TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
MÔN NHÂN HỌC Y TẾ & XÃ HỘI HỌC SỨC KHỎE
BÀI TẬP NHÓM MÔN NHÂN HỌC Y TẾ
& XÃ HỘI HỌC SỨC KHỎE
Vấn đề: Lạm dụng rượu bia ở Việt Nam
Nhóm 2 – Lớp K10C
1.
2.
3.
4.
5.
Trần Thị Vân Anh
Nguyễn Thùy Dương
Phạm Thị Hoa
Phạm Thị Hương
Nguyễn Thị Minh Khai
6. Nguyễn Như Nga
7. Phạm Mai Phương
8. Phan Hà Thu
9. Trần Thị Hồng Vân
Hà Nội, 11/2012
MỤC LỤC
I.
4. Cấp độ văn hóa................................................................................10
Các giải pháp làm giảm tình trạng lạm dụng rượu bia.........................11
3
Nhóm 2 – K10C
Lạm dụng rượu bia
I.Thực trạng lạm dụng rượu bia ở Việt Nam
Sử dụng rượu bia là một thói quen mang đậm nét văn hoá truyền thống tại nhiều quốc gia
trong đó có Việt Nam. Sử dụng rượu bia với mức độ hợp lý có thể đem lại cho con người cảm
giác hưng phấn, khoan khoái, lưu thông huyết mạch… Song rượu bia lại là chất kích thích, gây
nghiện vì vậy người sử dụng rất dễ bị lệ thuộc với mức độ dung nạp ngày càng nhiều dẫn đến
tình trạng lạm dụng rượu bia. Lạm dụng rượu bia gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sức
khoẻ cộng đồng và xã hội.
Thế nào là lạm dụng rượu bia: Theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), bị coi
là lạm dụng rượu bia khi sử dụng ở mức: đối với nam giới, uống hơn 3 lon/ly bia (330ml) nồng
độ 5%/ngày hoặc hơn 3 chén rượu (30ml) nồng độ từ 30 độ trở lên/ngày; đối với nữ giới, uống
hơn hai lon bia/ngày và hơn 2 chén rượu/ngày.
Ở nước ta, quá trình đổi mới và phát triển nền kinh tế trong những năm qua đã giúp cho
đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. Xu hướng sử dụng rượu bia trong sinh hoạt hàng
ngày, trong những dịp lễ, hội, trong quan hệ công việc… đang ngày càng gia tăng. Tại hội thảo
“Chia sẻ kinh nghiệm xây dựng chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của sử dụng rượu
bia” do Bộ Y tế tổ chức tại Hà Nội trong 2 ngày 18 - 19/3/2009, theo thống kê của Viện Chiến
lược và chính sách y tế (Bộ Y tế), năm 2006, tại Việt Nam, tỉ lệ người có sử dụng rượu bia chiếm
33,5%, trong đó số người lạm dụng rượu (theo tiêu chuẩn của WHO) lên tới 18%, lạm dụng bia
là 5% ,và đang có xu hướng tăng lên trong những năm tiếp theo. Đại bộ phận những người sử
dụng ruợu thường uống rượu nấu thủ công: 95,7%. Đa số những người sử dụng bia thường uống
bia nhà máy: 87,9%. Trong số này bia TW chỉ chiếm > 40% còn lại là bia địa phương. Địa điểm
bia còn dễ mắc các bệnh như: Gan, dạ dày, đại tràng... tạo ra gánh nặng y tế và sức khỏe của mỗi
gia đình, cộng đồng.
Tình trạng lạm dụng rượu bia đang là một vấn đề đáng báo động ở Việt Nam cần phải có
các biện pháp hạn chế kịp thời để giảm tỷ lệ người lạm dụng rượu bia và mức tiêu thụ rượu bia ở
Việt Nam.
II. Tình hình lạm dụng rượu bia giữa các nhóm xã hội khác nhau
Năm 2006, được sự uỷ quyền của Dự án thành phần Chính sách Y tế; Viện Chiến
lược và Chính sách Y tế, Bộ Y tế đã tiến hành nghiên cứu đánh giá về “Tình hình lạm dụng
rượu bia tại Việt Nam”, cuộc điều tra đã chỉ ra rằng:
Tỉ lệ sử dụng và lạm dụng rượu bia có sự khác nhau rõ nét giữa các nhóm dân cư, nhóm
dân tộc, theo giới, theo tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp.
