Giống và thời vụ sản xuất lúa đồng bằng sông Cửu Long - Pdf 18

BỘ NƠNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NƠNG
THƠN
CỤC TRỒNG TRỌT
Giới Thiệu

ở Đồng bằng sơng Cửu Long
NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP
TP. Hồ Chí Minh – 2006
1
Biên tập
1. Thạc sĩ Nguyễn Văn Hòa, Phó Cục trưởng Cục
Trồng trọt
2. Thạc sĩ Nguyễn Quốc Lý, Phó Giám đốc Trung tâm
Khảo kiểm nghiệm giống trung ương; Trưởng Trạm
Khảo kiểm nghiệm giống cây trồng Nam bộ.
3. Kỹ sư Đào Quang Hưng, Phó phòng kỹ thuật, Bộ
phận thường trực Cục trồng trọt tại Tp. Hồ Chí Minh.
4. Thạc sĩ Lê Thanh Tùng, Chuyên viên, Bộ phận
thường trực Cục trồng trọt tại Tp. Hồ Chí Minh.

2
LỜI NÓI ĐẦU
Đồng bằng sông Cửu Long với tiềm năng đa dạng,
phong phú và là vùng trọng điểm sản xuất lương thực.
Sản lượng lúa chiếm khoảng 52% tổng sản lượng lúa của
cả nước, hàng năm đóng góp trên 90% sản lượng gạo xuất
khẩu, sản xuất lúa ở ĐBSCL có vai trò đặc biệt quan
trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và
góp phần tích cực trong xuất khẩu.
Tuy nhiên, thời gian qua việc sản xuất lúa tại Đồng
bằng sông Cửu Long cũng còn biểu hiện sự thiếu ổn định

hiện nay nói chung và ở Đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL) nói riêng.
Trong nhiều năm qua việc lai tạo chọn giống lúa
theo 3 hướng chính:
• Chọn tạo giống có chất lượng gạo ngon phục vụ
thị trường trong nước và xuất khẩu.
• Chọn tạo giống có năng suất cao, ổn định cho vùng
thâm canh.
• Chọn tạo giống năng suất cao, thời gian sinh
trưởng ngắn, chống chịu sâu bệnh và chống chịu các điều
kiện khó khăn.
Việc chọn tạo theo những định hướng như trên đã
góp phần làm cho sản xuất cây lúa ở ĐBSCL từng bước ổn
định, đảm bảo an ninh lương thực cho toàn vùng và cho cả
nước trong nhiều năm qua.
6
Ngày nay giống vẫn được xem là một trong những
yếu tố hàng đầu trong việc không ngừng nâng cao năng
suất cây trồng. Các nhà khoa học ước tính khoảng 30 –
50% mức tăng năng suất hạt của các cây lương thực trên
thế giới là nhờ việc đưa vào sản xuất những giống tốt mới.
Những năm 60, ở ĐBSCL hầu như chỉ có những
cánh đồng lúa 1 vụ với những giống lúa địa phương cao
cây, dài ngày, tuy chất lượng khá nhưng năng suất thấp.
Trong thời gian 20 năm trở lại đây, nhiều cơ quan nghiên
cứu, trong đó có Viện nghiên cứu lúa ĐBSCL, Viện
KHKT Nông nghiệp miền Nam, Viện Nghiên cứu và Phát
triển ĐBSCL (Đại học Cần Thơ)… đã cho ra đời nhiều
giống lúa cao sản ngắn ngày, có phẩm chất tốt, đảm bảo đủ
tiêu chuẩn xuất khẩu, cho phép tạo ra những cánh đồng lúa

