Trường Đại học Thương mại
Khoa: Kinh tế
“ Phân tích tác động
chính sách lãi suất đến hoạt
động kinh doanh của Ngân
hàng Thương mại Cổ Phần
Quân Đội”.
Bộ môn: Kinh tế vĩ mô
Đoàn Thị Hằng - K42F4
1
Trường Đại học Thương mại
Khoa: Kinh tế
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng3.1: Số liệu kết quả hoạt động của Ngân hàng TMCP Quân Đội 2007-
2009 Error: Reference source not found
Bảng 3.2: Lãi suất cho vay của Ngân hàng TMCP Quân Đội Error: Reference
source not found
Bộ môn: Kinh tế vĩ mô
Đoàn Thị Hằng - K42F4
2
Trường Đại học Thương mại
Khoa: Kinh tế
DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ
Hình 2.1: Tác động của lãi suất đến tống sản lượng, việc làm của nền kinh tế
khi lãi suất giảm……………………………………………………………………….11
Hình 2.2: Tác động của lãi suất đến tống sản lượng, việc làm của nền kinh tế
khi lãi suất tăng…………………………………………………………… 11
Biểu đồ 3.1: Thu nhập, chi phí, lợi nhuận của Ngân hàng TMCP Quân Đội
2007-2009 29
Biểu đồ 3.2 : Diễn biến lãi suất cơ bản 2007 - 2009 . Error: Reference source not
found0
Khoa: Kinh tế
Chương 1: Tổng quan về đề tài
1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Cụm từ liên tục được nhắc đến như: “Điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ”,
“Việt Nam nên tiếp tục thắt chặt tiền tệ để kìm chế lạm phát'”, Bình ổn kinh tế không
chỉ dựa vào thắt chặt tiền tệ”, “Chính sách tiền tệ đã “phanh” quá gấp” đã phản ánh
phần nào mức độ quan trọng của chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô.
Cùng với chính sách tài khóa, nó là công cụ chủ yếu giúp điều tiết cung, cầu tiền trong
lưu thông, từ đó tác động tới các chỉ số khác như lạm phát, tỷ giá hối đoái, cán cân
xuất nhập khẩu, vốn đầu tư nước ngoài, kiều hối Nội dung quan trọng nhất của chính
sách tiền tệ là chính sách lãi suất.
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, tác giả sẽ đi sâu phân tích chính sách lãi suất.
Lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu là công cụ chủ yếu giúp
thực thi chính sách lãi suất. Hiện Việt Nam vẫn đang áp dụng cơ chế khống chế lãi
suất. Nhà nước không ấn định các mức lãi suất, mà quy định các mức lãi suất trần,
lãi suất sàn tạo thành khung giới hạn để trong đó các ngân hàng, các tổ chức tín
dụng xác định lãi suất kinh doanh. Điểm qua diễn biến lãi suất phải kể đến thời
điểm 11/6/2008, lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam được tăng từ 12% năm lên
14%/năm. Trong khi đó, ngày 19/5/2008, Ngân hàng Nhà nước đã tăng mạnh lãi
suất cơ bản từ mức 8,75% một năm lên 12%. Ngay sau khi nâng mức lãi suất cơ
bản, các NHTM và quốc doanh đồng loạt nâng lãi suất cho vay và lãi suất huy
động. Cả lãi suất cho vay và lãi suất huy động liên tiếp lập “đỉnh”. Với mức lãi suất
này, cùng với tác động khủng hoảng kinh tế đã tác động mạnh đến nhu cầu vay
vốn, khả năng trả nợ của các doanh nghiệp cũng như hoạt động kinh doanh của hệ
thống ngân hàng. Mối quan tâm lớn nhất của doanh nghiệp và người dân là việc
điều hành chính sách lãi suất cần kịp thời, linh hoạt và đặc biệt tránh đưa ra một
cách đột ngột, ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư.
Bộ môn: Kinh tế vĩ mô
Đoàn Thị Hằng - K42F4
5
- Hệ thống lại các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các
tổ chức tài chính.
Bộ môn: Kinh tế vĩ mô
Đoàn Thị Hằng - K42F4
6
Trường Đại học Thương mại
Khoa: Kinh tế
- Phân tích, đánh giá tác động của chính sách lãi suất đến hệ thống ngân
hàng thương mại.
