CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI - Pdf 74

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.
2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
2.1.1. Khái niệm, đặc điểm và các loại hình tín dụng ngân hàng:
2.1.1.1. Khái niệm:
Tín dụng là quan hệ vay mượn dưới dạng tiền tệ có hoàn trả gốc và lãi giữa người có vốn
( Ngân hàng, TCTD) và người thiếu vốn ( tổ chức, cá nhân).Theo nghĩa nguyên thủy của khái niệm
tín dụng (credit) là tin mà đưa tiền cho sử dụng. Như vậy tín dụng phụ thuôc rất nhiều chữ tin hay
chữ tín ở người vay tiền. Theo nghĩa rộng, chữ tín này bao hàm cả năng lực tài chính và sự sẵn sàng
trả tiền của người đi vay hay không.
Theo các nhà kinh tế, tín dụng là một phạm trù kinh tế đã tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế xã
hội. Tín dung hình thành và phát triển cùng với quá trình hình thành và phát triển của nền sản xuất
hàng hóa. Tuy nhiên, dưới những góc độ khác nhau, các nhà kinh tế đưa ra những định nghĩa khác
nhua về tín dụng.
Khi nghiên cứu về tiền tệ, tín dụng và ngân hàng trong nền sản xuất TBCN, C.Mác đã chỉ rõ:
“Tín dụng là sự tín nhiệm ít nhiều có căn cứ đã khiến 1 người này giao cho 1 người khác 1 số tư bản
nào đó, dưới hình thái tiền hoặc dưới hình thái hàng hóa đáng giá 1 số tiền nhất định nào đó. Số tiền
này được trả lại trong thời gian nhất định. Từ đó theo C.Mác điểm tất yếu của sự luân chuyển ( trở
về) điểm xuất phát của đồng tiền không chỉ giữ được nguyên vẹn giá trị mà nó lại đồng thời lớn lên
trong quá trình vận động.
Theo tác giả Lê Văn Tề, trong quyển Tiền tệ, tín dụng và ngân hàng cho rằng: “ Tín dụng là
quan hệ kinh tế vay mượn trên cơ sở lòng tin của cả người cho vay và người đi vay”.
Dù được định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng bản chất của tín dụng được thể hiện
là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn và người có vốn dựa trên cơ sở lòng tin. Biểu hiện bề
mặt của quan hệ tín dụng là sự vận động lượng giá trị vốn tín dụng qua các giai đoạn: phân phối vốn
tín dụng, sử dụng vốn tín dụng và hoàn trả vốn tín dụng. Sự vận động của lượng giá trị vốn tín dụng
khi quay về điểm xuất phát luôn phải đảm bảo giá trị và giá trị tăng thêm dưới hình thức lợi tức
thông qua cơ chế điều tiết lãi suất.
Như vậy, ta có thể khái quát như sau: “Tín dụng là quan hệ kinh tế gắn với quá trình tạo lập và
sử dụng quỹ tín dụng theo nguyên tắc hoàn trả nhằm thỏa mãn nhu cầu vốn phát triển kinh tế xã
hội”.
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng được coi là hình thức tín dụng phát triển, giữ

Vốn tín dụng ngân hàng tham gia vào quá trình sản xuất hàng hóa. Nhưng trong nhiều trường
hợp vốn tín dụng ngân hàng không tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa mà chỉ
tham gia vào những hoạt động phi sản xuất vật chất như: cho vay tái chiết khấu hoặc cho vay tái cầm
cố các loại công trái quốc gia, các loại trái khoán của chính phủ. Những trường hợp trên tín dụng
ngân hàng có gia tăng nhưng quy mô sản xuất hàng hóa không tăng. Trường hợp khác sản xuất hàng
hóa tăng nhưng vốn tín dụng không đáp ứng kịp, mâu thuẫn này diễn ra thường xuyên trong nền
kinh tế thị trường. Những trường hợp trên chứng tỏ vận động tín dụng ngân hàng có sự độc lập
tương đối với sự vận động của quá trình tái sản xuất xã hội.
2.1.1.3. Phân loại tín dụng ngân hàng:
Tín dụng ngân hàng có nhiều loại hay nhiều hình thức khác nhau. Nền kinh tế càng phát triển
các hình thức tín dụng càng phong phú. Việc phân loại tín dụng nhằm hiểu rõ thêm sự khác biệt của
từng loại tín dụng và qua đó ta có thể sử dụng hoặc hiểu được tín dụng trong từng hoàn cảnh cụ thể.
