Đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp và các giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty TNHH một thành viên in tài chính - Pdf 18

MỤC LỤC
MỤC LỤC i
ii
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I 3
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 3
1.2.2 Nguồn số liệu 6
1.2.3.2 Phương pháp phân tích tỷ lệ 7
1.2.4.2 Phân tích khái quát tình hình tài chính của công ty thông qua các hệ số tài chính đặc trưng. .14
1.2.4.3 Phân tích diễn biến nguồn và sử dụng vốn 23
1.3 Một số biện pháp, giải pháp tài chính để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp 24
CHƯƠNG II 27
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN IN TÀI CHÍNH 27
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty In Tài chính 27
2.1.1.1 Vài nét về công ty In Tài chính 27
2.1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển công ty In tài chính 27
2.1.2 Nhiệm vụ của công ty trong quá trình hoạt động sản xuất 29
2.1.3.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý 29
2.1.3.2 Đặc điểm về tổ chức bộ máy kế toán của công ty 31
2.1.4 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty 31
2.1.4.1 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh 31
2.1.5 Tình hình tài chính chủ yếu của công ty In tài chính 33
2.2.1.2 Phân tích tình hình tài chính của công ty qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 51
2.2.2 Phân tích khái quát tình hình tài chính của công ty qua các hệ số tài chính đặc trưng 56
2.2.2.1 Các hệ số về khả năng thanh toán 59
2.2.2.2 Các hệ số phản ánh cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản 63
2.2.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu suất hoạt động 67
2.2.2.4 Các hệ số về khả năng sinh lời 72
3.1 Mục tiêu phát triển của công ty trong tương lai 92
3.2 Những giải pháp tài chính và kiến nghị chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở

được vốn ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, Đặc biệt hơn nữa,
sự phát triển của thị trường chứng khoán hiện nay thì vấn đề mình bạch trong
tình hình tài chính càng được nhiều đối tượng quan tâm, do đó đối với mỗi nhà
quản lý tài chính doanh nghiệp vấn đề này càng phải được quan tâm chú ý và
đươc nghiên cứu kỹ lưỡng hơn bao giờ hết.
Xuất phát từ ý nghĩa của việc phân tich tình hình tài chính doanh nghiệp,
sau hơn 2 tháng thực tập tại công ty TNHH một thành viên In Tài Chính, được
sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của thầy giáo Vũ Công Ty cùng các cô chú,
anh chị phòng kế toán tài vụ của công ty, em đã lựa chọn đề tài:
“ Đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp và các giải pháp tài
chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty TNHH một
thành viên In Tài Chính”
2. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài đi sâu và tìm hiểu các vấn đề liên quan đến tình hình tài chính của doanh
nghiệp như lý luận chung về tài chính doanh nghiệp, các chỉ tiêu đánh giá thực
trạng tài chính của doanh nghiệp tại công ty TNHH một thành viên In Tài chính.
3. Phạm vi nghiên cứu
• Về không gian: Nghiên cứu thực trạng tài chính và giải pháp tài chính
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty TNHH
một thành viên In Tài Chính: Ngõ 115- phố Trần Cung- Nghĩa Tân- Cầu
Giấy –Hà Nội
• Về thời gian: Từ ngày 17/01/2011 đến ngày 29/04/2011.
• Nguồn số liệu: Số liệu sử dụng được lấy từ sổ sách kế toán, các báo cáo tài
chính của công ty TNHH một thành viên In Tài chính trong hai năm 2009
và năm 2010.
4. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu chủ yếu về thực trạng tài chính và các giải pháp tài chính thực
hiện tại công ty TNHH một thành viên In Tài chính nhắm một số mục đích sau:
• Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tài chính doanh nghiệp và phân tích
tài chính doanh nghiệp.

