skkn rèn luyện năng lực viêt văn cho học sinh trung học phổ thông qua phản biện văn học - Pdf 18

Rèn luyện năng lực viết văn cho học sinh THPT qua phản biện văn học
RÈN LUYỆN NĂNG LỰC VIẾT VĂN CHO HỌC SINH THPT
QUA PHẢN BIỆN VĂN HỌC
*******
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Chỉ thị số 3004 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, ngày 15 – 8 - 2013 đã
nêu rõ từng nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục năm học 2013 – 2014.
Trong đó, toàn ngành tiếp tục thực hiện Chỉ thị 02/CT-TTg, ngày 22/1/2013,
của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo theo
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học,
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của công cuộc công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. Một trong
những giải pháp trọng tâm vẫn phải là đổi mới phương pháp dạy học. Vận dụng
các hình thức, phương pháp, kĩ thuật dạy học sao cho đạt hiệu quả cao nhất theo
yêu cầu của mục tiêu giáo dục là một trong những cách đổi mới thiết thực nhất.
1.2. Từ thực tế của đời sống xã hội, ngành GD&ĐT đặt ra yêu cầu phải
đào tạo được thế hệ người toàn diện, năng động, sáng tạo trong công việc. Đồng
thời có ý thức chủ động, tích cực bày tỏ quan điểm, lập trường trước những vấn
đề nảy sinh trong đời sống xã hội, hướng tới chân lí của mọi vấn đề. Trong dạy
học, tất cả các bộ môn cần rèn luyện cho học sinh biết tranh luận, phản biện vấn
đề, tạo thói quen tốt trong nhìn nhận, đánh giá các vấn đề trong cuộc sống. Yêu
cầu mang tính cấp thiết ấy cũng góp phần thực hiện mục tiêu kết hợp dạy
“người” với dạy “chữ”, lí thuyết phải gắn với thực hành. Khả năng phản biện
của học sinh trong quá trình học tập sẽ giúp học sinh phát huy được tính chủ
động, sáng tạo trong học tập, rèn luyện được khả năng làm việc độc lập, làm
việc theo nhóm.
1.3. Xu hướng chung của những nền giáo dục tiến bộ trên thế giới là xây
dựng một nền giáo dục thực sự dân chủ. Phản biện của học sinh trong quá trình
dạy học, viết văn là một biểu hiện tích cực của một nền giáo dục dân chủ. Rèn
luyện năng lực viết văn qua phản biện văn học là một trong những cách góp

nâng cao năng lực viết văn cho học sinh, góp phần thực hiện thành công công
cuộc đổi mới phương pháp dạy học văn. Đồng thời, phát huy tối đa tiềm năng
học tập, nghiên cứu, sáng tạo của học sinh ở bộ môn Ngữ Văn, cấp THPT. Bồi
dưỡng và nâng cao kĩ năng làm việc độc lập, làm việc theo nhóm, đặc biệt là
góp phần hình thành kĩ năng phản biện tích cực cho HS trong học tập hiện tại
cũng như trong cuộc sống sau này.
4. Nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu
2
Rèn luyện năng lực viết văn cho học sinh THPT qua phản biện văn học
Nghiên cứu và vận dụng những phương pháp rèn luyện năng lực viết văn
cho học sinh thông qua phản biện văn học.
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau :
- Những phương pháp chính : Nghiên cứu lí luận ; Thực hành thông qua
hệ thống đề thi ;
- Những phương pháp kết hợp : Phân tích, suy luận logic ; So sánh ; Diễn
dịch; Quy nạp ;
5. Giả thuyết khoa học
Hiện nay, năng lực viết văn của học sinh THPT phần lớn là yếu, thậm chí
cả những học sinh có kiến thức văn học khá sâu, rộng vẫn rất lúng túng khi viết
bài làm văn, đặc biệt là việc bộc lộ ý kiến phản hồi, quan điểm riêng. Nếu được
hướng dẫn rèn luyện năng lực viết văn theo hướng vận dụng phản biện thì có
thể nâng cao được năng lực viết văn cho học sinh. Từ đó, nâng cao chất lượng
dạy học bộ môn văn trong nhà trường THPT.
6. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về Phản biện khoa học, Phản biện xã hội, Phản biện trong
dạy học. Đề xuất những phương pháp rèn luyện năng lực viết văn cho học sinh
THPT. Thực nghiệm tại trường THPT Trần Hưng Đạo. Chỉ ra ưu điểm, tồn tại
trong vận dụng.
7. Kế hoạch nghiên cứu, thời gian hoàn thành
- Từ tháng 6/2012 đến tháng 4/2013 : nghiên cứu và hoàn thành đề tài :

tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất
định, nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao”. Các năng lực hình
thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân nhưng không phải hoàn
toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do quá trình công tác, tập luyện mà được nâng
cao. Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung và
năng lực chuyên môn. Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành
hoạt động khác nhau như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát
hoá, năng lực tưởng tưởng … Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong
lĩnh vực nhất định của xã hội như năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực
kinh doanh, hội hoạ, toán học Năng lực chung và năng lực chuyên môn có
quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên
môn, nếu chúng càng phát triển thì càng dễ thành đạt được năng lực chuyên
môn. Ngược lại sự phát triển của năng lực chuyên môn trong những điều kiện
nhất định lại có ảnh hưởng đối với sự phát triển của năng lực chung.
+ Năng lực viết văn : Năng lực viết văn được hiểu là tổng hợp những yếu
tố giúp người viết có được bài văn hay, hấp dẫn. Chúng ta thường nói đến
những yếu tố sau : kiến thức văn học và kiến thức đời sống ; kĩ năng hành văn ;
4
Rèn luyện năng lực viết văn cho học sinh THPT qua phản biện văn học
năng lực cảm thụ văn học ; khả năng lí giải vấn đề ; ý kiến phản hồi – phản biện
văn học …
+ Những tiêu chí đánh giá năng lực cảm thụ văn chương của học sinh :
Cảm thụ văn học thực chất là sự chiếm lĩnh một đối tượng thẩm mỹ thông
qua con đường cảm xúc hóa của bản thân chủ thể. Cảm xúc hóa vừa là dấu hiệu,
tiền đề vừa là nội dung của sự đồng hóa thẩm mĩ trước đối tượng. Cảm xúc hóa
là dấu hiệu đặc trưng không thể thiếu của cảm thụ văn học.
Cảm thụ văn học là một quá trình tâm lý phức tạp và đầy sáng tạo của
người đọc. Người đọc đi từ vốn sống, vốn kinh nghiệm của cá nhân mình đến
đến vốn sống, vốn kinh nghiệm chung mà nhà văn đã khái quát trong hình
tượng mới có thể rung cảm đồng cảm với nghệ sĩ được. Quá trình sáng tác là

những bạn đọc khác nhau. Ví dụ cách lí giải về câu thơ “Đầy buồng lạ, màu
thâu đêm” (Nguyễn Trãi). Thị sai trong bản thân bạn đọc, ở những hoàn cảnh
khác nhau, tâm trạng khác nhau. Thị sai có thể diễn ra đối với một tác giả
(phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân), một tác phẩm (Thề non nước - Tản Đà),
một hình ảnh, một chi tiết nghệ thuật. Tùy trình độ chủ quan của mỗi người mà
độ thị sai trước tác phẩm khác nhau. Có khi độ thị sai rất lớn, thoát li hẳn văn
bản, sa vào những trường liên tưởng chủ quan, bất ngờ. Thường đối với những
bạn đọc có tầm đón nhận quá thấp. Tính khách quan trong cảm thụ văn chương
biểu hiện như sau : Về mối quan hệ giữa người đọc và tác phẩm, chính bản thân
tác phẩm quy định chiều hướng và hiệu suất cảm thụ ở người đọc. Tính khách
quan trong cảm thụ nghệ thuật còn lệ thuộc vào sự khác nhau về thể loại,
phương thức biểu hiện của tác phẩm (trữ tình khác tự sự, kịch). Việc lựa chọn
hình thức nghệ thuật, phương thức biểu hiện cho tác phẩm là ý thức trách nhiệm
của người cầm bút. Bản chất của hình tượng văn học, tính loại biệt của văn học
có ý nghĩa quyết định mạnh mẽ đối với hoạt động cảm thụ. Sự khác nhau giữa
tiếp nhận một vấn đề khoa học và một tác phẩm văn học là do đối tượng nhận
thức – tác phẩm văn học quy định, không phải ý muốn của độc giả. Chất lượng
tác phẩm càng cao thì hiệu suất cảm thụ càng lớn. Nội dung và phương thức
biểu hiện, chất lượng sáng tác quyết định hứng thú cảm thụ của người đọc.
Hoàn cảnh và điều kiện cảm thụ cũng chi phối hiệu suất cảm thụ văn chương.
Những tiêu chí đánh giá năng lực cảm thụ văn chương của học sinh gồm :
- Năng lực tư duy hình tượng ngôn ngữ nghệ thuật.
- Khả năng cắt nghĩa, cảm thụ ý nghĩa của từ, câu, hình ảnh, chi tiết.
- Tính chủ quan và màu sắc cảm xúc trong quá trình cảm thụ.
- Khả năng phát hiện vấn đề.
- Khả năng tư duy, suy luận.
- Khả năng tư duy liên môn.
+ Những tiêu chí đánh giá năng lực viết văn của học sinh :
- Kiến thức (cơ bản ; rộng, sâu)
6