- Tác động của chính sách lãi suất đến hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng thương mại Cổ phần Quân Đội.
- Ứng phó của Ngân hàng Thương mại khi có sự thay đổi trong chính sách
lãi suất.
- Hoàn thiện chính sách lãi suất của Ngân hàng nhà nước nhằm hạn chế
những rủi ro đối với hoạt động kinh doanh của hệ thồng Ngân hàng thương mại.
1.4. Phạm vi nghiên cứu
Do giới hạn về thời gian, khả năng nghiên cứu và sự hạn chế về mặt số liệu
sẵn có, tác giả sẽ giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
- Không gian: Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Quân Đội
- Các biến số sử dụng: Lãi suất, lợi nhuận, chi phí, thu nhập, tỷ lệ nợ xấu,
hệ số an toàn của vốn.
- Thời gian: 2007-2009. Các biến số phản ánh hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội sẽ được phân tích, so sánh trong thời
gian năm 2007 – 2009.
- Đối tượng vay vốn là Khách hàng Doanh Nghiệp.
1.5. Kết cấu luận văn tốt nghiệp
Ngoài phần mục lục, tóm lược, lời cảm ơn, lời cam kết, danh mục tài liệu
tham khảo, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ hình vẽ, danh mục từ viết tắt và
các phụ lục, luận văn được chia thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Là chính sách lãi suất của Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) và các ngân hàng
thương mại (NHTM), trong những thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội.
• Chính sách lãi suất của NHTƯ: Là cách thức quản lý và điều tiết thị
trường. Chính sách lãi suất của NHTƯ có thể thực hiện theo hai hướng: Chính sách
can thiệp trực tiếp và chính sách tự do hóa lãi suất.
Bộ môn: Kinh tế vĩ mô
Đoàn Thị Hằng - K42F4
8
Trường Đại học Thương mại
Khoa: Kinh tế
Chính sách can thiệp trực tiếp là việc NHTƯ quy định lãi suất trần, lãi suất
sàn, lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu để áp dụng cho từng loại khách hàng,
từng nghiệp vụ tín dụng trên thị trường.
Chính sách tự do hóa lãi suất là chính sách mà trong đó NHTƯ không đưa ra
những khống chế giới hạn biến động lãi suất thị trường. Mức lãi suất thị trường
được hình thành trên cơ sở quan hệ cung cầu tín dụng.
• Chính sách lãi suất của NHTM: Theo chính sách này, các NHTM đưa ra
mức lãi suất kinh doanh và lãi suất điều hòa vốn nội bộ trong toàn hệ thống của
mình trên cơ sở tuân thủ lãi suất chỉ đạo của NHTƯ.
2.2. Một số lý thuyết của vấn đề nghiên cứu
2.2.1. Phân loại lãi suất
2.2.1.1. Căn cứ tiêu thức quản lý vĩ mô
• Lãi suất sàn và lãi suất trần: Là lãi suất thấp nhất và lãi suất cao nhất do
Ngân hàng Trung ương ấn định, hoặc do Ngân hàng thương mại quy định trong hệ
thống của nó, trong nghiệp vụ huy động vốn và cho vay.
Lãi suất sàn và lãi suất trần hình thành khung lãi suất, các NHTM xây dựng
lãi suất kinh doanh trong phạm vi của khung này.
• Lãi suất cơ bản:
Khoản 12 điều 9 của Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam (Luật số
01/1997/QH10) đã chỉ rõ: “Lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Trung ương công
• Lãi suất tái chiết khấu: Là lãi suất cho vay ngắn hạn của NHTƯ đối với
các NHTM và tổ chức tín dụng khác dưới hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá
chưa tới thời hạn thanh toán.
Lãi suất tái chiết khấu do NHTƯ ấn định cho từng thời kỳ, căn cứ vào mục tiêu
chính sách tiền tệ. Lãi suất này được dùng để kiểm soát và điều tiết sự biến động lãi
suất trên thị trường. Đối với NHTM, lãi suất tái chiết khấu là lãi suất gốc để từ đó ấn
định lãi suất chiết khấu và lãi suất cho vay khác.
• Lãi suất thị trường liên Ngân hàng: Là lãi suất mà các ngân hàng áp
dụng khi cho nhau vay vốn trên thị trường liên ngân hàng. Lãi suất thị trường liên
ngân hàng được ấn định hằng ngày vào mỗi buổi sáng. Nó được hình thành bởi
quan hệ cung cấp vốn của các NHTM và các tổ chức tín dụng khác và chịu sự chi
phối của lãi suất tái chiết khấu.