Tùy theo đối tượng và mục đích ngiên cứu ta có thể phân loại tín dụng theo các hình thức như sau:
Phân loại theo mục đích:
+Cho vay bất động sản.
+Cho vay công nghiệp.
+Cho vay nông nghiệp.
+Cho vay các định chế tài chính.
+Cho vay cá nhân.
+Cho thuê.
Phân loại theo thời hạn cho vay:
+Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn đến 12 tháng được sử dụng để bù đắp sự
thiếu hụt vốn lưu động và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
+Cho vay trung hạn: là là khoản vay có thời hạn từ 12 tháng đến 5 năm được dung vào đầu tư
TSCĐ và còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp đặc biệt là
ngững doanh nghiệp mới thành lập.
+Cho vay dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa có thể lên đến
20 đến 30 năm. Được dùng đáp ứng cá nhu cầu dài hạn.
Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
+Cho vay không đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, câm cố hoặc có sự bảo

người đi vay thường có nhu cầu vay dài hạn. Còn ngân hàng có thể “đi vay ngắn hạn để cho vay dài
hạn”. Chính nhờ, khả năng chuyển hóa thời hạn này mà ngân hàng có thể tạo điều kiện cho nhu cầu
người tích lũy và người đầu tư được đáp ứng phù hợp.
- Về phạm vi tín dụng: Tín dụng ngân hàng có phạm vi huy động vốn cũng như cho vay rất
lớn, liên quan đến rất nhiều chủ thể và các lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế. Bởi vậy, nó thích
hợp với nhiều đối tượng xin vay cũng như cho vay.
+ Nhược điểm:
Hạn chế cơ bản của TDNH là có độ rủi ro cao. Hạn chế này gắn liền với chính những ưu điểm
của TDNH, do việc ngân hàng có thể cho vay số tiền lớn hơn nhiều so với số vốn tự có hoặc sự
chuyển hóa thời hạn và phạm vi tín dụng rất rộng. Những rủi ro về khả năng thu hồi vốn vay hoặc
đầu tư vào dự án lợi nhuận thấp … có nguyên nhân cơ bản là sự lựa chọn đối nghịch, hay rủi ro đạo
đức.
2.1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng:
Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung, tích tụ và điều hòa vốn giữa các chủ thể
trong nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, vấn đề hiệu quả tài chính được đặt lên hàng đầu và việc tính toán
sử dụng vốn bao giờ cũng gắn liền với cả chi phí, kể cả chi phí cơ hội. Một khi vốn tạm thời nhàn rỗi
chưa được sử dụng thì sẽ lãng phí và tốn kém chi phi cơ hội do vốn chưa được sử dụng vào mục tiêu
sinh lợi. Khi ấy, vốn cần được đem cho vay hay phân phối lại từ nơi tạm thời nhàn rỗi sang nơi thiếu
hụt vốn. Ngược lại, khi thiếu hụt vốn cần có sự bổ sung kịp thời nhằm đảm bảo cho hoạt động sản
xuất kinh doanh được diễn ra liên tục hoặc tăng trưởng như hoạch định. Nhờ có tín dụng ngân hàng,
việc điều hòa hay phân phối lại nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu có thể được thực hiện 1 cách dễ
dàng và nhanh chóng.
Việc tập trung và tích lũy vốn có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế đang phát triển như
nước ta. Đứng trước các yêu cầu cấp bách cho sự phát triển kinh tế đòi hỏi 1 lượng vốn lớn tập trung
cho việc phát triển các ngành và các vùng kinh tế. Hiện nay, nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi được nắm
giữ ở các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế là rất lớn. Nhưng nhiều người tích lũy không muốn
đầu tư bởi vì họ bị hạn chế về khả năng và kiến thức tài chính. Trong khi đó, hệ thống tín dụng ngân
hàng có đủ độ tin cậy do tính chuyên môn hóa cao và làm giảm bớt rủi ro các cá nhân của những
người tích lũy. Do đó, tín dụng làm cho quá trình tập trung vốn được thực hiện nhanh chóng và có

Tín dụng góp phần nâng cao đời sống của nhân dân và thực hiện các chính sách xã hội của nhà
nước.