phản biện cũng có nghĩa là đã trang bị cho các em khát vọng đổi mới và khát
vọng thành công trong cuộc sống.
7
Rèn luyện năng lực viết văn cho học sinh THPT qua phản biện văn học
+ Nhu cầu học tập, bộc lộ của học sinh hiện nay : Nhu cầu bộc lộ bản
thân của học sinh là một cơ sở quan trọng để phát huy tiềm năng học tập, khả
năng phản biện vấn đề.
- Ở đây, chúng tôi xin trình bày bổ sung mấy cơ sở sau : việc đổi mới
kiểm tra, đánh giá, hướng ra đề thi ; xu hướng hội nhập quốc tế yêu cầu Việt
Nam phải tham gia chương trình PISA.
1.2.1. Việc đổi mới kiểm tra, đánh giá, đổi mới hướng ra đề thi
Trong những năm gần đây, Bộ GD&ĐT liên tục yêu cầu toàn ngành phải
có những đổi mới kiểm tra, đánh giá học sinh. Theo đó, hướng kiểm tra, đánh
giá, ra đề thi của môn Ngữ văn có mấy điểm tích cực sau đây :
- Đề thi mở : đây là hướng ra đề nhằm phát huy tính tích cực, chủ động
trong suy nghĩ, luận giải của học sinh. Không có một đáp án duy nhất, chỉ cần
học sinh trình bày, lập luận vấn đề, thuyết phục được người đọc theo cách nghĩ
của mình một cách hợp lí, đều được chấp nhận và đánh giá cao.
- Đề thi yêu cầu tính phản biện : đây là dạng đề thi mới xuất hiện năm
2013, với yêu cầu chống việc học vẹt, học tủ, ghi nhớ kiến thức máy móc. Học
sinh có kiến thức cũng chưa chắc đã làm tốt được mà đòi hỏi phải có khả năng
vận dụng kiến thức một cách linh hoạt sáng tạo. Nhất là cần có quan điểm, nhìn
nhận, đánh giá vấn đề theo suy nghĩ của bản thân. Với dạng đề này, nếu học
sinh có khả năng phản biện văn học thì sẽ làm bài rất tốt.
1.2.2. Xu hướng hội nhập quốc tế yêu cầu Việt Nam phải tham gia
chương trình PISA
PISA (Programme for International Student Assessment) là Chương trình
đánh giá học sinh quốc tế) của OECD (Organisation for Economic Cooperation
and Development), một Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế. Với nhu cầu hội
nhập quốc tế về lĩnh vực giáo dục, Việt Nam cần phải tham gia chương trình