1.1 Khái quát về tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Hoạt động của doanh nghiệp và tài chính
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất,
cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình kết
hợp các yếu tố đầu vào như nhà xưởng, thiết bị, nguyên vật liệu… và sức lao
động để tạo ra yếu tố làm đầu ra là hàng hóa và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi
nhuận. Trong nề kinh tế thị trường để có các yếu tố đầu vào đòi hỏi doanh
nghiệp phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định. Với từng loại hình pháp lý tổ
chức, doanh nghiệp có phương thức thích hợp tạo lập số vốn tiền tệ ban đầu, từ
số vốn tiền tệ đó doanh nghiệp mua sắm máy móc thiết bị, nguyên vật liệu… Sau
khi sản xuất xong, doanh nghiệp bán sản phẩm và thu được tiền bán hàng. Với số
tiền này, doanh nghiệp sẽ sử dụng để bù đắp các khoản chi phí và vật liệu đã tiêu
hao, phần còn lại là lợi nhuận sau thuế, doanh nghiệp sẽ tiếp tục phân phối số lợi
nhuận này. Như vậy quá trình hoạt động của doanh nghiệp cũng là quá trình tạo
lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài chính của doanh
nghiệp. Trong quá trình đó làm phát sinh và tạo sự vẫn động của dòng tiền vào,
dòng tiền ra gắn liền với hoạt động đầu tư và hoạt động kinh doanh thường
xuyên hàng ngày của doanh nghiệp.
Các quan hệ kinh tế bên trong quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của
doanh nghiệp dưới hình giá trị hợp thành các quan hệ tài chính của doanh nghiệp
bao gồm:
• Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và Nhà nước
• Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và
tổ chức xã hội khác.
• Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động.
• Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ sở hữu của doanh
nghiệp.
• Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp.
Như vậy, xét về mặt hình thức, tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong

• Tổ chức sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và hiệu quả
• Giám sát, kiểm tra thường xuyên chặt các mặt hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, từ đó phát hiện kịp thời những vướng mắc trong
kinh doanh và có quyết định điều chỉnh kịp thời.
1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết của phân tích tài chính doanh nghiệp.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn được diễn ra liên
tục và được diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế với mức độ toàn cầu hóa ngày
càng cao. Điều này đồng nghĩa với việc nắm bắt thông tin một cách nhanh nhạy
hay dự đoán được tình hình tài chính của doanh nghiệp là một nhân tố quan
trọng, nó quyết định đến việc nắm bắt cơ hội đầu tư của doanh nghiệp cũng như
các chiến lược trong việc huy động, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong
doanh nghiệp.
Phân tích tài chính doanh nghiệp là việc xem xét phân tích một cách toàn
diện trên tất cả các mặt hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Qua đó doanh
nghiệp có thể xác định được ưu điểm và hạn chế, những nhân tố ảnh hưởng cũng
như mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tình hình tài chính và hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó có thể đưa ra những định hướng và giải
pháp đúng đắn cho hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai.
Chính vì thế, phân tích tài chính doanh nghiệp cần phải được các nhà quản
trị đặt lên hàng đầu và cần phải được tiến hành một cách thường xuyên và có hệ
thống.
1.2.2 Nguồn số liệu
Về cơ bản nguồn số liệu cần thiết để thực hiện phân tích là báo cáo tài
chính của doanh nghiệp như Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tê, Thuyết minh báo cáo tài chính của công
ty trong các năm. Đây là cơ sở để có thể tính toán các chỉ tiêu tài chính từ đó
đánh giá và nhận xét được tình hình hoạt động kinh doanh của đơn vị.
Ngoài ra cần căn cứ vào các tài liệu thực tế cũng như tài liệu kế hoạch của
công ty để có thể đánh giá được mức độ hoàn thành kế hoạch cũng như phương

1.2.4Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.4.1Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp qua các báo cáo
tài chính.
Báo cáo tài chính hay báo cáo kế toán định kỳ của doanh nghiệp dùng để
phán ánh các mặt khác nhau trong hoạt động kinh tế - tài chính của doanh
nghiệp. Báo cáo tài chính hiện nay có 4 loại: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết
quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo
tài chính.
Thông tin trong báo cáo tài chính là căn cứ quan trọng để ra các quyết
định quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh hay là các quyết định
đầu tư của chủ doanh nghiệp. Vì thế, phân tích khái quát báo cáo tài chính là
công việc rất quan trọng, làm cơ sở để phân tích tình hình tài chính của doanh
nghiệp. Thông thường chúng ra chủ yếu đi sâu vào phân tích Bảng cân đối kế
toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
 Phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp qua bảng
cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát giá
trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời
điểm nhất định. Nguyên tắc cân đối là tổng tài sản bằng tổng nguồn vốn.
Khi phân tích Bảng cân đối kế toán cần đi sâu vào phân tích các vấn đề
sau:
Thứ nhất, Xem xét sự hợp lý của cơ cấu vốn, cơ cấu nguồn vốn và sự
tác động của nó đến quá trình kinh doanh. Trước hết xác định tỷ trọng của
từng loại tài sản trong tổng tài sản và tỷ trọng của từng loại nguồn vốn trong
tổng nguồn vốn. Sau đó tiến hành so sánh giữa cuối kỳ với đầu kỳ về tỷ trọng
của từng loại chiếm trong tổng số nguồn vốn để thấy được sự biến động của cơ
cấu vốn, cơ cấu nguồn vốn.
Thứ hai, Phân tích khái quát về tài sản. Mục đích của phân tích khái
quát về tài chính nhằm đánh giá cơ sở vật chất, tiềm lực kinh tế quá khứ, hiện tại
và những ảnh hưởng đến tương lai của doanh nghiệp. Phân tích sự biến động của