Với hệ thống ngân hàng rộng khắp, tín dụng ngân hàng giúp cho mọi người dân có thể tiếp
cận được với nguồn vốn tín dụng từ đó có điều kiện nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống. Gắn
trách nhiệm của người dân đối với nguồn vốn vay tạo sức ép buộc chủ thể kinh doanh phải thiết lập
và phát triển các dự án kinh doanh có hiệu quả để vừa có thể trả lãi ngân hàng đồng thời kinh doanh
có lãi, tái sản xuất sức lao động, làm giàu cho mình và cho xã hội.
Tín dụng ngân hàng thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng, các ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp, dịch vụ đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Thông qua đó góp phần giải quyết vần đề việc
làm, hạn chế các tiêu cực xã hội và các luồng dân cư di chuyển từ khu vực nông thôn vào thành thị.
Nhà nước sử dụng tín dụng ngân hàng không chỉ là 1 công cụ thực hiện các chính sách điều
tiết kinh tế mà còn hướng tới các mục tiêu xã hội nhằm giải quyết các vấn đề cấp bách đang diễn ra
hiện nay là xóa đói giảm nghèo, dân số, việc làm…Với việc áp dụng các ưu đãi về vốn, lãi suất, điều
kiện và thời hạn vay cho các đối tượng chính sách và các hộ nghèo, tín dụng đã đóng vai trò rất quan
trọng trong thực hiện xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, giải quyết công ăn việc làm, xây dựng
đội ngũ cán bộ cho địa phương giảm dần khoảng cách chênh lệch giữa nông thôn và thành thị.
Tín dụng góp phần mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
Trong nền kinh tế mở, nhu cầù vay vốn nước ngoài trở thành nhu cầu bức thiết đặc biệt là đối
với những quốc gia đang phát triển như Việt Nam còn nhiều hạn chế về điều kiện và nguồn lực.
Nguồn vốn vay từ nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng lực sản xuất, tiếp
cận trình độ công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lí của các nước trên thế giới.
Tín dụng ngân hàng thúc đẩy việc giao lưu, trao đổi hàng hóa giữa các nước trên thế giới mở
rộng quan hệ ngoại thương tạo điều kiện nâng cao thu nhập cho ngân sách nhà nước đồng thời thu
hút được nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cho phép khai thác tối đa nguồn lực hiện có cho
quá trình phát triển kinh tế.
2.1.3. Lãi suất tín dụng:
2.1.3.1. Khái niệm:
Hoạt động tín dụng ngân hàng gắn liền với lợi tức thu được từ hoạt động tín dụng hay còn gọi
là lợi tức tín dụng bởi vì lợi tức tín dụng là thước đo hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng. Khi
ngân hàng thực hiện quyền cho vay, lợi tức được hiểu là thu nhập có được do chuyển nhượng quyền

LSTD là công cụ điều tiết kinh tế vi mô.
LSTD là 1 công cụ thực hiện hoạt động của các trung gian tài chính trong diều kiện cạnh tranh
lành mạnh, đảm bảo tính tự chủ tài chính của các tổ chức này để có thể tồn tại và phát triển. Dựa trên
lãi suất cơ bản và biên độ giao động cho phép để tăng khối lượng nguồn vốn huy động, đồng thời
mở rộng quan hệ tín dụng với khách hàng, các tổ chức tài chính trung gian có thể nâng lãi suất tiền
gửi và hạ lãi suất cho vay. Sự cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức này sẽ tạo ra lợi ích kinh tế
chung cho toàn bộ nền kinh tế.
2.1.3.3. Các loại lãi suất tín dụng:
Nếu căn cứ vào tính chất chỉ đạo của Nhà Nước, lãi suất tín dụng được chia thành:
+ Lãi suất chỉ đạo: là lãi suất do ngân hàng nhà nươc trung ương công bố dưới các dạng như
lãi suất chiết khấu, lãi suất trần, lãi suất sàn, lãi suất cơ bản…làm cơ sở để ngân hàng thương mại và
các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất cho vay.
- Lãi suất sàn, lãi suất trần là mức lãi suất thấp nhất hoặc cao nhất trong 1 khung lãi suất nào
đó, mà ngân hàng trung ương quy định để can thiệp vào hoạt động tín dụng nhằm bảo vệ quyền lợi
của người cho vay hoặc người đi vay.
- Lãi suất cơ bản bao gồm lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay và lãi suất lien ngân hàng.
.Lãi suất tiền gửi là lãi suất mà ngân hàng thương mại trả cho người gửi trên số tiền ở tài
khoản tiền gửi tiết kiệm.