“nóng” hơn!
Những tác phẩm văn học được đưa vào chương trình giảng dạy phần lớn
đã “thuộc về một thời”. Đành rằng giá trị một tác phẩm Văn học có thể “bất khả
biến” nhưng các em lại là người của “hôm nay”, nhìn nhận đánh giá vấn đề luôn
có xu hướng từ góc nhìn của con người hiện đại. Điều đó rất dễ dẫn đến tâm
trạng “bất hòa” với quá khứ, hay một sự “ấm ức” nào đó, hoặc có nhu cầu “đánh
giá lại” vấn đề. Đó sẽ là nền tảng cho những phản biện bùng phát.
Mặc dù không nhiều nhưng cũng có một bộ phận học sinh có đam mê
Văn chương. Các em miệt mài tìm tòi, đọc, suy nghĩ, sáng tạo. Những học sinh
này hoàn toàn có thể “đổi mới” hay “bổ sung” chân lí mà thày đưa ra.
9
Rèn luyện năng lực viết văn cho học sinh THPT qua phản biện văn học
2.2. Thực trạng phản biện của học sinh THPT hiện nay trong những
giờ dạy học Văn
Trước hết, chúng ta thấy chương trình môn Ngữ Văn ở THPT có độ mở
tương đối. Nó thể hiện ngay ở sự phong phú của nội dung và kiểu bài học. Nhất
là có sự bổ sung của phần nghị luận xã hội. Mục tiêu dạy học của bộ môn Văn
cũng khá phức hợp. Thêm vào nữa là tính chất đặc thù bộ môn Văn – vừa khoa
học, vừa nghệ thuật. Điều đó có thể mở ra trước mắt người học cả một chân trời
tri thức và khả năng liên tưởng so sánh, cảm nhận, thẩm bình, đánh giá không
giới hạn. Thứ hai, việc đổi mới kiểm tra, đánh giá của bộ môn Ngữ Văn gần đây
làm sống dậy mạnh mẽ ý thức cá nhân người học. Họ có thể thoải mái bộc lộ
quan điểm riêng của bản thân mà không sợ “chệch” ý thày. Tiêu chí đúng, sai
được thay bằng lập luận có thuyết phục hay không? Đây là cơ hội để học sinh
phát huy tối đa khả năng học tập, hiểu biết của mình. Thứ ba, dù sao thì học
sinh vẫn là những người đi sau nên kho kinh nghiệm của thế hệ trước để lại rất
có giá trị. Học sinh có thể sáng tạo trên kho kinh nghiệm đó. Thứ tư, không khí
học tập đầy ắp tính dân chủ của nền giáo dục hiện đại cũng tạo nhiều cơ hội cho
người học phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân. Trong bối cảnh hiện nay,
toàn ngành đang thi đua “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” thì

bài học. Sau những tiết học Văn, nhất là những tiết học về những văn bản đặc
sắc thường có những em thực sự quan tâm đến bài học, có những băn khoăn về
một nội dung nào đấy mà thày trò vẫn chưa giải quyết thấu đáo, chưa thuyết
phục do hạn chế về thời gian. Chẳng hạn, có học sinh đã chia sẻ sự băn khoăn
này : em vẫn chưa thực sự cảm nhận hết được tình cảm của Thanh Thảo dành
cho G.Lorca mặc dù biết đó là tình cảm rất sâu sắc ; sự đồng điệu của hai tâm
hồn ấy liệu có làm cho các nghệ sĩ Việt Nam chạnh lòng. Em rất thích truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu, nhất là Chiếc thuyền ngoài xa, Bến quê … song em
có cảm giác hình như Nguyễn Minh Châu còn muốn nói gì đó qua Chiếc thuyền
ngoài xa mà người đọc chưa tìm ra. Nó không chỉ là “tuyên ngôn nghệ thuật”
mà còn là “bản di chúc nghệ thuật”. Đọc tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân rất
khó chịu vì những câu văn dài đuỗn, lắm thành phần phụ lắt léo, những so sánh
thì lạ, chẳng biết ông dựa trên tiêu chí nào!
Bên cạnh đó là những câu hỏi mang tính khám phá. Tôi có thói quen kết
thúc mỗi tiết học bằng một câu hỏi : có em nào còn băn khoăn, thắc mắc hay hỏi
thêm gì về vấn đề/ bài này nữa không? Đã không ít lần tôi nhận được những câu
11
Rèn luyện năng lực viết văn cho học sinh THPT qua phản biện văn học
hỏi rất hay từ học sinh. Chẳng hạn : Gọi vẻ đẹp của người vợ nhặt (trong truyện
ngắn Vợ nhặt – Kim Lân) là “vẻ đẹp khuất lấp” liệu có gượng gạo, bởi vì đó là
vẻ đẹp vượt lên trên hoàn cảnh cơ mà? Ánh mắt của ông lão sơn tràng đầy vẻ lo
lắng khi nhìn ra ngoài mặt phá (lúc này chỉ còn duy nhất một chiếc thuyền vó)
nói lên điều gì? Nguyễn Minh Châu có gửi gắm gì ở ánh mắt ấy không? Trong
Đây thôn Vĩ Giạ có những dấu hiệu của thơ tượng trưng, siêu thực không?
Do hạn chế về thời gian cũng như đặc thù của môn Văn nên không phải
vấn đề nào đưa ra cũng giải quyết dứt điểm trong giờ học được. Những tình
huống còn bỏ ngỏ trong các bài học luôn là xuất phát điểm cho những tìm tòi,
khám phá, sáng tạo của học sinh, nhất là những học sinh yêu thích và say mê
môn Văn (tuy số này không nhiều). Chẳng hạn : nếu cứ nhất định, khăng khăng
(thậm chí kể cả việc gọi hồn Hàn Mặc Tử mà hỏi) phải hiểu cho ra lẽ khuôn