Lãi suất liên ngân hàng biến động từng ngày và phản ánh mức độ khan hiếm
của vốn trên thị trường liên ngân hàng từ đó phản ánh sự khan hiếm vốn trong nền
kinh tế.
Bộ môn: Kinh tế vĩ mô
Đoàn Thị Hằng - K42F4
10
Trường Đại học Thương mại
Khoa: Kinh tế
2.2.1.3. Căn cứ vào tiêu thức biến động của giá trị tiền tệ
• Lãi suất danh nghĩa: Là lãi suất chưa loại trừ tỷ lệ lạm phát.
• Lãi suất thực tế: Là lãi suất sau khi đã trừ tỷ lệ lạm phát.
Những người cho vay, điều cần quan tâm nhất là lãi suất thực chú không phải
là lãi suất danh nghĩa. Bởi lẽ, khi cho vay họ cần phải tính là sau một thời hạn cho
vay có lãi hay thua lỗ.
2.2.2. Vai trò của lãi suất đến nền kinh tế
Lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất liên ngân
hàng… là những nội dung chủ yếu của chính sách lãi suất, một trong những đòn
bẩy kinh tế quan trọng của nền kinh tế thị trường. Nó tác động đến tất cả các doanh
2
làm cho tổng cầu dịch chuyển từ
Bộ môn: Kinh tế vĩ mô
Đoàn Thị Hằng - K42F4
11
Trường Đại học Thương mại
Khoa: Kinh tế
AD
1
đến AD
2
. Điểm cân bằng mới M
1
di chuyển đến M
2
tương ứng với tổng sản
lượng nền kinh tế tăng từ Y
1
đến Y
2
.
Khi lãi suất tăng từ i
1
đến i
2
, giả định các yếu tố khác không đổi, đầu tư giảm
từ I
1
đến I
2
P
i
2
Y
O
AD
2
I
Y
2
Y
1
O I
2
Y
i
1
AS
AD
1
Hình 2.1: Tác động của lãi suất đến
tống sản lượng, việc làm của nền
kinh tế khi lãi suất giảm
E
1
E
2
M
2
M
i
1
i
2
Y
Y
I
1
Y
1
Y
2
AD
2
AS
AD
1
Hình 2.2: Tác động của lãi suất đến
tống sản lượng, việc làm của nền
kinh tế khi lãi suất tăng
E
1
E
2
M
1
M
2
14
Trường Đại học Thương mại
Bộ môn: Kinh tế vĩ mô
Đoàn Thị Hằng - K42F4
15
Trường Đại học Thương mại
Khoa: Kinh tế
Có một số đề tài luận văn, các nghiên cứu có đề cập đến tác động của chính
sách lãi suất như:
“Chính sách lãi suất ảnh hưởng như thế nào đến việc huy động vốn và sử
dụng vốn trong nước” của Thạc sỹ Đỗ Quang Trị. Nghiên cứu đề cập đến tác động
của lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay đến việc huy động vốn, sử dụng vốn hiệu quả
trong bối cảnh nền kinh tế đang thiếu vốn. Tác giả cho rằng, việc xác định một mức
lãi suất huy động cao hơn chỉ số lạm phát để có mức lãi suất thực dương bằng chỉ
số lạm phát là mức lãi suất hấp dẫn, vừa đủ để huy động nguồn vốn trong nước
đồng thời vừa phải để hình thành lãi suất cho vay thấp. Trong đề tài của mình, tôi
nghiên cứu tác động của lãi suất đến hoạt động cho vay của trường hợp cụ thể là
Ngân hàng TMCP Quân Đội, không nghiên cứu với toàn bộ nền kinh tế.
Luận văn: “Giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của chính sách lãi suất đến
hoạt động cho vay vốn đầu tư đối với khách hàng là doanh nghiệp hiện nay của
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương”. Cũng là phân tích ảnh hưởng của
chính sách lãi suất, nhưng đề tài này tập trung phân tích đối với Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Kỹ Thương, còn trong đề tài này, tôi nghiên cứu tác động đối với
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội.
