Bài tập nhóm tháng 2 môn Luật TTHS 2011
Câu 1
Thứ nhất, về việc đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn quyết định khởi tố vụ án của Cơ quan điều
tra huyện X. Quyết định khởi tố vụ án hình sự là văn bản pháp lý xác định sự việc xảy ra trong thực tế,
có dấu hiệu tội phạm làm cơ sở tiến hành các hoạt động điều tra. Theo quy định tại Điều 11 Pháp lệnh
tổ chức điều tra hình sự năm 2004 thì “Cơ quan điều tra cấp huyện khởi tố vụ án hình sự về các tội khi
các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ các tội thuộc thẩm
quyền điều tra của Cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan an ninh điều
tra trở lên trong Công an nhân dân”.
Như vậy, khi nhận được tin báo về tội phạm , Cơ quan điều tra phải tiến hành kiểm tra, xác minh
để ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án. Cơ quan điều tra huyện X qua xác minh đã thấy có
dấu hiệu tội phạm và vì đây là tội phạm thuộc khoản 1 Điều 104 đã có yêu cầu của người bị hại nên Cơ
quan huyện X có trách nhiệm ra quyết định khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật, để đảm bảo cho
việc điều tra vụ án được kịp thời, phát hiện nhanh chóng mọi hành vi phạm tội và kịp thời xử lý.
Khoản 3 Điều 104 Luật tố tụng hình sự quy định: “Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi
tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát phải gửi quyết định đó đến Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra;
quyết định khởi tố kèm theo tài liệu liên quan đến việc khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, Bộ
đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân
dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được gửi tới
Viện kiểm sát để kiểm sát việc khởi tố…”. Vậy, trong thời hạn hai tư giờ, kể từ khi ra quyết định khởi
tố thì Cơ quan điều tra huyện X phải gửi quyết định khởi tố cùng các tài liệu liên quan tới Viện kiểm
sát, tuy nhiên không phải để Viện kiểm sát phê chuẩn quyết định khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra
huyện X mà là để Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố hình sự, bảo đảm
mọi tội phạm được phát hiện đều phải được khởi tố, việc khởi tố vụ án là có căn cứ và hợp pháp.
Vậy việc đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn quyết định khởi tố vụ án của Cơ quan huyện X là sai.
Thứ hai, về việc đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn quyết định khởi tố bị can. Khởi tố bị can là
hình thức pháp lý trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội.
Theo Khoản 4 Điều 126 Bộ Luật tố tụng hình sự “trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố
bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can đó
cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn việc khởi tố. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận
được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết
quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra.
Dựa vào các dữ kiện thì ở tính huống này chúng ta thấy rằng B là đối tượng đang bị điều tra và
có biểu hiện của bệnh tâm thần nên thủ trưởng cơ quan huyện X đa ra quyết định là đúng với thẩm
quyền và chức trách của mình vì tại điểm d khoản 2 Điều 34 BLTTHS có quy định khi thực hiện việc
điều tra vụ án hình sự, Thủ trưởng cơ quan điều tra có nhiệm vụ và quyền hạn “Quyết định trưng cầu
giám định, quyết định khai quật tử thi”. Như vậy đến đây chúng ta có thể kết luận lại một lần nữa là
trong trường hợp này Thủ trưởng cơ quan huyện X đã ra quyết định trưng cầu là đúng với quy định của
pháp luật, đúng với nhiệm vụ và quyền hạn của mình. Vì pháp luật và nhà nước đã trao thẩm quyền
cho họ nên việc họ thực hiện thẩm quyền của mình là đúng.
* Quyết định 2 là: Thủ trưởng cơ quan điều tra huyện X đã ra quyết định đưa B vào cơ sở chữa
bênh bắt buộc. Quyết định Thủ trưởng cơ quan điều tra huyện X đã ra quyết định đưa B vào cơ sở
chữa bện bắt buộc là sai: Theo quy định của pháp luật thì tùy từng giai đoạn tố tụng, các cơ quan có
thẩm quyền căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y tâm thần có thể quyết định đưa những
người thuộc đối tượng bắt buộc chữa bệnh vào một chuyên khoa y tế để bắt buộc chữa bệnh. Thẩm
quyền quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh được quy định cụ thể như sau: Trong giai
đoạn điều tra và truy tố, việc áp dụng biện pháp băt buộc chữa bện do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng
Nhóm KT33C01-2 Page 2
Bài tập nhóm tháng 2 môn Luật TTHS 2011
cấp với cơ quan điều tra đang thụ lý vụ án hoặc viện trưởng Viện Kiểm sát đang thụ lý vụ án quyết
định.