MỘT SỐ BIỆN PHÁP
RÈN LUYỆN NĂNG LỰC VIẾT VĂN CHO HỌC SINH THPT
QUA PHẢN BIỆN VĂN HỌC
3.1. Điều kiện vận dụng phản biện vào bài làm văn của học sinh
Để có thể vận dụng phản biện vào bài làm văn của học sinh THPT, cần có
sự xuất hiện của những điều kiện sau :
- Cả thày và trò phải có tư duy phản biện
- Học sinh phải có hiểu biết sâu rộng vấn đề
- Giáo viên phải thực sự coi trọng tính dân chủ trong giáo dục
- Đề Văn phải có tình huống phản biện
Như đã nói ở chương 1, những phản biện của học sinh có thể đúng, thuyết
phục, có thể sai, không thuyết phục, điều đó không quan trọng. Quan trọng là
qua phản biện, người học thể hiện tinh thần chủ động, tích cực, sáng tạo của
mình. Khoảng cách thày – trò được rút ngắn.
3.2. Hình thành năng lực viết Văn cho học sinh thông qua việc phát
huy khả năng phản biện của họ trong học Văn
Trong đề tài nghiên cứu Phát huy khả năng phản biện của học sinh
THPT trong dạy học văn, năm 2013, chúng tôi đã trình bày rất kĩ 8 biện pháp, bao gồm
:
Biện pháp 1 : Bồi dưỡng tư duy phản biện cho học sinh
Biện pháp 2 : Tăng cường rèn luyện kỹ năng phản biện
Biện pháp 3 : Bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu theo chuyên đề, tổ chức
chuyên đề ngoại khóa
Biện pháp 4 : Khích lệ, động viên, mở đường
Biện pháp 5 : Tạo không khí đối thoại, tự do dân chủ
Biện pháp 6 : Linh hoạt xuất - ẩn
Biện pháp 7 : Phép thử
13
Rèn luyện năng lực viết văn cho học sinh THPT qua phản biện văn học
Biện pháp 8 : Kết hợp những hình thức, phương pháp, biện pháp, kĩ thuật

Đề 3 :
Nhân vật cụ Mết trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
có nói : “Không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta”. Có ý kiến cho rằng :
14
Rèn luyện năng lực viết văn cho học sinh THPT qua phản biện văn học
câu nói này khẳng định sức sống mạnh mẽ của cây xà nu ; lại có ý kiến cho rằng
: câu nói này thể hiện sức sống kiên cường của nhân dân làng Xô Man.
Ý kiến của anh/chị về chi tiết này như thế nào?
3.3.1.2. Phản biện ở cấp độ hình tượng
Ở cấp độ này, đề bài yêu cầu cảm nhận và đánh giá về một hoặc hoặc vài
hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học. Trong đó, có trình bày ý kiến
riêng, có tham gia tranh luận với những ý kiến khác, phản biện vấn đề nhằm đưa
ra giá trị thực sự của hình tượng nghệ thuật. Ví dụ :
Đề 4 :
Về hình tượng Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung
Thành, có ý kiến cho rằng : Tnú điển hình cho tính cách con người Tây Nguyên.
Ý kiến khác thì nhấn mạnh : Tnú điển hình cho con đường đấu tranh cách mạng
của người làng Xô Man.
Từ cảm nhận của mình về hình tượng này, anh/chị hãy bình luận những ý
kiến trên và nêu ý kiến đánh giá về hình tượng Tnú.
Đề 5 :
Về hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, có ý
kiến cho rằng : người lính ở đây có dáng dấp của các tráng sĩ thuở trước. Ý
kiến khác thì nhấn mạnh : hình tượng người lính mang đậm vẻ đẹp của người
chiến sĩ thời kháng chiến chống Pháp.
Từ cảm nhận của mình về hình tượng này, anh/chị hãy bình luận những ý
kiến trên
(1)
.
Đề 6 :