Luận văn: “Ảnh hưởng chính sách lãi suất đến hoạt động cho vay đối với
doanh nghiệp thương mại trên địa bàn tỉnh Hải Dương”. Đề tài này tập trung phân
tích trên địa bàn tỉnh Hải Dương, trong đề tài của mình, tôi không chỉ phân tích
trong phạm vi tỉnh Hải Dương.
Tham luận của Ông Trần Bắc Hà, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam: “Vai trò chính sách tiền tệ tại Việt nam và một số khuyến nghị
chính sách sau suy giảm kinh tế”. Bài viết chỉ ra vai trò chính sách tiền tệ trong
chống suy thoái kinh tế ở các nước, bài học đối với việc áp dụng chính sách tiền tệ
chỉ hạ lãi suất cho vay chứ không hạ lãi suất tiền gửi, thực hiện chính sách tiền tệ
thông qua chính sách tài khóa. Nghiên cứu ảnh hưởng chính sách lãi suất đối với
hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Quân Đội, không phải Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Kỹ Thương và không nghiên cứu riêng trên địa bàn tỉnh Hải
Dương.
2.4. Phân định nội dung vấn đề nghiên cứu của đề tài
2.4.1. Lãi suất cơ bản
Ngân hàng Trung ương đưa ra nhiều loại lãi suất khác nhau nhằm điều tiết
lượng tiền trong lưu thông, phổ biến nhất là: Lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết
khấu, lãi suất tái cấp vốn. Ba loại lãi suất này có điểm tương đồng.
Bộ môn: Kinh tế vĩ mô
Đoàn Thị Hằng - K42F4
17
Trường Đại học Thương mại
Khoa: Kinh tế
Lãi suất cơ bản thường thấp hơn lãi suất tái cấp vốn 1% và cao hơn lãi suất tái
chiết khấu 1%. Chi tiết xem thêm trong phần Phụ lục, Do sự sẵn có về mặt số liệu
và hạn chế về khả năng nghiên cứu, đặc biệt do sự tương đồng về số liệu, người
viết sẽ sử dụng lãi suất cơ bản để đại diện cho chính sách lãi suất của NHTƯ. Cơ
chế ở Việt Nam hiện nay là cơ chế khống chế lãi suất, NHNN công bố mức lãi suất
cơ bản, từ đó các NHTM dựa vào mức lãi suất này để ấn định lãi suất cho vay, lãi
suất huy động.
Tác dụng của lãi suất cơ bản là điều chỉnh và thống nhất các hoạt động tín
dụng trong toàn bộ nền kinh tế. Lãi suất cơ bản do NHTƯ xác định và công bố trên
cơ sơ tình hình thực tế và mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia. Hiện nay, mức lãi
suất cho vay của các NHTM được ấn định không vượt quá 150% mức lãi suất cơ
bản.
2.4.2. Lãi suất thị trường liên Ngân hàng
Lãi suất thị trường liên ngân hàng biến động xoay quanh các mức lãi suất chủ
đạo của NHNN như lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn. Tuy nhiên, trong thực tế
suất huy động của các ngân hàng dao động khoảng 11-11,5%.
Lãi suất chiết khấu là lãi suất cho vay ngắn hạn của Ngân hàng thương mại
đối với khách hàng dưới hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá chưa đến thời hạn
thanh toán, còn lãi suất cho vay bao gồm cả lãi suất ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.
Lãi suất tái chiết khấu: Là lãi suất cho vay ngắn hạn của Ngân hàng Trung
ương đối với các Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng khác dưới hình thức
chiết khấu các giấy tờ có giá chưa tới thời hạn thanh toán. Còn lãi suất cho vay là
các khoản vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn của NHTM đối với khách hàng.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả sẽ đi sâu phân tích lãi suất cho
vay chứ không phân tích lãi suất tiền gửi, lãi suất chiết khấu, lãi suất tái chiết khấu.
2.4.2.2. Lãi suất cho vay của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội
Lãi suất cho vay của mỗi tổ chức tín dụng đều được ấn định dựa trên các tiêu
cung, cầu tiền tệ, lãi suất trần, lãi suất sàn, lãi suất cơ bản Tuy nhiên, mỗi Ngân
hàng đều có mức lãi suất riêng nhằm cạnh tranh, thu hút sự chú ý của khách hàng.
Tác giả sẽ nghiên cứu riêng đối với trường hợp lãi suất cho vay của Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Quân Đội.