trong chu chuyển tài sản ngắn hạn và kỳ thanh toán nợ ngắn hạn. Tuy nhiên khi
dùng nợ dài hạn tài trợ cho tài sản ngắn hạn sẽ gây lãng phí chi phí vay nợ dài
hạn.
Nếu tài sản ngắn hạn nhỏ hơn nợ ngắn hạn (doanh nghiệp sử dụng một
phần nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn ). Mặc dù nợ ngắn hạn có
thể có được là do chiếm dụng hợp pháp hoặc có mức lãi thấp hơn lãi nợ dài hạn
nhưng vì chu kỳ luân chuyển tài sản khác với chu kỳ thanh toán cho nên dễ dẫn
đến vi phạm nguyên tắc tín dụng và đưa đến một hệ quả tài chính xấu hơn.
Nếu tài sản dài hạn lớn hơn nợ dài hạn và phần thiếu hụt được bù đắp từ
vốn chủ sở hữu thì đó là điều hợp lý vì nó thể hiện doanh nghiệp sử dụng đúng
mục đích nợ dài hạn và cả vốn chủ sở hữu. Nếu phần thiếu hụt được bù đắp bởi
nợ ngắn hạn thì là điều bất hợp lý.
Ngoài ra, khi phân tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn cần
chú trọng đến nguồn vốn lưu động thường xuyên. Nguồn vốn lưu động thường
xuyên trong doanh nghiệp được xác định theo công thức:
Nguồn vốn lưu động
thường xuyên
=
Tổng nguồn vốn thường
xuyên của doanh nghiệp
+
Giá trị còn lại của TSCĐ
và các TS dài hạn khác
Hoặc có thể được xác định bằng công thức:
Nguồn vốn lưu động thường xuyên = Tài sản lưu động – Nợ ngắn hạn
Nguồn vốn lưu động thường xuyên là nguồn vốn ổn định có tính chất dài
hạn để hình thành hay tài trợ cho tài sản lưu động thường xuyên cần thiết trong
hoạt động của doanh nghiệp. Nguồn vốn lưu động thường xuyên tạo ra một mức
độ an toàn cho doanh nghiệp trong kinh doanh, giúp tình trạng tài chính của
doanh nghiệp được đảm bảo vững chắc hơn.

vốn
hàng
bán
-
Chi phí
bán
hàng
-
Chi phí
QLDN
Khi phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cần xem xét các vấn
đề sau:
Thứ nhất, Phân tích sự biến động của từng chỉ tiêu thu nhập, chi phí,
lợi nhuận. Xem xét biến động của từng chỉ tiêu giữa kỳ này với kỳ trước thông
qua việc sơ sánh cả về số tuyệt đối lẫn số tương đối. Mục tiêu cơ bản là tìm hiểu
thu nhập, chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp có thực hay không, được tạo ra từ
những nguồn nào, sự hình thành như vậy có phù hợp với chức năng hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay không. Sự thay đổi của thu nhập, chi
phí, lợi nhuận của doanh nghiệp thay đổi có phù hợp với đặc điểm chi phí, hiệu
quả kinh doanh, phương hướng kinh doanh hay không.
Thứ hai, Tính toán phân tích các chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng các
khoản chi phí để biết được doanh nghiệp tiết kiệm hay lãng phí nguồn lực.
1. Tỷ giá vốn hàng bán trên doanh thu thuần đạt được trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết tổng doanh thu thuần thu được, doanh nghiệp phải
bỏ ra bao nhiêu đồng giá vốn hàng bán. Tỷ suất này càng nhỏ chứng tỏ việc quản
lý chi phí trong giá vốn hàng bán càng tốt và ngược lại.
2. Tỷ suất chi phí bán hàng (chi phí QLDN) trên doanh thu thuần.
Chỉ tiêu này phản ánh để thu được một đồng doanh thu thuần, doanh
nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí bán hàng (chi phí quản lý doanh
nghiệp). Tỷ suất này càng nhỏ, chứng tỏ doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí bán

2. Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số này là chỉ tiêu đánh giá chặt chẽ hơn khả năng thanh toán của doanh
nghiệp, được xác định bằng tài sản lưu động trừ đi hàng tồn kho và chia cho tổng
nợ ngắn hạn. Hàng tồn kho là một bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản
lưu động được coi là có tình thanh khoản thấp hơn do đó nó thường bị loại khi
tính hệ số trên
Nhìn chung hệ số này càng cao càng tốt, nhưng nếu quá cao thì cần phải
xem xét vì sao trong TSLĐ thì bộ phận các khoản phải thu là khó thu hồi nhất và
nếu nó quá lớn thì ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp.
Ngoài ra, để đánh giá sát hơn khả năng thanh toán của doanh nghiệp còn
có thể sử dụng chỉ tiêu hệ số vốn bằng tiền hay hệ số thanh toán tức thời, được
xác định bằng công thức
3. Hệ số thanh toán lãi vay
Hệ số thanh toán lãi vay cho biết khả năng đảm bảo chi trả nợ vay của
doanh nghiệp. Đồng thời chỉ tiêu này cũng chỉ ra mức độ rủi ro có thể gặp phải
đối với các chủ nợ.
Hệ số thanh toán lãi vay càng lớn, thông thường lớn hơn 2 thì khả năng
thanh toán lãi vay của doanh nghiệp tích cực hơn và ngược lại hệ số thanh toán
lãi vay càng thấp thì khả năng thanh toán lãi nợ vay cảu doanh nghiệp càng thấp.
1.2.4.2.2 Hệ số phản ánh cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản
Để đạt được mục tiêu hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp luôn thay
đổi tỷ trọng các loại vốn theo xu thế hợp với tình hình kinh doanh của doanh
nghiệp cũng như thị trường nhằm đạt được kết cấu nguồn vốn tối ưu. Tuy nhiên,
kết cấu này luôn bị chi phối bởi tình hình đầu tư và đôi khi còn bị phá vỡ. Vì
vậy, các nhà quản trị phải nghiên cứu cơ cấu vốn để có một cái nhìn tổng quát
cho việc hoạch định chiến lược tài chính thành công.
• Hệ số cơ cấu nguồn vốn
Đây là một hệ số tài chính hết sức quan trọng đối với nhà quản lý doanh nghiệp,
với các chủ nợ cũng như các nhà đầu tư.
 Hệ số nợ: Phản ánh bình quân trong một đồng vốn kinh doanh các doanh

• Hệ số cơ cấu tài sản: Phản ánh cứ một đồng đầu tư vào tài sản dài hạn thì
dành ra bao nhiêu đồng để đầu tư vào tài sản ngắn hạn
• Tỷ suất tự tài trợ TSCĐ: Cho biết tại một thời điểm giá trị còn lại của
TSCĐ được tài trợ bằng bao nhiêu % vốn chủ sở hữu.
Nếu tỷ suất này lớn hơn 1 chứng tỏ khả năng tài chính của doanh nghiệp
là vững mạnh. Nếu tỷ suất này nhỏ hơn 1 có nghĩa một bộ phận tài sản cố định
được tài trợ bằng vốn vay khi đó rủi ro được san sẻ cho người vay, nhưng nó lại
đặc biệt nguy hiểm khi khoản vay đó là vay ngắn hạn. Nếu như vậy thì việc huy
động vốn để tài trợ cho tài sản của công ty là bất hợp lý và điều đó dễ xẩy ra tình
trạng vỡ nợ thậm chí là phá sản.
1.2.4.2.3 Các hệ số về khả năng hoạt động
Các hệ số về khả năng hoạt động có thể đánh giá năng lực quản lý và
sử dụng vốn hiện có của doanh nghiệp. Nguồn vốn của doanh nghiệp được
dùng để đầu tư cho các loại tài sản khác nhau. Do đó, các nhà phân tích
không chỉ chú trọng tới việc đo lường hiệu quả quả sử dụng vốn mà còn chú
trọng tới hiệu quả sử dụng trong bộ phận cấu thành nguồn vốn của doanh
nghiệp.
• Số vòng quay hàng tồn kho: Số lần hàng tồn kho bình quân luân chuyển
được trong một kỳ
Số vòng quay hàng tồn kho cao hay thấp phụ thuộc rất lớn và đặc điểm
của ngành kinh doanh. Nếu số vòng quay hàng tồn kho cao sơ với các doanh
nghiệp cùng ngành, điều này cho thấy việc tổ chức và quản lý dự trữ của doanh
nghiệp tốt, có thể rút ngắn được lượng vốn bỏ vào hàng tồn kho. Nếu ngược lại
có nghĩa doanh nghiệp đã dự trữ vật tư quá mức dẫn đến tình trạng bị ứ đọng
hoặc sản phẩm bị tiêu thụ chậm. Từ đó, dẫn đến dòng tiền vào của doanh nghiệp
bị giảm dần và có thể đặt doanh nghiệp vào tình thế khó khăn về tài chính trong
tương lai. Tuy nhiên, trong quá trình phân tích cần xem xét thêm các yếu tố khác
như phương thức bán hàng, kết cấu hàng tồn kho. Nếu doanh nghiệp áp dụng
phương thức bán hàng, kết cấu hàng tồn kho. Nếu doanh nghiệp áp dụng phương
thức bán hàng trực tiếp thì hệ số vòng quay hàng tồn khi thấp cũng làm cho hệ số