Từ cảm nhận của mình về nhân vật Phùng, anh/chị hãy bình luận những ý
kiến trên
(1)
.
3.3.1.3. Phản biện ở cấp độ đoạn trích, tác phẩm
Ở cấp độ này, đề bài yêu cầu cảm nhận và đánh giá về một đoạn trích
hoặc tác phẩm, văn xuôi hoặc thơ. Trong đó, có trình bày ý kiến riêng, có tham
gia tranh luận với những ý kiến khác, phản biện vấn đề nhằm đưa ra giá trị thực
sự của đoạn trích hoặc tác phẩm nghệ thuật. Ví dụ :
Đề 9 :
Có ý kiến cho rằng : trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, ở
khổ thơ đầu là bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ chân thực, đầy sức sống ; ở khổ
thơ thứ hai lại là một bức tranh tâm cảnh mang đậm nỗi buồn, bi kịch.
Từ cảm nhận của mình về hai khổ thơ đầu trong bài thơ này, anh/chị hãy
bình luận ý kiến trên.
Đề 10 :
Nói về cảnh ông Huấn Cao cho chữ viên quản ngục (trong Chữ người tử tù
– Nguyễn Tuân), có người cho rằng : đây là “sự nổi loạn của cái đẹp”
(2)
; một
người khác lại nhận định : đó là “sự tỏa sáng của những tấm lòng”.
(
3)
Trích Đề thi ĐH, khối D, năm 2013
(
1)
Trích Đề thi ĐH, khối D, năm 2013
(2)
Nguyễn Văn Tùng, “Tác phẩm văn học trong nhà trường, những vấn đề trao đổi”, Nxb ĐHQG Hà Nội,
2000, tập 2

nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa như sau : “Một tác phẩm thật giá trị,
phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm
chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ,
vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công
bình…Nó làm cho người gần người hơn”.
(1)
SGK Ngữ Văn 12, Nâng cao, tập 1, Nxb GD 2007, Tr. 168.
(2)
SGK Ngữ Văn 11, Cơ bản, tập 1, Nxb GD 2006, Tr. 107.
17
Rèn luyện năng lực viết văn cho học sinh THPT qua phản biện văn học
Một độc giả có ý kiến rằng : quan điểm nghệ thuật này của Nam Cao,
cho đến nay đã bị lạc hậu.
Anh/chị có nghĩ rằng quan điểm nghệ thuật này của Nam Cao bị lạc hậu
không? Hãy giải thích câu trả lời của mình?
3.3.1.5. Phản biện ở cấp độ trào lưu, khuynh hướng, giai đoạn, nền văn học

Ở cấp độ này, đề bài yêu cầu phân tích và đánh giá những đặc điểm của
một trào lưu, khuynh hướng, giai đoạn hay nền văn học, có thể thông qua một
tác phẩm cụ thể. Trong đó, có trình bày ý kiến riêng, có tham gia tranh luận với
những ý kiến khác, phản biện vấn đề nhằm đưa ra đặc điểm, giá trị, vị trí thực
sự của một trào lưu, khuynh hướng, giai đoạn hay nền văn học. Đây là cấp độ
khó, chỉ dành cho đối tượng học sinh giỏi văn thuộc đội tuyển cấp tỉnh, cấp
quốc gia. Ví dụ :
Đề 14 :
Có ý kiến cho rằng : cùng là những gương mặt tiêu biểu của nền văn học
đổi mới sau 1975 nhưng Nguyễn Minh Châu thì tiếp cận, khám phá con người
thiên về phương diện đạo đức, còn Nguyễn Khải lại tiếp cận, khám phá con
người thiên về phương diện văn hóa.
Trên cơ sở phân tích hai tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn

+ Luận điểm phản biện
+ Cơ sở phản biện : lí lẽ, dẫn chứng
+ Luận chứng
- Kết luận về đối tượng
Chúng tôi đã lần lượt hướng dẫn học sinh từng cấp độ đề phản biện, qua
mỗi cấp độ sẽ rèn luyện và nâng cao được năng lực viết văn cho các em.
3.3.2.1. Phản biện ở cấp độ chi tiết
Hướng dẫn đề 2 :
Đề bài : Trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân, ngay sau câu nói đùa của
anh Tràng : “Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng
về”, nhân vật người vợ nhặt về thật. Anh Tràng đã : “Chậc, kệ!”.
Về chi tiết này, có người đã trách anh Tràng : “kệ” là thái độ vô trách
nhiệm, biết là chưa chắc nuôi nổi mà lại đồng ý đưa cô ta về ; người khác lại
bày tỏ sự cảm thông : ở vào hoàn cảnh rất éo le, anh Tràng hành động như vậy
thật dũng cảm.
Anh/chị suy nghĩ như thế nào về chi tiết này?
Hướng dẫn :
a. Giới thiệu vấn đề :
- Kim Lân là gương mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Giọng
văn Kim Lân hóm hỉnh mà đôn hậu. Vợ nhặt là tác phẩm xuất sắc của ông, tiêu
biểu cho giọng văn ấy.
- Viết Vợ nhặt, Kim Lân chủ yếu thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc của
mình thông qua việc ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn người lao động.
b. Giải quyết vấn đề :
- Phân tích hoàn cảnh tình huống dẫn đến chi tiết nghệ thuật nói trên
+ Hoàn cảnh chung của dân tộc : nạn đói tràn về
19
Rèn luyện năng lực viết văn cho học sinh THPT qua phản biện văn học
+ Hoàn cảnh anh Tràng : nghèo đói, xấu trai, ế vợ
+ Lần gặp thứ nhất của anh Tràng và người vợ nhặt

3.3.2.2. Phản biện ở cấp độ hình tượng
Hướng dẫn đề 4 :
Đề bài : Về hình tượng Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn
Trung Thành, có ý kiến cho rằng : Tnú điển hình cho tính cách con người Tây
20
Rèn luyện năng lực viết văn cho học sinh THPT qua phản biện văn học
Nguyên. Ý kiến khác thì nhấn mạnh : Tnú điển hình cho con đường đấu tranh
cách mạng của người làng Xô Man.
Từ cảm nhận của mình về hình tượng này, anh/chị hãy bình luận những ý
kiến trên và nêu ý kiến đánh giá về hình tượng Tnú.
Hướng dẫn :
a. Đặt vấn đề :
- Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc) là một trong những nhà văn lớn
của nền văn học VN hiện đại. Ông cũng là nhà văn của mảnh đất Tây Nguyên
hùng vĩ. Có duyên và gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên trong cả hai cuộc kháng
chiến chống Pháp và chống Mĩ là điều kiện thuận lợi, tiền đề dẫn đến những
thành công trong những sáng tác về vùng đất này : Đất nước đứng lên, Rừng xà nu

- Truyện ngắn Rừng xà nu (1965) viết về những anh hùng làng Xô Man
trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi và cảm
hứng lãng mạn của VHVN 1945-1975. Cảm hứng của Rừng xà nu được phát
khởi từ một triết lí nảy ra từ máu lửa của một thời đại đau thương mà anh dũng.
- Hình tượng trung tâm của tác phẩm là Tnú. Có ý kiến cho rằng : Tnú
điển hình cho tính cách con người Tây Nguyên. Ý kiến khác thì nhấn mạnh :
Tnú điển hình cho con đường đấu tranh cách mạng của người làng Xô Man.
Vậy đâu là giá trị thực sự của hình tượng này?
b. Giải quyết vấn đề :
- Giải thích ý kiến :
+“Tnú điển hình cho tính cách con người Tây Nguyên” nghĩa là tính cách,
phẩm chất của Tnú có nhiều điểm tương đồng, khái quát hoặc được kết tinh từ