Ngân hàng TMCP Quân Đội: là loại hình NHTM, khác với NHTƯ. Mục đích
hoạt động của ngân hàng trung ương là ổn định giá trị của tiền tệ, ổn định cung
tiền, kiểm soát lãi suất, cứu các NHTM có nguy cơ đổ vỡ. NHTƯ cấp vốn cho các
NHTM, trong khi không có hình thức ngược lại.
Bộ môn: Kinh tế vĩ mô
Đoàn Thị Hằng - K42F4
19
Trường Đại học Thương mại
Khoa: Kinh tế
Mức lãi suất cho vay của các ngân hàng đều được ấn định không quá 150%
lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định. Với NHTM, mục đích hoạt động
là lợi nhuận. Tuy nhiên, với các ngân hàng như Ngân hàng Chính sách xã hội, hoạt
động không vì mục đích lợi nhuận, phục vụ người nghèo và các đối tượng chính
sách khác. Do vậy mức lãi suất cho vay của Ngân hàng này thường thấp hơn lãi
Cho vay ngoại tệ:
Khách hàng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp có nhu cầu nhập
khẩu hàng hóa, máy móc thiết bị có nhu cầu rất cao về ngoại tệ, bởi các thương
vụ chủ yếu thanh toán bằng những ngoại tệ mạnh. Vê mặt thực tế, đối tượng
khách hàng doanh nghiệp được vay ngoại tệ, trong khi khách hàng cá nhân, rất ít
trường hợp được vay ngoại tệ. Có hình thức cho vay du học, tuy nhiên Ngân
hàng sẽ chuyển khoản trực tiếp mà không cung cấp ngoại tệ trực tiếp cho cá
nhân vay ngoại tệ.
Đối với trường hợp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội người
viết sẽ nghiên cứu tác động dựa trên các biến số, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài
chính của các tổ chức tín dụng là: Lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, tỷ lệ nợ xấu, tổng
dư nợ/tổng tài sản, khả năng thanh toán nợ. Việc nghiên cứu sẽ tập trung vào nhóm
đối tượng là tín dụng doanh nghiệp.
Bộ môn: Kinh tế vĩ mô
Đoàn Thị Hằng - K42F4
21
Trường Đại học Thương mại
Khoa: Kinh tế
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích
thực trạng vấn đề chính sách lãi suất ảnh hưởng đến hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng TMCP Quân Đội
3.1. Phương pháp hệ nghiên cứu các vấn đề
3.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Thu thập dữ liệu là một giai đoạn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá
trình nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội. Dữ liệu sơ cấp là những dữ liệu
chưa qua xử lý, được thu thập lần đầu, và thu thập trực tiếp từ các đơn vị của tổng
thể nghiên cứu thông qua các cuộc điều tra thống kê. Dữ liệu sơ cấp đáp ứng tốt
yêu cầu nghiên cứu, tuy nhiên việc thu thập dữ liệu sơ cấp lại thường phức tạp, tốn
kém. Trong nghiên cứu của mình, tôi sử dụng phương pháp thiết kế bảng câu hỏi
khi thu thập dữ liệu sơ cấp.
3.2.1. Tổng quan tình hình trong nước và thế giới
3.2.1.1. Bối cảnh thế giới
Trái ngược với nhiều dự đoán, 2009 ghi lại những mảng màu tươi sáng trong
bức tranh kinh tế thế giới. Mặc dù đâu đó vẫn còn tập đoàn phá sản, quốc gia giảm
phát, kết quả năm 2009 tốt hơn nhiều so với các dự đoán. Hàng loạt nước thoát
khỏi suy thoái. Quá trình hồi phục diễn ra mạnh mẽ trên hầu khắp các châu lục.
Vào đầu tháng 12, khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu hồ hởi tuyên bố
EU, ngoại trừ Hy Lạp và Tây Ban Nha, đã chính thức thoát khỏi suy thoái. Trong quý
III/2009, EU tăng trưởng dương 0,3%, sau 5 quý âm liên tiếp. Khu vực này được vực
dậy nhờ hoạt động xuất khẩu cùng hàng loạt biện pháp kinh tế của các chính phủ.