qua được biến động của điều kiện thời tiết bất lợi và những
điều kiện bất thuận bên ngoài từ đó mới có thể cho năng
suất cao và gia tăng chất lượng gạo, nhất là gạo xuất khẩu.
Hạt giống khỏe là hạt giống phải đạt những yêu cầu
sau:
- Hạt giống phải thuần, đúng giống, đồng nhất về
kích cỡ, không bị lẫn những hạt giống khác, hạt cỏ và tạp
chất, không có hạt lem, lép và không bị dị dạng.
- Tỉ lệ nảy mầm cao và cây mạ phải có sức sống
mạnh.
- Hạt giống không bị côn trùng phá hoại (sâu mọt),
không mang mầm bệnh nguy hiểm.
3. Một số biện pháp cải thiện chất lượng hạt giống khi
còn trên đồng ruộng và trong bảo quản
a. Trên đồng ruộng:
+ Kỹ thuật canh tác: Bảo đảm cây lúa sinh trưởng
tốt, bón phân cân đối và đầy đủ, quản lý nước tốt, làm sạch
8
cỏ dại, không có lúa rày (lúa cỏ) trên chân ruộng, phòng
trừ sâu bệnh tốt ở cuối vụ như bệnh vàng lá, bệnh đốm
vằn, bệnh đạo ôn, cháy bìa lá, lem lép hạt, rầy nâu, bọ xít
dài,… để hạn chế gây lép hạt ở tỉ lệ cao và hạn chế vi sinh
vật gây bệnh cho hạt.
+ Khử lẫn: Tiến hành khử lẫn ngay từ đầu vụ và sau
khi trổ để bảo đảm độ thuần, nhổ bỏ những cây cao, cắt
những bông lúa khác so với quần thể như lúa cỏ, lúa von,
lúa khác giống.
b. Không chọn những ruộng lúa bị bệnh để làm
giống cho vụ sau: như bệnh lúa von, bệnh đạo ôn, bệnh
cháy bìa lá, bệnh than vàng, bệnh đen hạt, bệnh đốm nâu,…

giống mới và áp dụng giống xác nhận ngày càng tăng.
Trong giai đoạn 1984 – 2005, Bộ Nông nghiệp và
PTNT đã công nhận 57 giống lúa ở phía Nam, trong đó
gồm 32 giống lúa được công nhận chính thức và 25 giống
công nhận tạm thời. Cơ cấu gieo trồng và diện tích sản
xuất 20 giống lúa chủ lực ở ĐBSCL giai đoạn 2003/2004
được tổng hợp và trình bày trong bảng dưới đây (theo số
liệu điều tra của Trung tâm Khảo kiểm nghiệm Giống cây
trồng Trung ương).

10
Bảng 1: 20 giống lúa gieo trồng chủ lực trong Vụ Hè
Thu và vụ Mùa năm 2003
Stt Tên giống Diện tích (ha) Tỉ lệ (%)
1 OM 1490 270.498 12,3
2 OM 576 252.612 11,5
3 OMCS 2000 188.405 8,6
4 IR 50404 159.541 7,3
5 VND 95-20 135.665 6,2
6 OM 3536 103.563 4,7
7 IR 64 93.564 4,3
8 OM 2517 74.805 3,4
9 TNĐB 100 70.455 3,2
10 VD 20 42.953 2,0
11 Jasmine 85 40.889 1,9
12 OM 2717 32.167 1,5
13 IR 59606 30.185 1,4
14 Địa phương 27.160 1,2
15 MTL 250 24.510 1,1
16 ML 48 21.124 1,0

2005
Stt Tên giống Ước DT
2005 (ha)
Số tỉnh
gieo
trồng
Phản
ứng rầy
nâu
Phản
ứng đạo
ôn
1 OM 1490 400.000 19
N N
2 OM 576 360.000 12 HN HN
3 IR 50404 350.000 14 HN HN
4 OMCS 2000 280.000 19 HN N
5 VND 95-20 300.000 20 HN HN
6 OM 2517 180.000 10 HN HN
7 Jasmine 85 160.000 11 N N
8 IR 64 150.000 19 HN HN
9 OM 3536 140.000 17 N HN
10 OM 2718 130.000 13 N N
11 VD 20 80.000 9 N HN
12 OM 2717 70.000 15 N N
13 TNĐB 100 55.000 10 HN HN
14 OM 2514 40.000 7 N HN
15 AS 996 30.000 11 HN HN
16 MTL 250 25.000 15 N HN
17 OM 2822 15.000 5 HK HN

