BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT TRONG QUẢN LÝ CÔNG - Pdf 33

1. Những giá trị chính trị- pháp lý của việc xã hội tham gia QLHCNN
Theo từ điển Wikipedia thuật ngữ xã hội được hiểu là “một tập thể hay một
nhóm những người được phân biệt với các nhóm người khác bằng các lợi ích,
mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một thể chế và có cùng văn hóa”.
Trong phạm vi bài viết này, nhóm chỉ xin đề cập đến xã hội theo nghĩa hẹp,
nghĩa là chỉ đề cập chủ yếu đến giá trị chính trị - pháp lý của các tổ chức xã hội
trong việc quản lý hành chính nhà nước (QLHCNN).
Theo cách hiểu ấy, việc quản lý hành chính nhà nước được tiến hành không
chỉ bởi các cơ quan nhà nước mà còn được hình thành bởi các tổ chức xã hội và
cá nhân. Là một bộ phận của hệ thống chính trị, tổ chức xã hội đã góp phần to
lớn vào công cuộc xây dựng đất nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao
động. Các tổ chức xã hội rất đa dạng về hình thức, tên gọi, chủng loại như: Đảng
cộng sản Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn
Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Trọng tài kinh tế, Hội nhà
báo, Hội nhà văn, Hội luật gia…
Trong đời sống xã hội, các tổ chức xã hội là chỗ dựa của nhà nước nhằm
tuyên truyền, giáo dục quần chúng thực hiện các nhiệm vụ quản lý.
Tổ chức XH là một tổ chức nhân dân hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự
nguyện, tự quản của các thành viên nhằm thỏa mãn những lợi ích và nguyện
vọng của nhân dân lao động, thu hút họ vào quản lý các công việc của Nhà nước
và xã hội.
Các tổ chức xã hội là những bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị ở
nước ta được hình thành trên cơ sở tự nguyện và tự quản của những thành viên
tham gia nhằm đáp ứng những lợi ích đa dạng của nhân dân lao động, thu hút
đông đảo quần chúng vào quản lý các công việc của Nhà nước và xã hội, nâng
cao tính tích cực chính trị của mỗi cá nhân.
Cùng với quá trình hoàn thiện hệ thống chính trị, vai trò của các tổ chức
ngày càng được nâng cao, phát triển về mặt số lượng các hiệp hội, đoàn thể trên
cơ sở nghề nghiệp hoặc sở thích, phát triển về chất lượng trong đời sống xã hội,
đời sống nhà nước.
1

Đảng không can thiệp trực tiếp vào công việc nhà nước mà định ra phương
hướng hoạt động và kiểm tra việc thực hiện đường lối của mình trong bộ máy
2


nhà nước. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp
luật.
b) Các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
Công đoàn; Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Hội Liên hiệp Phụ nữ
Việt Nam; Hội Nông dân Việt Nam; Hội Cựu chiến binh. Những tổ chức này có
cơ cấu tổ chức hoàn thiện và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị,
ảnh hưởng của chúng trong việc ra quyết định quản lý, ban hành đường lối, chủ
trương của Nhà nước cũng lớn hơn so với những hội quần chúng ở phạm vi địa
phương.
Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người
lao động cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và
bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động
khác; tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt
động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế; giáo dục cán bộ, công chức, viên
chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngoài ra,
công đoàn có trách nhiệm tham gia với Nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết
việc làm, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động; thực hiện
chức năng giáo dục, động viên người lao động thực hiện nghĩa vụ công dân,
kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong việc tuân thủ
pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội. Công đoàn là chỗ dựa quan trọng của Nhà
nước. Các tổ chức công đoàn được thành lập ở mọi cơ quan, tổ chức nhà nước,
đơn vị kinh tế, kể cả tổ chức kinh tế của tư nhân, nhằm bảo vệ lợi ích người lao
động trên cơ sở của pháp luật, đường lối chính sách của Đảng.
Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội của
thanh niên có nhiệm vụ thu hút thế hệ trẻ vào những hoạt động xã hội bổ ích,

nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu sản
xuất. Đó là các hợp tác xã nông, lâm, ngư nghiệp.
Địa vị pháp lý của các tổ chức xã hội được quy định trong Hiến pháp, các
luật, những văn bản dưới luật. Những vấn đề cơ bản được pháp luật điều chỉnh
gồm lập hội, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, giữa các tổ chức xã hội và
Nhà nước, trình tự giải thể hoạt động của các tổ chức xã hội, các hình thức khen
thưởng…Nhưng pháp luật không điều chỉnh mọi hoạt động của tổ chức xã hội.
Việc lập hội được tiến hành theo trình tự:
4


