn ;
+ Nếu trở về trước thì ( tổng số tuổi hiện nay = TS tuổi về trước + (số
năm x 2);
+ Nếu thời gian về sau thì ( tổng số tuổi hiện nay = TS về sau - ( số
năm x 2)
Hướng giải thứ hai : Để nguyên tính sau đó chuyển về hiện tại bằng
cách cộng thêm hoặc trừ đi số năm theo dữ kiện bài toán.
Ví dụ 2: Mẹ hơn con 24 tuổi . Biết tổng số tuổi hiện nay của hai mẹ
con là 42 tuổi. Tìm số tuổi của mỗi người .
Bài toán 1 và 2 học sinh dễ dàng nhận biết đó là dạng toán tìm hai số số
khi biết tổng và hiệu. Nhưng khi thay đổi dữ kiện bằng cách tôi đã chuyển
một số dữ kiện ẩn đòi hỏi học sinh phải tìm trước khi đưa bài toán về dạng
tổng và hiệu.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Kim Oanh Trang
17
Sáng kiến kinh nghiệm Trường TH Tân Hiệp
Ví dụ 3: Mẹ hơn con 24 tuổi . Biết ba năm về trước tổng số tuổi hai mẹ
con là 36 tuổi. Hỏi hiện nay mỗi người bao nhiêu tuổi?
Bước 1: 2 học sinh đọc to đề toán phân tích tìm dữ kiện đã cho (các em
khác đọc thầm theo bạn và gạch chân bằng bút chì dưới những dữ kiện )
Bước 2: Phân tích - tóm tắt bài toán.
Cho học sinh phân tích bài toán bằng 3 câu hỏi:
1. Bài toán cho biết gì? Hiệu, tổng số tuổi hai mẹ con 3 năm trước.
2. Bài toán hỏi gì? "tức là tìm số lớn và số bé".
3. Bài toán thuộc dạng toán gì? (Bài toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu
của hai số đó)
Bước 3 : Tìm cách giải đưa tổng số tuổi hai mẹ con về hiện tại.
- Tìm số lớn chính là số tuổi mẹ

Số tuổi của mẹ hiện nay là : (36+ 24): 2 +3 = 33( tuổi)
Số tuổi của con hiện nay là: 33-24 = 9 ( tuổi)
Đáp số : Mẹ : 33 tuổi ; con 9 tuổi
Ví dụ 4: Mẹ hơn con 24 tuổi . Biết ba năm nữa tổng số tuổi hai mẹ con
là 36 tuổi. Hỏi hiện nay mỗi người bao nhiêu tuổi?
Tương tự như bài toán 3 nhưng tuổi ở tương lai thay vì công thêm vào ta
tính tuổi hiện tại bằng cách trừ đi hai lần số năm đó.
6. 3: Dạng toán tổng- hiệu chứa yếu tố giả thiết ( hiệu ẩn)
Đối với dạng bài thuộc kiểu này tôi chia ra làm hai trường hợp để các
em phân biệt .
Trường hợp 1: Dạng hiệu được giả thiết thêm từ bên ngoài vào
(chuyển ngoài)
Trường hợp 2: Dạng hiệu được giả thuyết luân chuyển trong hai đại
lượng ( chuyển trong)
Với mỗi trường hợp trên ta thấy thường xuất hiện 3 kiểu bài chính là:
Kiểu 1: Khi được giả thiết luân chuyển cho thì hai đại lượng bằng
nhau.
Kiểu 2: Khi chuyển thêm thì đại lượng được nhận thêm hơn đại lượng
còn lại.
Kiểu 3: Khi chuyển thêm vào thì đại lượng được nhận thêm vẫn kém.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Kim Oanh Trang
19
Sáng kiến kinh nghiệm Trường TH Tân Hiệp
Cụ thể khi hướng dẫn học sinh nhận dạng bài toán tôi dạy cho các em
làm theo từng bước cụ thể với từng trường hợp , từng kiểu bài.
6.3.1/ Trường hợp 1: Dạng hiệu được giả thiết thêm từ bên ngoài
vào (chuyển ngoài). Với mỗi kiểu bài tôi hướng dẫn học sinh làm bằng hai
cách giải với những bước cụ thể.
Cách 1
Bước 1: Xác định hiệu có 3 trường hợp

