1
Cánh đồng mẫu lớn: lí luận và tiếp cận thực tiễn trên thế
giới và Việt nam
TS Vũ Trọng Bình; Ths Đặng Đức Chiến
Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nong nghiệp nông thôn
16 Thụy khuê, Ba đình, Hà nội;
1. Khái niệm cơ bản về “cánh đồng mẫu lớn”
Tình trạng manh mún về ruộng đất xảy ra phổ biến ở nhiều nước trên thế giới ít nhất là từ
thế kỷ 17, không chỉ ở các nước đang phát triển mà cả ở những nước phát triển. Từ góc độ
cá nhân, tình trạng manh mún về ruộng đất gây ra nhiều hạn chế như: chi phí sản xuất
tăng, sử dụng nhiều lao động, đi lại khó khăn, lãng phí đất cho bờ vùng bờ thửa, khó áp
dụng công nghệ và máy móc vào sản xuất, khó tổ chức hệ thống thủy lợi, tăng chi phí thu
mua sản phẩm. Từ góc độ xã hội, ruộng đất manh mún làm tăng chi phí giao dịch, khó
chuyển dịch lao động nông nghiệp sang ngành khác, cơ giới hóa chậm chạm, khó áp dụng
công nghệ mới, khó quy hoạch vùng sản xuất thương mại và quy hoạch sử dụng đất.
Cánh đồng mẫu lớn, là khái niệm ở Việt nam ban đầu được hiểu là làm mẫu những cánh
đồng lớn, do vậy nếu nhận rộng, nên gọi là xây dựng những Cánh đồng lớn. Việc xây
dựng những cánh đồng lớn thực chất đã được thực hiện ở Việt nam qua nhiều thời kì, từ
hợp tác hóa đến hiện nay. Trong thời hợp tác hóa, việc xây dựng những cánh đồng lớn có
cùng qui trình sản xuất, do HTX quản lí và làm ăn tập thể, hay mô hình do nông lâm
trường quốc doanh quản lí, đã đạt hiệu quả không cao. Trong thời kì đổi mới, cũng đã có
nhiều mô hình xây dựng cánh đồng lớn tương đối thành công, như mô hình mía đường
Lam sơn ở Thanh hóa, mô hình các sản phẩm chỉ dẫn địa lí ở một số nơi... Nhưng những
mô hình này khó nhân rộng, khó phát triển do thiếu khung thể chế tầm vĩ mô đảm bảo ổn
định về qui hoạch, liên kết nông dân và doanh nghiệp, thương hiệu sản phẩm. Một tiếp cận
nữa là để đi đến xây dựng những cánh đồng lớn, nhiều địa phương xây dựng đã thực hiện
dồn điền đổi thửa. Dồn điển đổi thửa” (land consolidation) là một giải pháp cho những vấn
đề nảy sinh từ sự manh mún của ruộng đất. Dồn điển đổi thửa là quá trình mà ở đó những
2
lượng, đồng đều về chất lượng, kịp thời gian cho nhiều đối tác. Nhờ vào liên kết, nông dân
mới có khả năng xây dựng và quản lý nhãn hiệu tập thể, tiến đến xây dựng thương hiệu
cho sản phẩm của mình, quản lý về chất lượng sản phẩm để không những gia tăng giá trị
3
mà còn đáp ứng nhu cầu của thị trường ngày càng tăng đối với sản phẩm có nguồn gốc
xuất xứ rõ ràng và đảm bảo an toàn, chất lượng.