Thay đổi tích cực về cơ cấu giống lúa trong hơn một
thập kỷ qua thể hiện ở tỉ lệ giống lúa được chọn tạo, phát triển
trong nước ngày càng tăng và chiếm vị trí chủ đạo (trên 70%)
trong sản xuất lúa hiện nay; trái ngược hẳn tình hình những
năm 80 và đầu những năm 90 khi mà giống lúa có nguồn gốc
từ Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) chiếm đa số.
14
Ảnh hưởng của thị trường đến chuyển đổi cơ cấu
giống lúa ở ĐBSCL thể hiện rõ trong những năm gần đây,
đó là sự tăng đột biến diện tích sản xuất các giống lúa
thơm, đặc sản như VD 20, Jasmine 85, ST3, các giống lúa
nếp và mùa đặc sản địa phương như Tài nguyên, Nàng
thơm, Nàng hương, Tép hành… Những giống lúa này
ngon cơm, có giá trị thương mại cao nhưng có nhược điểm
chung là nhiễm nặng nhiều loại sâu bệnh hại chính ở
ĐBSCL như rầy nâu, bệnh đạo ôn, khô vằn.
Trước năm 2000, cơ cấu giống lúa Jasmine 85 và VD
20 hầu như không đáng kể. Nhưng do nhu cầu xuất khẩu,
năng suất và giá trị thương mại cao nên diện tích sản xuất
giống Jasmine 85 và VD 20 bùng phát nhanh, lên tới trên
200.000 ha năm 2004 và khoảng 250.000 ha vào năm
2005. Nhóm lúa thơm đặc sản hiện chiếm trên 10% tổng
diện tích gieo trồng lúa toàn vùng.
Các giống lúa đặc sản được sản xuất khá tập trung ở
một số địa phương, vì thế ở nhiều vùng tỉ lệ diện tích lúa
thơm nhiễm rầy nâu và bệnh đạo ôn lên đến 20 – 30%.
Đây có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc
tích tụ và bùng phát dịch rầy nâu hiện nay.
Sau nhiều năm sản xuất trên diện rộng, tính kháng
của phần lớn các giống lúa với sâu bệnh đã suy giảm, nhất

1. Sơ bộ tình hình sâu bệnh đang phát sinh hiện nay
Rầy nâu và bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá gần đây đã có
những diễn biến phức tạp. Thời gian bùng phát và gây hại
mạnh bắt đầu từ năm 2005, và kéo dài với tốc độ lây
truyền bệnh nhanh, trên phạm vi rộng.
Bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá tại một số vùng chiếm tới
70 – 80% diện tích lúa bị nhiễm rầy nâu, là một tỉ lệ cao và
đáng lo ngại.
16
Tốc độ lây lan nhanh và rộng do những yếu tố về
mùa vụ canh tác lúa của những vùng là chính (luôn luôn
có sự hiện diện của cây lúa trên đồng ruộng, rầy nâu dễ
dàng di trú theo gió về Đông Nam bộ khi ĐBSCL thu
hoạch lúa và ngược lại). Ngoài ra việc sử dụng tỉ lệ cao
một số giống nhiễm rầy nâu trong sản xuất đã làm cho
dịch hại này có điều kiện bộc phát nhanh và kéo theo sự
lây truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên diện rộng.
Tuy nhiên bằng nhiều biện pháp canh tác như cắt bỏ
vụ 3, áp dụng 3 giảm 3 tăng, sử dụng một số giống lúa
chống chịu rầy nâu, IPM, 4 đúng trong dùng thuốc BVTV,
thời vụ sạ lúa tập trung, “né rầy”, “bao lúa” bằng việc
khống chế nước, “giăng mùng” cho mạ,… đã góp phần
quan trọng vào việc khống chế dịch rầy nâu, vàng lùn và
lùn xoắn lá.
2. Giới thiệu cơ cấu giống vụ Đông Xuân 2006 - 2007
Nhiều giống lúa có thể dùng cho vụ ÐX 2006 – 2007,
ít nhất là để chờ có giống tốt hơn là: OMCS 2000, OM 576,
IR 50404, IR 64; và AS 996, VND 95 – 20, OM 5930.
Một số giống được các tác giả giới thiệu có tính
kháng rầy tốt, như OM 4495, OM 4498, MTL 382, MTL