Trước đó, các nền kinh tế khác như Singapore, Hong Kong, Đức, Pháp cũng
tuyên bố đã ra khỏi thời kỳ đen tối nhất. Với kết quả tăng trưởng kinh tế quý 3 đạt
2,2%, nền kinh tế lớn nhất toàn cầu là Mỹ cũng đã qua đáy lúc nào không hay, đập tan
các dự báo về suy thoái kép. Trước đó, GDP nước này tăng trưởng âm 4 quý liên tiếp.
Giá dầu tăng gấp đôi trong một năm: Khởi đầu năm 2009 với mức đáy 34,57
USD một thùng vào ngày 2/1.Đà hồi phục của kinh tế thế giới trong suốt năm 2009
tiếp tục là động lực cho thị trường suốt 12 tháng sau đó.
Năm của vàng: Giá vàng 2009 chứng kiến đà leo thang chóng mặt từ mấp mé
900 USD một ounce hồi đầu tháng 1 lên 1.091 USD vào cuối tháng 12. Ngày 3/12,
giá lập đỉnh cao nhất mọi thời đại tại 1.126,56 USD. Lo ngại lạm phát, làn sóng
mua vàng thay thế đôla trong kho dự trữ ngoại tệ của các ngân hàng trung ương,
khiến giá càng lên cao quá mức.
Bộ môn: Kinh tế vĩ mô
Đoàn Thị Hằng - K42F4
23
Trường Đại học Thương mại
Khoa: Kinh tế
3.2.1.2. Bối cảnh trong nước
Cuộc khủng hoảng kinh tế tác động khá lớn đến nền kinh tế Việt Nam. Mặc
dù được nhận định là một trong ít những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng dương
Trường Đại học Thương mại
Khoa: Kinh tế
Ngân hàng TMCP Quân Đội đã triển khai thành công hệ thống T24 (mạng
nội bộ ngân hàng), hoàn thành hệ thống đường truyền dự phòng, xây dụng bổ sung hệ
thống phần cứng, triển khai phần mềm. Triển khai kết nối tài khoản với các công ty
chứng khoán, kết nối dịch vụ thanh toán với Paynet, VinaPay, Mobile, POS Đặc biệt
MB đang tích cực triển khai hệ thống ngân hàng điện tử.
Những nỗ lực trong việc phát triển khoa học công nghệ đã giúp Ngân hàng
TMCP Quân Đội hạn chế được tối đa những rủi ro tác nghiệp, tín dụng, lãi suất,
ngoại hối…. Toàn bộ mảng nghiệp vụ của MB đều được quản lý tự động, các giao
dịch ngân hàng như chuyển tiền, thanh toán qua thẻ, rút tiền tự động đều được xử
lý tập trung thông qua mạng trực tuyến một cách nhanh chóng, thuận tiện, chính
xác, an toàn và bảo mật cao.
Vốn điều lệ, tổng tài sản:
Năm 2009 là năm vốn điều lệ của Ngân hàng TMCP Quân Đội tăng gần
gấp đôi, lên mức 5.300 tỷ đồng, tổng tài sản đạt 69.008 tỷ đồng, tăng 156% so với
năm 2008. Ngoài áp lực tăng vốn từ phía Nhà nước, Ngân hàng TMCP Quân Đội
đã chủ động tăng vốn điều lệ nhằm tăng tính thanh khoản, tăng khả năng cạnh
tranhh với các ngân hàng khác. Ngoài ra Ngân hàng cũng áp dụng các chính sách
để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế.
Thương hiệu:
Ngân hàng TMCP Quân Đội là thương hiệu mạnh, chiếm được niềm tin,
sự hài lòng của người tiêu dùng, đặc biệt là với đối tượng khách hàng doanh
nghiệp. Một số giải thưởng tiêu biểu như: Tháng 1-2009, nhận Giải thưởng "Doanh
nghiệp dịch vụ được hài lòng nhất", ngày 29-3-09 nhận giải thưởng “Thương hiệu
mạnh”, ngày 14-4-09 MB nhận giải thưởng “Thanh toán quốc tế xuất sắc” do Ngân
hàng Mỹ Wachovia trao tặng. Với kết quả hoạt động kinh doanh khả quan cùng
việc kh’ng định được vị thế của một trong những đơn vị tài chính hàng đầu tại Việt
Nam, ngày 3/4/2010, MB đã được độc giả Thời báo Kinh tế Việt Nam tín nhiệm,
bình chọn và trao tặng danh hiệu “Thương hiệu mạnh Việt Nam năm 2009”. Trước