Tổ chức sản xuất thông qua liên kết ngang giữa nông dân với nhau để cung cấp sản phẩm
theo nhu cầu của thị trường mới là một khía cạnh, là yếu tố “đẩy” (Push) trong mô hình
“cánh đồng mẫu lớn”. Mô hình này còn cần có yếu tố “kéo” (pull), chính là thị trường tiêu
thụ sản phẩm đầu ra, mà hoạt động cốt lõi là xây dựng được liên kết dọc giữa nông dân và
doanh nghiệp tiêu thụ. Xây dựng mối liên kết này về bản chất là xây dựng kênh tiêu thụ
mới trong chuỗi giá trị thông qua loại bỏ bớt tác nhân trung gian giữa người sản xuất và
doanh nghiệp, rút ngắn độ dài của kênh tiêu thụ. Nếu không có liên kết này, việc tổ chức
sản xuất thông qua liên kết ngang không đạt được lợi ích như mong muốn. Hiện tại, nhiều
doanh nghiệp nông nghiệp Việt nam chỉ thực hiện một khâu trong chuỗi giá trị toàn cầu,
mà chủ yếu là nhiệm vụ thu gom thô, hoặc sơ chế đóng gói. Có nghĩa là ngay bản thân các
doanh nghiệp cũng không tiếp cận được tới người tiêu dùng thông qua thương hiệu của
mình, vì vậy kinh doanh của doanh nghiệp mang tính thời vụ, không ổn định. Những
doanh nghiệp này cũng không thể liên kết ổn định với nông dân được, họ không có các
yếu tố ổn định để liên kết với nông dân về chất lượng, cung ứng và chia sẻ rủi ro... Do vậy,
để xây dựng những cánh đồng lớn, nông dân chỉ nên liên kết với những doanh nghiệp có
khả năng chế biến sâu sản phẩm, bản sản phẩm trực tiếp, có thương hiệu, đến người tiêu
dùng thông qua các hệ thống phân phối trong nước hoặc toàn cầu. Hoặc những doanh
nghiệp chứng minh được là họ đã liên kết, là một phần hữu cơ của một chuỗi hành hóa nào
đó trong các khía cạnh về chất lượng, thương hiệu, rủi ro...
Vậy, liên kết dọc giữa doanh nghiệp và nông dân dựa trên những yếu tố nào? Hay nói cách
khác, cái gì là “chất kết dính” giữa doanh nghiệp và nông dân? Trước tiên đó là quan hệ
mua bán, trong đó doanh nghiệp là người mua và nông dân là người bán sản phẩm. Nhưng
quan hệ mua bán này không phải là giao dịch mang tính thời vụ, mà nó được thực hiện
thuật sản xuất, quản lý sản xuất, chất lượng sản phẩm tương đồng, có liên kết với doanh
nghiệp về cung ứng sản phẩm đầu vào, cung cấp dịch vụ hỗ trợ, bao tiêu sản phẩm đầu ra
thì cũng có thể coi mô hình đó là “cánh đồng mẫu lớn”.
Với những phân tích trên, kinh nghiệm xây dựng « cánh đồng mẫu lớn » nên được nhìn
nhận và tổng kết dưới hai góc độ chính i) xây dựng liên kết ngang, tổ chức nông dân hành
động tập thể: qui hoạch sản xuất, sản xuất, bán sản phẩm...; ii) xây dựng liên kết dọc trong
chuỗi giá trị trên cơ sở những doanh nghiệp, hoặc tổ chức nông dân đủ khả năng tiếp cận
thị trường đầu cuối, liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trong toàn chuỗi giá trị
dến tận người tiêu dùng, dưới thương hiệu nhất định
2. Một số trường hợp xây dựng cánh đồng lớn ở nước ngoài.
5
Ở nước ngoài, nếu chúng ta tra google, tài liệu sẽ không có từ cánh đồng lớn, hoặc cánh
đỗng mẫu lớn. Những trên cơ sở những khái niệm, cách hiểu của chúng tôi về cánh đồng
mẫu lớn, chúng tôi xin nêu một số kinh nghiệm quốc tế.
Tiếp cận về cánh đồng lớn trên thế giới thường được thực hiện bắt đầu bằng xác định các
tiêu chí mà thị trường yêu cầu hoặc chính phủ áp đặt như về chất lượng sản phẩm, môi
trường, kĩ thuật canh tác, kế hoạch sản xuất, hệ thống quản trị.. để làm cơ sở xây dựng
hành động tập thể của liên kết ngang và liên kết dọc. Những cánh đồng lớn có thể ở một
khu vực, vùng nhỏ, hoặc cả một lưu vực cho một sản phẩm chuyên môn hóa cao như rượu
vang Bordeaux của Pháp, chè ở Ấn độ, gạo ở Thái lan, ...
Sản xuất rượu nho ở Pháp
Tại các vùng trồng nho ở Pháp, như vùng Bordeaux và nhiều vùng khác, các nhà sản xuất,
tổ chức sản xuất của người dân như HTX, hiệp hội, đều thống nhất thực hiện hành động
tập thể chung về qui hoạch vùng sản xuất, qui trình sản xuất (giống, kĩ thuật sản xuất...),
qui trình thu hoạch, qui trình chế biến, đóng gói và thương hiệu trên thị trường. Những qui
trình đó, sau khi được các tổ chức của nông dân thống nhất, đề xuất lên các cơ quan Nhà
nước, được công nhận, sẽ trở thành công cụ có tính pháp lí để kiểm soát các hành động tập
thể của nông dân, doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh. Các cơ quan nhà nước cũng