5
Nhóm 2 – K10C
-
Lạm dụng rượu bia
Giới:
• Năm 2006,tỉ lệ sử dụng rượu trong nhóm nam là 64%, nhóm nữ là 1%. Theo một
nghiên cứu khác năm 2012: 59,1% nam và 12,8% nữ đã sử dụng rượu bia.
Biểu đồ: Tỉ lệ sử dụng rượu trong nhóm nam và nữ năm 2006 và năm 2012 (%)
•
Cuộc Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY) do Tổng
cục Thống kê và Bộ Y tế phối hợp với một số tổ chức quốc tế thực hiện năm 2003
6
Nhóm 2 – K10C
Lạm dụng rượu bia
học vấn trên đại học thì gần 4 người sử dụng rượu bia. Trong khi đó, ở những người có
trình độ tiểu học và trung học, tỉ lệ sử dụng đồ uống có cồn chỉ là 1 phần 3 hay 1 phần
4.
-
Nghề nghiệp:
• Theo kết quả điều tra của Vụ các vấn đề xã hội- Văn phòng quốc hội (2008) có 50%
nông dân, 25% người thất nghiệp và 20% người làm trong ngành dịch vụ có sử dụng
•
rượu
Nông dân xếp hàng đầu trong mọi ngành nghề về lạm dụng rượu 28%. Tình trạng này
cũng khá nặng nề ở những người làm trong doanh nghiệp 26% và lao động tự do là
21%, cán bộ nhà nước chiếm 17%. Số này cao hơn các nhóm thất nghiệp, buôn bán
nhỏ.
-
Dân tộc:
• Người dân tộc thiểu số tuy không nhỉnh hơn người Kinh về tỷ lệ uống rượu nhưng mức
lạm dụng lại cao gấp đôi; cứ 3 người uống thì 2 người lạm dụng.
bar….) => nam giới sẽ dễ dàng tiếp cận hơn với các dịch vụ rượu bia.
Quan niệm “Nam vô tửu như kì vô phong”, nam giới uống rượu để chứng tỏ bản lĩnh
•
•
đàn ông, thể hiện phong độ.
Nữ giới nếu uống rượu thì sẽ bị cho là ăn chơi, hư hỏng.
Nam giới thường có một nhóm bạn. Nếu nam giới nào không biết uống rượu/bia sẽ bị
bạn bè cười chê, cho rằng kém cỏi, thiếu bản lĩnh.
Nhóm tuổi: Tỉ lệ sử dụng rượu bia tăng theo độ tuổi. Tuổi sử dụng rượu bia ở nước ta
đang có xu hướng trẻ hóa.
• Ở lứa tuổi 14-25 việc sử dụng rượu bia chủ yếu do bạn bè rủ rê, tụ tập uống rượu bia.
• Ở những độ tuổi lớn hơn, khi điều kiện kinh tế đã tự chủ, công ăn việc làm ổn định,
chịu sự ảnh hưởng của môi trường làm việc thì việc sử dụng hay lạm dụng rượu bia
-
cũng tăng theo.
Nhóm dân cư: Hành vi uống rượu, bia phổ biến hơn ở thành thị so với nông thôn.
• Những người sống ở thành thị dễ tiếp cận hơn với thị trường rượu bia phong phú còn
•
-
những người sống ở nông thôn chủ yếu sử dụng các nguồn rượu bia giá rẻ, tự nấu.
Mức sống của người sống ở thành thị thường cao hơn so với ở nông thôn => có điều
• Người dân tộc thiểu số chưa tiếp cận được với các quy định của nhà nước.
• Uống rượu là văn hóa truyền thông của đồng bào dân tộc thiểu số, thể hiện sự tôn trọng,
•
mến khách; là phương tiện để giao tiếp với mọi người trong cộng đồng.
Ở một số dân tộc thì uống rượu là quy định trong gia đình.
IV.Xây dựng mô hình các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến vấn đề lạm dụng rượu bia ở
Việt Nam
Mô hình các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến việc lạm dụng rượu bia
9
Nhóm 2 – K10C
Lạm dụng rượu bia
1. Cấp độ cá nhân
- Lối sống:
• Thói quen ăn nhậu của nam giới sau giờ làm.