- Những hội quần chúng hoạt động trên phạm vi cả nước phải được Thủ
tướng Chính phủ cấp phép.
- Những hội quần chúng hoạt động ở tỉnh, thành phố và cấp tương đương
do Chủ tịch tỉnh, thành phố và cấp tương đương cấp giấy phép và phải được báo
cho Thủ tướng Chính phủ biết.
- Những tổ chức quần chúng hoạt động có tính chất tương thế, phúc lợi ở
xã, phường, thôn, ấp như hội bảo thọ, hội bảo trợ học đường do Chủ tịch UBND
xã, phường cho phép, nhưng phải báo cáo cho chủ tịch huyện, quận biết.
Các tổ chức xã hội tự thảo và quyết định điều lệ hoạt động của mình. Song
khi đăng ký lập hội phải báo cáo điều lệ với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền xét và cho phép hoạt động. Nếu sửa lại điều lệ cũng phải báo cáo cơ quan
nhà nước đã cho phép thành lập. Nguyên tắc này áp dụng đối với các tổ chức
quần chúng theo tính chất nghề nghiệp, không áp dụng đối với tổ chức xã hội là
thành viên của UB mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Những hoạt động tổ chức nội bộ như bầu cử ban lãnh đạo, chi phí tài chính,
phát động các phong trào thi đua, sắp xếp cơ cấu do các tổ chức xã hội quyết
định theo quy định của điều lệ hoặc quyết định của Đại hội đại biểu.
Các tổ chức xã hội có thể chấm dứt hoạt động khi có các cơ sở sau:
Thứ nhất: Đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử và tuyên bố tự giải thể. Pháp luật

hạn ở việc quy định các quyền, nghĩa vụ mà còn tạo điều kiện cho các tổ chức
xã hội phát huy được tính tích cực chính trị tham gia vào mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội.
Nhà nước quy định trách nhiệm của các CQNN, người có chức vụ (trách
nhiệm kỷ luật, hành chính, hình vụ) nếu có những biện pháp, hành vi cản trở các
tổ chức xã hội và nhân viên các tổ chức đó thực hiện nhiệm vụ theo điều lệ của
họ.
Đối với những hội quần chúng ở các địa phương, các CQNN có nhiệm vụ
tạo điều kiện để các hội đó nắm được chủ trương, chính sách, pháp luật của NN
phối hợp với hội động viên các hội viên hăng hái thực hiện chủ trương, chính
sách, pháp luật và thu thập ý kiến hội đóng góp với CQNN trong quá trình xây
dựng và thực hiện chính sách, nhiệm vụ công tác của ngành và địa phương.
Vai trò của các tổ chức xã hội trong quản lý công thể hiện:
- Tham gia vào tổ chức BMNN;
6


- Xây dựng, ban hành pháp luật;
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật.
*Mối quan hệ giữa các tổ chức xã hội và các cơ quan nhà nước:
Đặc trưng cơ bản của mối quan hệ giữa các tổ chức xã hội và các cơ quan
nhà nước là sự hợp tác. Điều này xuất phát từ sự thống nhất về mục đích của các
tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội, nâng
cao tính tích cực xã hội của công dân, bảo vệ các quyền, tự do cơ bản của công
dân, lợi ích của Nhà nước, xã hội.
a. Sự hợp tác phát sinh trong quá trình thiết lập các cơ quan, tổ chức NN
Đảng Cộng sản Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc đề cử các
đảng viên ưu tú vào các chức vụ quan trọng của bộ máy nhà nước.
Các tổ chức chính trị - xã hội như Công đoàn, Đoàn thanh niên cũng có
quyền giới thiệu thành viên của mình ứng cử các chức vụ trong bộ máy nhà

hội để thảo luận và tìm ra các biện pháp tối ưu trong việc giải quyết các nhiệm
vụ quản lý cũng như thi hành pháp luật. Các tổ chức chính trị - xã hội như Công
đoàn và Đoàn thanh niên đóng vai trò to lớn trong việc phát động các phong trào
quần chúng, tuyên truyền trong nội bộ tổ chức đường lối, pháp luật của Nhà
nước và thực hiện các biện pháp nhằm thiết lập trật tự kỷ luật. Trong các bộ,
ngành luôn luôn có sự hợp tác thường xuyên giữa thủ trưởng đơn vị với lãnh đạo
các tổ chức xã hội để tìm ra các biện pháp thực hiện tốt các quyết định quản lý,
pháp luật của Nhà nước. Các tổ chức chính trị - xã hội trong Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam được tham dự các kỳ họp của Chính phủ khi cần thiết.
d. Quan hệ kiểm tra lẫn nhau
Mối quan hệ này thể hiện ở hai chiều:
- Các tổ chức xã hội kiểm tra hoạt động của các cơ quan nhà nước;
- Các cơ quan nhà nước kiểm tra tính hợp pháp trong việc thành lập, hoạt
động của các tổ chức xã hội.
Trong các quan hệ kiểm tra, các cơ quan Đảng có vai trò quan trọng trong
kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng trong hoạt
động của các cơ quan Nhà nước, cũng như kiểm tra các đảng viên làm việc trong
các cơ quan đó.