Căn cứ vào các dữ kiện đã cho trong tình huống thì chúng ta thấy rằng trong tình huống này
không nói rõ là quyết luận của hội đồng giám định ở đây có nội dung gì nên nhóm xin giả định như
sau: “Thủ trưởng cơ quan điều tra huyện X ra quyết định trưng cầu giám định và Hội đồng giám định
kết luận B bị bệnh tam thần”. Nhóm giả định như vậy để làm rõ quyết định của thủ trưởng cơ quan
huyện X đã ra quyết định đưa B vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh. Như vậy, dựa theo giả định như trên và
kết hợp với những dữ kiện đã có trong tình huống thì chúng ta thấy rằng “quyết định Thủ trưởng cơ
quan điều tra huyện X đã ra quyết định đưa B vòa cơ sở chữa bệnh” là sai thẩm quyền. Vì ở tinh huống
này đối tượng B đang ở trong đoạn điều tra nên trong trường hợp này khi nhận được Kết luận của Hội
đồng giám định – giả định quyết định giám định kết luận B mắc bệnh tâm thần thì Thủ trưởng cơ quan
điều tra huyện X phải gửi yêu cầu áp dụng bắt buộc chữa bệnh cùng kết luận giám định cho viện kiểm
Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 của Bộ luật hình sự;
b. Đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.
Sau đó, xét thấy quyết định đình chỉ điều tra của cơ quan là không có căn cứ và có đầy đủ căn cứ
để truy tố B về tội phạm đã khởi tố, viện kiểm sát huyện X đã ra quyết định hủy bỏ quyết định đình chỉ
điều tra và ra quyết định truy tố B về tội cố ý gây thương tích.
Như đã biết, Viện kiểm sát là cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và
thực thi quyền công tố theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Cụ thể tại Điều 13 Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân quy định Viện kiểm sát có quyền và nhiệm vụ kiểm sát việc khởi tối, kiểm sát các
hoạt động điều tra của cơ quan điều tra; phê chuẩn và không phê chuẩn các quyết định của cơ quan
điều tra theo quy định của pháp luật; quyết định hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều
tra; quyết định truy tố bị can Do vậy, sau khi nhận và nghiên cứu kĩ hồ sơ cũng như kết luận điều tra
của cơ quan điều tra. Viện kiểm sát huyện X xét thấy quyết định đình chỉ điều tra của cơ quan điều tra
đối với B là trái với quy định của pháp luật, Viện kiểm sát huyện X có quyền hủy bỏ quyết định đình
chỉ điều tra của cơ quan điều tra. Việc làm trên nhằm đảm bảo khi ra bất cứ một quyết định tố tụng nào
trong giai đoạn truy tố các quyết định đó phải có căn cứ và hợp pháp tạo điều kiện cho Tòa án xét xử
cũng như hạn chế được việc sai lệch trong hoạt động truy tố xét xử. Mặt khác, trong trường hợp Viện
kiểm sát huyện X có đầy đủ căn cứ để truy tố B về tội phạm đã khởi tố, việc viện kiểm sát ra quyết
định truy tố B về tội cố ý gây thương tích là hoàn toàn có đúng với quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 164 luật Tố tụng Hình sự, kể từ khi Viện kiểm sát nhận được
quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra, trong thời hạn 15 ngày nếu thấy quyết định đình chỉ
điều tra là không có căn cứ thì Viện Kiểm sát có quyền hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và nếu thấy
đủ căn cứ để truy tố thì có quyền quyết định truy tố theo tội danh đã cấu thành. “Trong thời hạn mười
lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra, nếu thấy quyết
định đình chỉ điều tra có căn cứ thì Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra để giải
quyết theo thẩm quyền; nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra không có căn cứ thì huỷ bỏ quyết định
đình chỉ điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra; nếu thấy đủ căn cứ để truy tố thì huỷ
bỏ quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố. Thời hạn ra quyết định truy tố được thực hiện
theo quy định tại Điều 166 của Bộ luật này”.
Câu 4
Trường hợp viện kiểm sát huyện X ra quyết định truy tố B về tội cố ý gây thương tích theo
phải giải quyết như thế nào nếu thấy lý do của đại diện hợp pháp của người bị hại đưa ra là đúng. Theo
quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46 BLTTHS thì Hội thẩm phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay
đổi nếu: Thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 42 BLTTHS:
1. Họ đồng thời là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đên vụ án; là người đại diện hợp pháp, người thân thích của những người đó hoặc của bị
can, bị cáo
2. Họ tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên
dịch trong vụ án đó
3. Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.