.Lãi suất cho vay được xác định trên cơ sở lãi suất tiền gửi theo tính chất của khoản vay và
thời gian vay vốn.
.Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng là lãi suất mà các ngân hàng cho nhau vay nhằm giải
quyết nhu cầu vốn ngắn hạn trên thị trường tiền tệ.
+ Lãi suất kinh doanh: là lãi suất do từng hệ thống nâng hàng thương mại và các tổ chức tín
dụng xác định trên cơ sở lãi suất chỉ đạo của ngân hàng nhà nước.
Nêu căn cứ vào thời gian vay mượn:
+ Lãi suất ngắn hạn.
+ Lãi suất trung hạn.
+ Lãi suất dài hạn.
Nếu căn cứ vào giá trị của tiền tệ:
+ Lãi suất danh nghĩa là lãi suất được xác định cho 1 kì hạn gửi hoặc vay chưa tính đén sự

LSTDNH hầu như hoàn toàn phụ thuộc vào tình hình tăng trưởng kinh tế trong từng thời kỳ. Khi nền
kinh tế đang tăng trưởng, đầu tư trong xã hội tăng làm cho cầu vốn đàu tư tăng do đó lãi suất có xu
hướng tăng. Ngược lại, khi nền kinh tế đang trong tình trạng suy thoái, đầu tư xã hội giảm, để kích
cầu đầu tư, Nhà nước chủ trương hạ lãi suất cơ bản để hạ lãi suất cho vay.
+ Tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế:
Lạm phát hay tăng giá có tác động nhất định đến lãi suất trên thị trường. Bởi lẽ, lãi suất là 1
biến số hết sức nhạy cảm đối với nền kinh tế nói chung và các hiện tượng của lạm phát nói chung.
Khi nền kinh tế có lạm phát quá cao trong 1 thời kì nào thì lãi suất có xu hướng tăng lên. Khi lạm
phát tăng (đặc biệt là khi lạm phát gia tăng cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế) thì gửi tiền tiết kiệm
có thể phải chịu lãi suất âm tức là gửi tiền tiết kiệm không những không có lãi mà còn lỗ do đồng
tiền mất giá khi đó người có vốn sẽ dùng nguồn vốn tiết kiệm sang tích trữ hàng hóa hoặc đầu tư
sang lĩnh vực khác làm giảm nguồn cung tiền gây áp lực tăng lãi suất trên thị trường. Bên cạnh đó để
hạn chế lạm phát gia tăng ngân hàng trung ương sẽ thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt,tức là giảm
cung tiền cũng là 1 trong những yếu tố làm cho LSTDNH gia tăng nhanh chóng.
+ Thời hạn hoàn trả.
Nói chung, thời hạn hoàn trả tiền vay càng dài , ngân hàng sẽ yêu cầu lãi suất càng cao. Lý do
là ngân hàng sẽ gặp tình hình rủi ro lớn hơn trong những thay đổi thực trạng tài chính củ doanh
nghiệp trong tương lai và thời gian cho vay càng dài, tài sản thế chấp càng có thể bị sụt giá tới mức
mà giá trị của nó sẽ không còn dủ để đảm bảo số dư cho tiền vay.
+ Các chính sách vĩ mô của Nhà Nước.
Mỗi chính sách điều tiết vĩ mô của nhà nước đề ra ảnh hưởng đến toàn bộ ngành, lĩnh vực và
mọi đối tượng trong nền kinh tế chính vì vậy nó cũng tác động rất lớn tới thị trường tín dụng.
Bội chi ngân sách là 1 bộ phận quan trọng trong cầu quỹ cho vay nên khi bội chi ngân sách
tăng làm cho cầu quỹ cho vay tăng kéo theo lãi suất có xu hướng tăng. Thông thường để bù dắp bội
chi ngân sách, Chính phủ thường phát hành thêm trái phiếu và chứng từ có giá. Lượng cung trái
phiếu trên thị trường tăng làm cho giá trái phiếu có xu hướng giảm, lãi suất thị trường có xu hướng
tăng lên.
Chính sách tiền tệ của Chính phủ nhằm kiểm soát lượng cung tiền, kiểm soát lạm phát và tác
động tới lãi suất nhằm thực hiện các mục tiêu nhất định nên các chính sách tiền tệ tác động mạnh mẽ
đến lãi suất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status