còn lại.)
Ví dụ 7 : Hai kho có 280 tấn thóc. Nếu chuyển thêm 30 tấn thóc vào
kho A thì số thóc kho A ít hơn kho B là 6 tấn . Hỏi mỗi kho có bao nhiêu tấn
thóc? ( Kiểu 3: Khi chuyển thêm thì đại lượng được nhận thêm vẫn kém đại
lượng còn lại.)
Giải minh họa ví dụ 7
Cách 1 :
Hiệu hai kho thóc là : 30 + 6 = 36 (tấn)
Sơ đồ
Kho A :
36 tấn 280 tấn
Kho B:
Số kho thóc ở kho A có là : ( 280 – 36 ) : 2 = 122 ( tấn)
Số thóc ở kho B có là: 280 – 122 = 158 ( tấn)
Đáp số : Kho A : 122 tấn; Kho B : 158 tấn
Cách 2 :
Tổng số thóc ở hai kho sau khi nhận thêm là: 280 + 30 = 310 tấn
Sơ đồ
Kho B :
30 tấn 6 tấn 310 tấn
Kho A:
Số thóc ở kho A sau khi nhận thêm cũng chính là số thóc ban đầu của
kho B: (310 + 6 ): 2 = 158 ( tấn)
Số thóc ban đầu ở kho A là : 158 – 6 = 122( tấn)
Người thực hiện: Nguyễn Thị Kim Oanh Trang
21
Sáng kiến kinh nghiệm Trường TH Tân Hiệp
Đáp số: Kho A : 122 tấn; Kho B : 158 tấn
6.3.2/ Trường hợp 2: Dạng hiệu được giả thuyết luân chuyển trong
hai đại lượng ( chuyển trong) .Thực hiện từng bước với 3 kiểu bài.

Đáp số : Ngày thứ nhất : 143 m; Ngày thứ hai : 203 m
Cách 2: Do nhận thêm từ bên trong nên tổng không thay đổi .
Sơ đồ
Kho A :
30 m 346 m
Kho B:
Số vài ngày thứ nhất bán sau khi nhận thêm là: 346 : 2 = 173 (m)
Số m vải ban đầu ngày thứ nhất bán được là: 173 – 30 = 143 (m)
Số vải ngày thứ hai bán được là : 346 - 143 = 203(m)
Đáp số : Ngày thứ nhất : 143 m; Ngày thứ hai : 203 m
Ví dụ 9: Một cửa hàng bán vải trong hai ngày bán được có 346 m vải.
Nếu chuyển 54 m vài bán được ở ngày thứ nhất sang ngày thứ hai thì thứ nhất
hơn ngày thứ bán là 28 m vải . Hỏi mỗi ngày cửa hàng bán được bao nhiêu m
vải? ( Kiểu 2 ; Cách giải tương tự như hướng dẫn)
Ví dụ 10 : Một cửa hàng bán vải trong hai ngày bán được có 346 m vải.
Nếu chuyển 30 m vài bán ở ngày thứ nhất sang ngày thứ hai thì ngày thứ nhất
vẫn kém ngày thứ hai 24 m vải. Hỏi mỗi ngày cửa hàng bán được bao nhiêu m
vải? (Kiểu 3: Khi chuyển thêm vào thì đại lượng được nhận thêm vẫn kém.
Cách giải tương tự như hướng dẫn)
6.4 . Dạng 4: Dạng toán tổng- hiệu kết hợp chứa yếu tố hình học và
một số dạng toán liên quan .
Đối với dạng toán này thường dành cho các bài tập nâng cao khi bồi
dưỡng học sinh giỏi và khi hướng dẫn cho các em học sinh tôi chia ra làm 3
trường hợp.
6.4.1/ Trường hợp 1: Ở dạng toán bình thường cho chu vi,nữa chu vi
tìm những dữ kiện liên quan.
Cách làm:
Bước 1: Xác định tổng chính là nửa chu vi.
Bước 2 : Vẽ sơ đồ
Người thực hiện: Nguyễn Thị Kim Oanh Trang

Bước 3 : Tìm hiệu chính là ( Tổng của phần giảm đi của chiều dài và tăng
thêm của chiều rộng) hoặc là ( hiệu của phần chiều rộng tăng thêm và chiều
dài tăng thêm). Vẽ sơ đồ
Bước 4 : Tìm chiều dài, chiều rộng , tìm diện tích
Người thực hiện: Nguyễn Thị Kim Oanh Trang
24
Sáng kiến kinh nghiệm Trường TH Tân Hiệp
* Đối với bài học sinh hay mắc lỗi ở phần tìm hiệu. Có khi nhân đôi
hoặc không cộng thêm hay bớt đi của chiều dài. Vì vậy khi hướng dẫn tôi đã
phân tích rõ cho các em nắm chắc và có kĩ năng làm bài.
Ví dụ 12: Cho chu vi hình chữ nhật là 56 m. Nếu chiều dài giảm đi 4m
và tăng chiều rộng 4 m thì trở thành hình vuông. Tìm diện tích hình chữ nhật.
( Bài thi Hs giỏi Lương Thế Vinh năm học 2012-2013)
Giải
Nửa chu vi hình chữ nhật là: 4 m
56 : 2 = 28 (m)
Hiệu giữa chiều dài và chiều rộng:
4 + 4 = 8 ( m)
Chiều dài
8m 28 m
Chiều rộng:
Chiều dài hình chữ nhật có là:
(28 + 8) : 2 = 18 ( m)
Chiều rộng hình chữ nhật có là : 28 – 18 = 10(m)
Diện tích hình chữ nhật: 18 x 10 = 180(m
2
)
Đáp số : 180 m
2
Ví dụ 13: Cho chu vi hình chữ nhật là 56 m. Nếu tăng chiều dài thêm
1

1
14 m


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status