Trong tình huống, đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị thay đổi 1 trong 2 Hội thẩm vì cho
rằng vị hội thẩm này có quan hệ than thích với người bào chữa của B. Theo quy định của Điều 42 thì
đây không phải là căn cứ để Hội thẩm nhân dân bị thay đổi hay phải từ chối tham gia tố tụng. Tuy
nhiên, nếu có căn cứ xác định việc vị Hội thẩm này có quan hệ với người bào chữa của B dẫn đến họ
có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ, yêu cầu của người đại diện hợp pháp của người bị hại là có
căn cứ đúng thì Hội đồng xét xử quyết định thay đổi vị Hội thẩm đó. Khi bắt đầu phiên tòa, đại diện
hợp pháp của người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử thay đổi 1 trong 2 Hội thẩm nên theo quy định tại
khoản 2 Điều 46 BLTTHS thì “Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa do Hội đồng xét xử
quyết định trước khi bắt đầu xét hỏi bằng cách biểu quyết tại phòng nghị án. Khi xem xét thành viên
nào thì thành viên đó được trình bày ý kiến của mình, Hội đồng quyết định theo đa số. Trong trường
Nhóm KT33C01-2 Page 5
Bài tập nhóm tháng 2 môn Luật TTHS 2011
hợp thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.
Việc cử thành viên mới của Hội đồng xét xử do Chánh án Tòa án quyết định”.
Như vậy, khi thấy lý do của đại diện người bị hại đưa ra để đề nghị thay đổi 1 trong 2 Hội thẩm
là đúng thì Hội đồng xét xử của Tòa án huyện X quyết định thay đổi vị hội thẩm trước khi bắt đầu xét
hỏi bằng cách biểu quyết tại phòng nghị án. Khi xem xét thành viên nào thì thành viên đó được trình
bày ý kiến của mình, Hội đồng xét xử huyện X quyết định theo đa số.
Vì quyết định thay đổi Hội thẩm tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử huyện X phải ra quyết định
hoãn phiên tòa. Chánh án Tòa án nhân dân huyện X quyết định việc cử Hội thẩm mới thay thế. Việc
thay thế Hội thẩm trong quá trình xét xử được quy định tại Điều 186 BLTTHS “ Trong quá trình xét
tố thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.”
Nhóm KT33C01-2 Page 6
Bài tập nhóm tháng 2 môn Luật TTHS 2011
Nếu sau khi Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung mà
có những căn cứ dẫn đến việc đình chỉ vụ án theo Điều 169 Bộ luật TTHS: “Viện kiểm sát ra quyết
định đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 và Điều 107 của Bộ
luật này hoặc Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 của Bộ luật hình sự” thì Viện kiểm sát ra quyết
định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án biết. Nếu Viện kiểm sát không bổ sung được chứng cứ
mà Tòa án yêu cầu bổ sung và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ
án.”
Câu 7
Tội phạm do một người thực hiện, cũng có thể do nhiều người thực hiện, khi tội phạm được thực
hiện bởi nhiều người và hành động có sự liên hệ mật thiết, tác động lẫn nhau thì trường hợp đó được
gọi là đồng phạm. Đồng phạm là hình thức phạm tội “đặc biệt”, đòi hỏi những điều kiện riêng, khác
với những trường hợp phạm tội riêng lẻ (về số lượng người tham gia phạm tội, mối liên hệ giữa các
đối tượng trong cùng vụ án cũng như tội phạm mà cả nhóm hướng tới thực hiện) …So với tội phạm do
một người thực hiện, đồng phạm thường nguy hiểm hơn vì khi một nhóm người cùng cố ý thực hiện
hành vi phạm tội, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội sẽ tăng lên đáng kể, nhất là khi có
sự câu kết chặt chẽ về tổ chức và cách thức thực hiện, phát triển thành “ phạm tội có tổ chức”, do đó
việc xác định trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm có những đặc thù riêng. Vì vậy,
trong vụ án trên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm nếu bị cáo khai thêm đồng phạm trong vụ án mà chưa
được khởi tố điều tra thì tức là mức độ và tính chất của vụ án đã có phần phức tạp hơn, từ đó khi xác
định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm cần tuân thủ nguyên tắc đặc thù các thể hóa
trách nhiệm hình sự, những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm độc lập về việc đã cùng thực hiện
tội phạm, và không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của những đồng phạm khác mà trước đó
không có bàn bạc thống nhất, đặc biệt những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, miễn trách nhiệm hình
sự … được áp dụng riêng với từng tội phạm.
Mặt khác, do nhiều nguyên nhân khác nhau trong có trình điều tra hoặc do bản thân bị can không
thật thà khai báo trung thực tình tiết vụ án … nên dẫn đến việc điều tra chưa đầy đủ vì vậy có thể gây
ảnh hưởng tới kết quả kết luận vụ án trước khi gửi lên VKS. Tuy nhiên, kết luận của cơ quan điều tra
lại hồ sơ cho VKS điều tra bổ sung.