Ngược lại có nghĩa lượng tiền mặt tồn quỹ nhiều, số lượng các khoản phải thu
lớn… Vì vậy doanh nghiệp cần phải cân nhắc kỹ tình hình dự trữ sao cho vừa
đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh tiêu thụ, vừa tiết kiệm được vốn.
• Số ngày một vòng quay vốn lưu động (kỳ luân chuyển vốn lưu động):
Phản ánh số ngày bình quân cần thiết để vốn lưu động thực hiện một lần
luân chuyển hay độ dài thời gian một vòng quay của vốn lưu động ở trong
một kỳ.
Trong đó:
N: Số ngày trong kỳ được tính chẵn một năm là 360 ngày, một quý là 90 ngày,
một tháng là 30 ngày.
M: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động trong kỳ (thường là doanh thu thuần)
L: Số lần luân chuyển vốn lưu động
: Số vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ.
Kỳ luân chuyển vốn lưu động phụ thuộc vào số vốn lưu động bình quân sử dụng
trong kỳ và tổng mức luân chuyển vốn lưu động trong kỳ (thường là doanh thu
thuần)
• Hiệu quả sử dụng vốn cố định: Chỉ tiêu cho phép đánh giá mức độ sử
dụng vốn cố định của doanh nghiệp trong kỳ.
• Vòng quay tài sản hay toàn bộ vốn: Chỉ tiêu này phản ánh tổng quát hiệu
suất sử dụng tài sản hay toàn bộ số vốn hiện có của doanh nghiệp.
Vòng quay vốn kinh doanh là chỉ tiêu phản ánh vốn của doanh nghiệp
trong kỳ quay được bao nhiêu vòng. Qua đó đánh giá được khả năng sử dụng tài
sản vào hoạt động mà doanh nghiệp đã đầu tư. Việc tăng vòng quay vốn kinh
doanh là yếu tố quan trọng làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, đồng thời làm
tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.
1.2.4.2.4 Các hệ số và khả năng sinh lời
• Tỷ suất lợi nhuận trước thuế: Phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận trước
thuế (sau thuế) và doanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp. Nó thể hiện
một đồng doanh thu trong kỳ, doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêu lợi
nhuận.

 Tăng vòng quay toàn bộ vốn: Doanh nghiệp phải tăng doanh thu và đầu
tư, dự trữ tài sản hợp lý.
 Giảm tỷ lệ vốn chủ sở hữu: Doanh nghiệp phải đảm bảo tốc độ tăng vốn
chủ sở hữu thấp hơn tốc độ tăng tài sản.
Như vậy, để đánh giá tổng quát hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
ngoài những chỉ tiêu trên cần phải đánh giá qua nhiều chỉ tiêu khác tùy thuộc vào
đặc điểm của từng doanh nghiệp để có được kết luận phân tích khách quan và
chính xác.
1.2.4.3 Phân tích diễn biến nguồn và sử dụng vốn
Phân tích diễn biến nguồn và sử dụng vốn nhằm nắm bắt được tình hình
doanh nghiệp trong kỳ đang tiến triển hay gặp khó khăn. Thông tin trong
bảngphân tích diễn biến nguồn và sử dụng vốn này còn rất hữu ích đối với người
cho vay, các nhà đầu tư… bởi nó cho biết doanh nghiệp đã làm gì với số vốn của
họ.
Bảng phân tích diễn biến nguồn và sử dụng vốn được lập bằng cách tổng
hợp sự thay đổi của các khoản mục trong bảng cân đối kế toán giữa hai thời điểm
đầu và cuối kỳ. Mỗi sự thay đổi của từng khoản mục trong bảng cân đối kế toán
đều được xếp vào cột diễn biến nguồn vốn hoặc sử dụng vốn theo cách thức sau:

Trích đoạn Phân tích khái quát tình hình tài chính của công ty qua các hệ số tài chính đặc trưng Các chỉ tiêu phản ánh hiệu suất hoạt động Mục tiêu phát triển của công ty trong tương lai Những giải pháp tài chính và kiến nghị chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doan hở
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status