OMCS 2000, VND 95-20, OM 4498.
• Vùng ven biển Nam bộ: cơ cấu chủ lực là các giống
OM 576, IR 50404, OMCS 2000, AS 996, OM 4498,
VND 95-20, OM 3242.
• Vùng bán đảo Cà Mau (tính từ Sóc Trăng, Bạc Liêu,
Cà Mau và một phần tỉnh Kiên Giang) xem xét lựa
chọn các giống chủ lực nêu trên, các giống lúa ST đặc
sản. Vùng đất phèn có thể sử dụng giống OM 1350,
OM 2488, IR 56381 (MTL 149), AS 996, OM 3242,
18
Tuy nhiên về tương lai lâu dài cơ cấu giống lúa nên
được hoạch định theo những định hướng cho từng vùng
như sau:
+ Mỗi vùng sản xuất tùy theo điều kiện tự nhiên và
theo sự giới thiệu, khuyến cáo của các cơ quan sản xuất
giống chỉ nên sản xuất từ 4 – 5 giống chủ lực và lưu ý rằng
không có giống chủ lực nào chiếm quá 20% diện tích. Cần
quy hoạch sản xuất 1 hoặc 2 giống có những đặc tính
tương đồng trong từng cánh đồng để thuận tiện cho việc áp
dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến, phù hợp và dễ dàng
hình thành một vùng hàng hóa đồng nhất.
+ Nên sử dụng giống xác nhận và cố gắng duy trì
việc sản xuất 1 giống lúa trong nhiều vụ bằng các biện
pháp, kỹ thuật canh tác thích hợp để gia tăng tính ổn định
và khai thác hết tiềm năng năng suất của giống (hiện nay
một số giống lúa chỉ có thể tồn tại trong khoảng 3 năm tại
một vùng sản xuất sau đó với áp lực của các loại sâu hại đã
không thể phát huy hết những đặc tính tốt của mình).
+ Bố trí cơ cấu giống cho từng vụ nên chú ý một số
loại dịch hại phổ biến và những yếu tố bất lợi trong vụ đó

Các cơ sở nghiên cứu về lúa cần kế thừa phương
pháp thanh lọc và tạo chọn giống lúa kháng rầy như trước
đây, đồng thời ứng dụng và phát triển những công nghệ
tiên tiến để có chương trình nghiên cứu giống lúa kháng
rầy có hệ thống kết hợp giữa truyền thống với hiện đại.
Tuy nhiên, trước mắt cần xác định giống kháng ngay
trong sản xuất. Ðồng thời, cần tập hợp được các chuyên gia
tạo giống lúa có kinh nghiệm, không phân biệt trong hay
ngoài các cơ quan, đơn vị có chức năng tạo chọn giống lúa,
ở trong hay ngoài cơ quan nghiên cứu, có thể khuyến khích,
mở rộng cho các công ty giống cùng tham gia.
20
Nông dân cần biết rõ vùng đất của mình, canh tác
những giống có khả năng phát triển tốt theo khuyến cáo
của các cơ quan nghiên cứu về giống và các cơ quan
chuyên môn tại địa phương. Về lâu dài những giống lúa có
chất lượng khá, phù hợp với thị trường tiêu thụ nội địa và
xuất khẩu cần chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu sản xuất lúa.
Những giống kháng sâu bệnh, và chống chịu điều kiện bất
lợi của môi trường cần được chú ý đưa vào canh tác.
4.1. Đổi mới hạt giống
Đổi mới hạt giống là một khâu thiết yếu để duy trì
phẩm chất hạt giống trong sản xuất.
Việc sử dụng hạt giống trong ruộng sản xuất qua
nhiều vụ sẽ dẫn đến giống bị lẫn tạp, thoái hóa, không cho
năng suất cao và tính chống chịu với điều kiện bất lợi sẽ
không như hạt giống ban đầu. Do vậy, khi vẫn còn muốn
canh tác giống lúa này trong ruộng sản xuất thì việc phải
đổi mới hạt giống là cần thiết.
Việc đổi mới hạt giống hợp lý và tối ưu nhất là sử