Câu 8
Theo khoản 1 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự:“1. Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho Viện
kiểm sát để điều tra bổ sung trong những trường hợp sau đây:
a. khi cần xem xét thêm những chững cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên
tòa được;
b. Khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác
c. Khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.”
Ở đây chúng ta cần phải làm rõ cụm từ “tội khác” trong điểm a khoản 1 Điều này. Hiện nay thì
chưa có bất kì một văn bản pháp luật nào định nghĩa cụm từ này nhưng theo cách hiểu của nhóm em
thì “tội khác” ở đây được hiểu là tội danh mà viện kiểm sát không truy tố hoặc tội danh nặng hơn tội
danh mà viện kiểm sát truy tố.
Trong trường hợp này, viện kiểm sát chỉ truy tố B theo tội danh cố ý gây thương tích được quy
định tại Điều 104 BLHS. Tuy nhiên, trong phiên tòa xét xử lại có những căn cứ cho rằng B cùng C
trộm cắp tài sản của người khác nên B có khả năng còn phạm vào tội danh trộm cắp tài sản quy định
tại Điều 138 BLHS – điều này có nghĩa là có căn cứ cho rằng bị cáo đã phạm một tội khác mà viện
kiểm sát không truy tố được quy định trong điểm b khoản 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng hình sự. Vì vậy
trong trường hợp này, có thể khẳng định thẩm phán xét xử tại phiên tòa sơ thẩm sẽ ra quyết định trả
hồ sơ cho viện kiểm sát để điều tra bổ sung.
Cũng theo khoản 2 Điều 179 BLTTHS thì nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới việc đình chỉ vụ
án thì Viện kiểm sát sẽ ra quyết định đình chỉ vụ án và thông bác cho Tòa biết; Trong trường hợp Viện
kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu bổ sung và vẫn giữ nguyên quyết định
truy tố thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo nguyên cáo trạng của Viện kiểm sát.
Câu 9
Nhóm KT33C01-2 Page 8
Bài tập nhóm tháng 2 môn Luật TTHS 2011
Theo đề bài, trong thời hạn luật định chỉ có B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Khi tranh luận
tại phiên toà, B rút toàn bộ kháng cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại yêu cầu tăng bồi thường
thiệt hại. Điều đó có nghĩa là trong thời gian kháng cáo, kháng nghị chỉ có B là người xin kháng cáo
giảm nhẹ hình phạt.
đồng xét xử chấp nhận vì trong trường hợp này đã hết thời hạn theo quy định của pháp luật.
Trường hợp thứ hai, kháng cáo được chấp nhận khi việc kháng cáo quá hạn mà có lý do
chính đáng. Khi đó Hội đồng xét xử sẽ ra quyết định chấp nhận kháng cáo quá hạn (Điều 235 Bộ luật
tố tụng hình sự). Lý do chính đáng là lý do khiến cho người kháng cáo không thể thực hiện được
quyền của mình trong thời hạn luật định như: bệnh tật, tai nạn, đi công tác xa… Khi kháng cáo quá hạn
người kháng cáo phải nêu rõ lý do và ngay sau khi hết cản trở phải làm đơn kháng cáo ngay. Tòa án đã
Nhóm KT33C01-2 Page 9
Bài tập nhóm tháng 2 môn Luật TTHS 2011
xử sơ thẩm xác minh lý do chính đáng của kháng cáo quá hạn đó. Tòa án cấp phúc thẩm xét và quyết
định chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn kháng cáo quá hạn với thành phần hội đồng xét xử gồm ba
thẩm phán. Viện kiểm sát cùng cấp được thông báo để có thể tha gia việc xét đơn kháng cáo quá hạn
đó.
Câu 10
Giám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng bị kháng nghị,
vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án. Theo tính chất như vậy thì việc
giám đốc thẩm lại một bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật sẽ cần một cơ quan có thẩm quyền
cao hơn thẩm quyền của cơ quan đã ra bản án hay quyết định đó để có thể xét lại bản án hay quyết
định.
Theo Điều 273 Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định về căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám
đốc thẩm: “Bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm, khi có một trong những căn cứ sau đây:
1. Việc điều tra xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ;
2. Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ
án;
3. Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử;
4. Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật hình sự”.
Đối với trường hợp bản án phúc thẩm của TAND tỉnh thì chỉ có Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao mới có quyền kháng nghị giám đốc thẩm (theo quy
định tại khoản 1 Điều 275 Bộ luật tố tụng hình sự).
Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm được quy định tại Điều 278 Bộ luật tố tụng hình sự, theo đó,