8


Vai trò của Công đoàn trong việc giám sát hoạt động của các cơ quan nhà
nước được thể hiện trong các lĩnh vực bảo hiểm lao động, bảo vệ các quyền lao
động của công nhân, cán bộ, công chức, tính hợp pháp trong việc xử lý kỷ luật
công nhân, cán bộ, công chức, phân phối quỹ phúc lợi. Đặc biệt, các tổ chức
công đoàn có quyền yêu cầu những cơ quan nhà nước và người có chức vụ tạm
ngừng những hoạt động không an toàn lao động nếu trong quá trình kiểm tra xét
thấy nguy hiểm cho tính mạng người lao động.
Các tổ chức xã hội khác cũng thực hiện kiểm tra hoạt động của các cơ quan

Nam và các tổ chức đó.
Như vậy, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước với các tổ chức xã hội rất
đa dạng, phong phú. Phát huy tốt các mối quan hệ giữa chúng sẽ tạo ra động lực
thúc đẩy quá trình dân chủ xã hội, dân chủ hoá trong quản lý HCNN.
2. Những giá trị chính trị- pháp lý của việc công dân tham gia vào
QLHCNN
Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch
Việt Nam.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do
dân và vì dân. Do đó, chỉ khi nào người dân thực sự đóng vai trò quan trọng
trong quá trình hoạt động quản lý của Nhà nước thì việc xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền mới thực sự thành công.
Giá trị chính trị của việc xã hội và công dân tham gia vào hoạt động quản
lý hành chính nhà nước.
2.1. Những giá trị chính trị
Theo Hiến pháp năm 1992, công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước
và xã hội (Điều 53). Quy định này chưa được ghi nhận trong Hiến pháp năm
1946 và Hiến pháp năm 1959. Điều đó không có nghĩa là trước đây công dân
không có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Việc quy định quyền này
trong Hiến pháp là sự thừa nhận về mặt nhà nước tầm quan trọng của nó trong
đời sống chính trị của công dân, là cơ sở pháp lý cho sự phát triển quyền đó
trong các lĩnh vực QLHCNN khác nhau, nhằm nâng cao tính tính cực chính trị
của mỗi công dân.
Quy định này được cụ thể hoá ngay trong Hiến pháp 1992 tại Điều 54:
Công dân, không phân biệt dân tộc... thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên
10


đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào
Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp... Thông qua việc bầu cử, và có thể được


Ở Việt Nam, quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến
pháp và các văn bản pháp luật khác chứa đựng những QPPL hành chính tương
ứng. Nhà nước một mặt quy định đầy đủ các quyền và nghĩa vụ cho công dân,
mặt khác tăng cường tạo ra những điều kiện cần thiết để công dân thực hiện tốt
các quyền và nghĩa vụ đó. Công dân sử dụng các quyền và nghĩa vụ của mình
khi tham gia vào các quan hệ pháp luật cụ thể trong đó có các quan hệ pháp luật
hành chính.
Quyền, tự do và nghĩa vụ của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp, các
đạo luật và cả những văn bản dưới luật.
Thông thường, các quyền, tự do, nghĩa vụ của công dân trong quản lý hành
chính nhà nước được phân thành ba nhóm:
- Các quyền, tự do, nghĩa vụ trong lĩnh vực hành chính - chính trị;
- Các quyền, tự do, nghĩa vụ trong lĩnh vực kinh tế, văn hoá - xã hội;
- Các quyền, tự do cá nhân.
Ngoài ra, điều 49 - Hiến pháp 1992 ghi nhận: Công dân nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Như vậy, mối liên hệ
pháp lý của một người đối với một nhà nước xuất hiện từ khi người đó sinh ra và
kết thúc khi người đó chết đi.
Cũng như các quan hệ pháp luật hành chính khác, cơ sở phát sinh, thay đổi
và chấm dứt QHPL HC đối với của một bên chủ thể là công dân đòi hỏi phải có
3 yếu tố:
1. QPPL hành chính;
2. Sự kiện pháp lý hành chính;
3. Năng lực chủ thể hành chính bao gồm năng lực pháp luật và năng lực
hành vi hành chính.
* Ðặc điểm:
- Mọi công dân Việt Nam được hưởng đầy đủ các quyền về tự do cá nhân
về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội.
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status