nào trình độ phát triển của công tác giống cây trồng nói
chung cũng như của sản xuất giống lúa nói riêng. Thực
tiễn sản xuất ở vùng ĐBSCL cho thấy nhịp độ thay giống
lúa khá nhanh trên quy mô rộng lớn sau ngày giải phóng
đến nay, Viện nghiên cứu lúa ĐBSCL đã lai tạo, tuyển
chọn và phóng thích ra sản xuất hàng trăm giống lúa có
chất lượng cao, kháng sâu bệnh, đã góp phần đáng kể cho
sản xuất lúa cũng như xuất khẩu gạo của nước ta, đem lại
lợi nhuận không nhỏ cho người nông dân ĐBSCL.
Tuy nhiên, do sự thiếu chặt chẽ trong công tác chọn
giống cũng đã xảy ra tình trạng một số giống mới không có
triển vọng và không được nghiên cứu đầy đủ đã được phổ biến
ra sản xuất. Điều này đã mang lại những thiệt hại đáng tiếc.
22
Để khắc phục tình trạng nói trên cần phải làm sao
cho từ cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý đến tận người sản
xuất đều hiểu rõ là việc thay giống mới chỉ nên tiến hành
trong 3 trường hợp sau:
Một là, khi các nhà chọn giống đã tạo ra được giống
mới có một số ưu điểm có giá trị kinh tế hơn hẳn các giống
cũ đang dùng trong sản xuất.
Hai là, khi điều kiện sinh thái trong vùng thay đổi
làm các giống đang sử dụng trở nên không thích hợp nữa.
Ví dụ như sự bộc phát của những loại dịch hại, sự thay đổi
về điều kiện thủy văn, thủy nông…
Ba là, khi có sự thay đổi về hướng sử dụng sản phẩm
như để chế biến, tiêu thụ nội địa, xuất khẩu.
4.3. Những yêu cầu cơ bản đối với một giống lúa mới
Nền nông nghiệp hiện đại có những yêu cầu ngày
càng cao đối với giống cây trồng nói chung và giống lúa

biện pháp phòng trừ sâu, bệnh bằng hóa chất thường tốn
kém và làm ô nhiễm môi trường, nhưng không phải bao
giờ cũng đạt được những kết quả mong muốn. Việc xử lý
bằng thuốc trừ sâu thường kèm theo những hậu quả tiêu
cực đối với những loài côn trùng có ích, kẻ thù của những
côn trùng có hại. Ngoài ra, dùng thuốc hóa học phòng trừ
sâu bệnh không hợp lý sẽ làm mất cân bằng sinh thái,
những côn trùng có lợi bị tiêu diệt và những côn trùng có
hại thường tạo ra những khả năng sinh sản ào ạt trở lại để
gây hại cho lúa. Vì những lý do trên, việc đưa vào sản xuất
các giống lúa có khả năng kháng sâu bệnh sẽ khắc phục
được những nhược điểm cơ bản của biện pháp phòng trừ
sâu, bệnh bằng hóa chất và mang lại hiệu quả kinh tế to
lớn trong sản xuất nông nghiệp.
- Giống lúa phải thích hợp với điều kiện canh tác
trong vùng. Ở những nơi có mức độ cơ giới hóa cao trong
24
sản xuất nông nghiệp thì các giống lúa phải có những đặc
tính thích hợp với việc canh tác bằng cơ giới hóa, có độ
đồng đều cao, cứng cây, không đổ ngã, ít rụng hạt. Trong
điều kiện có đủ phân bón hay có thể tưới tiêu tự động thì
cần những giống có phản ứng tốt với liều lượng phân bón
cao hay với nước tưới, nhưng trong điều kiện thiếu phân,
thiếu nước người ta lại cần những giống ít đòi hỏi phân và
chịu hạn…
- Giống lúa phải có phẩm chất tốt, đáp ứng được yêu
cầu của thị trường.
IV. Tổ chức hệ thống sản xuất, cung ứng và quản lý
chất lượng giống lúa
1. Phân cấp hạt giống lúa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status