của buôn làng, Tnú có một cuộc đời nghèo khổ, cơ cực như bao người khác
nhưng cũng phát huy được cốt cách của người Xô Man : “Đời nó khổ nhưng
bụng nó sạch như nước suối làng ta”.
+ Tnú gặp bi kịch khi chưa cầm vũ khí : bản thân bị bắt, bị tra tấn dã man
(mỗi ngón tay chỉ còn hai đốt), bị tù ; vợ con bị giặc tra tấn đến chết ; cụ Mết
nhắc lại nhiều lần “Tnú không cứu sống được Mai” – “Tnú không cứu sống
được mẹ con Mai” – “Tnú không cứu được vợ con”…để khắc ghi vào tâm trí
người nghe một chân lí của thời đại : chừng ấy phẩm chất (gan góc, quả cảm,
22
Rèn luyện năng lực viết văn cho học sinh THPT qua phản biện văn học
tình yêu sâu sắc …) là chưa đủ để cứu sống mẹ con Mai mà phải là “chúng nó
đã cầm súng, mình phải cầm giáo”.
+ Tnú được giải thoát khi dân làng Xô Man đã cầm vũ khí, đứng dậy đấu
tranh, bảo vệ buôn làng ; vượt lên nỗi đau đớn, bi kịch cá nhân, Tnú quyết tâm
gia nhập lực lượng giải phóng, giết giặc trả thù cho gia đình, quê hương, góp
phần bảo vệ buôn làng.
+ Bước đường đời của Tnú đại diện cho con đường của các dân tộc Tây
Nguyên trong khói lửa đấu tranh. Câu chuyện bi tráng ở một con người mang ý
nghĩa của một dân tộc.
- Phản biện của bản thân (bổ sung ý kiến) :
+ Hai ý kiến đều đúng và sâu sắc, tuy khác nhau, tưởng đối lập nhưng thực
ra là bổ sung cho nhau cùng khẳng định vẻ đẹp của hình tượng người anh hùng Tnú.
+ Đó là sự hòa hợp cuộc đời và tính cách, cá nhân và cộng đồng để tạo nên
vẻ đẹp toàn vẹn của một hình tượng giàu chất sử thi.
+ Có được vẻ đẹp toàn vẹn đó là do nhà văn không chỉ có duyên mà còn đã
gắn bó sâu nặng với mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ ; không chỉ là “tôi yêu say
mê cây xà nu từ ngày đó” mà còn cùng ăn, cùng ngủ, cùng chiến đấu với đồng
bào Tây Nguyên, để rồi mang không khí đau thương mà anh dũng của một thời
khói lửa thổi vào tác phẩm, và rồi ghi một giấu ấn cho văn học cách mạng Việt
Nam bằng sự bất tử của hình tượng Tnú.

hoa, vừa là một trang hào kiệt, cùng với một tấm lòng thuần khiết nằm ngay
trong cái vẻ kiêu bạc, gai góc.
+ Cái đẹp đã nổi loạn trong cảnh ông Huấn Cao cho chữ viên quản ngục để
làm nên một cảnh tượng xưa nay chưa từng có.
+ Việc cho chữ - hoạt động sáng tạo cái đẹp - vốn chỉ diễn ra ở nơi tao nhã,
thư phòng, nay được diễn ra giữa nhà tù, nơi ngự trị của bóng tối, cái ác, những
thứ thù địch với cái đẹp.
+ Bút pháp lãng mạn được phát huy tột độ : sự tương phản gay gắt ; bóng
tối và cái ác làm nền cho sự xuất hiện của “một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn
lần hồ”, “tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván”, “phiến lụa óng” ; trên tấm
lụa ấy – điểm sáng nhất của vùng sáng ấy - là từng nét chữ đang tượng hình,
từng con chữ đang ra đời, cái đẹp đang được khai sinh…
+ Một cuộc đảo lộn ghê gớm đang diễn ra trong vị thế của các nhân vật ;
ranh giới tội phạm và cai tù đã bị xóa bỏ, chỉ còn là những tri kỉ đang quy tụ,
quây quần xung quanh cái đẹp của tình người và nghệ thuật ; mọi thứ nơi đây đã
bị đảo lộn, tác giả của sự đảo lộn này chính là cái đẹp : tất cả mọi người đang
sống đẹp, hành động theo tiếng gọi thiêng liêng của cái đẹp.
24
Rèn luyện năng lực viết văn cho học sinh THPT qua phản biện văn học
+ Sự nổi loạn của cái đẹp đã cứu được quản ngục – “cái đẹp sẽ cứu vớt
con người”
(1)
.
* Về ý kiến đó là “sự tỏa sáng của những tấm lòng” :
+ Đây cũng là một ý kiến đúng, sâu sắc.
+ Huấn Cao cho chữ không phải là thanh toán nợ nần với quản ngục,
cũng không phải vì sắp bị tử hình mà đem những tài sản cuối cùng cho người ở
lại, cũng không phải cơ hội cuối cùng để phô diễn tài hoa. Đây là việc làm của
một tấm lòng đền đáp một tấm lòng trong thiên hạ. Ở đây, cái tâm đang điều
khiển cái tài, cái tài đang phụng sự cái tâm. Nói đúng hơn là cái tài cái tâm đang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status