• Thói quen uống rượu bia mỗi khi tụ tập bạn bè, khi buồn chán hay vui mừng.
2. Cấp độ nhóm xã hội
- Giới: Nam giới thường sử dụng và lạm dụng rượu bia nhiều hơn nữ giới.
- Dân tộc: Nhóm dân tộc thiểu số là những người sử dụng và lạm dụng rượu bia nhiều hơn
-
nhóm dân tộc Kinh/Hoa.
Nhóm dân cư: Những người sống ở thành thị có tỉ lệ sử dụng rượu bia cao hơn những
• Những hình ảnh quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi rượu bia xuất hiện trên các phương
•
-
-
-
tiện thông tin đại chúng => người dân dễ tiếp cận hơn với rượu bia.
Mô tả hình ảnh tiêu cực, tác hại của rượu bia khi tham gia giao thông; hậu quả của ngộ
độc rượu trên tờ rơi, áp phích, khẩu hiệu
Nhà nước:
• Ban hành các quy định quản lý, kiểm soát quy trình xuất sản xuất, lưu thông rượu bia.
• Đưa ra những chế tài nghiêm để xử lý và kiểm soát tình hình sản xuất, lưu thông,
quảng bá và sử dụng rượu, bia trái quy định.
Y tế công cộng:
• Thực hiện các chương trình giảm hại đối với các nhóm nguy cơ: truyền thông tuyên
truyền tác hại của bia rượu; xây dựng các chính sách phòng chống tác hại của rượu bia.
An sinh xã hội: Nhà nước quy định: những trường hợp tai nạn giao thông do sử dụng rượu
bia sẽ không được hưởng chế độ bảo hiểm y tế.
Tôn giáo: Một số tôn giáo nghiêm cấm việc uống rượu: Hồi giáo, Ấn độ giáo…
Giáo dục:
• Nhà trường đã đưa ra các quy định cấm học sinh, sinh viên sử dụng rượu bia trong
10
Nhóm 2 – K10C
Sử dụng rượu, bia để đáp ứng các nhu cầu giao tiếp như: tiếp khách (“khách đến nhà
không trà thì rượu”); kết bạn (“rượu ngon phải có bạn hiền”); thổ lộ tình cảm (rượu
-
-
•
vào, lời ra).
Rượu cũng là một biểu trưng văn hóa trong cộng đồng, tập quán truyền thống: hội hè,
•
ma chay, cưới hỏi. “Phi tửu bất thành lễ”.
Uống rượu được coi là việc làm thể hiện sự thân thiện, vui vẻ, hòa hợp với mọi người
xung quanh.
Niềm tin:.
• Quan niệm “Nam vô tửu như kì vô phong”, làm trai phải biết uống rượu mới thể hiện
•
được vẻ nam tính, bản lĩnh, phong độ.
Nữ giới được cho là phái yếu, phải tỏ ra nữ tính, nếu uống rượu bia sẽ bị cho là ăn
•
chơi,hư hỏng.
Nhiều người nghiện rượu cho rằng rượu được làm từ gạo nên uống rượu cũng giống
đại chúng.
Tuyên truyền, tập huấn cho người dân về các biện pháp phòng chống ngộ độc thực phẩm
-
do rượu.
Phát động phong trào toàn dân hưởng ứng phòng chống lạm dụng rượu bia với các hoạt
-
động cụ thể lồng ghép trong các tiêu chí Làng văn hoá, cơ quan văn hoá…
Đẩy mạnh các chương trình truyền thông thay đổi hành vi về phòng chống rượu bia trong
các trường trung học và các cấp cao hơn.
3. Cấp độ vĩ mô
- Quản lý, kiểm soát đối với việc xuất nhập khẩu rượu bia; sản xuất và lưu thông mặt hàng
-
rượu nấu thủ công.
Kiểm soát chặt chẽ việc quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại và tài trợ đối với các loại rượu bia.
Xây dựng các chính sách nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện cho nạn nhân lạm dụng rượu bia dễ
-
dàng tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ.
Đẩy mạnh việc thực hiện các quy định và chính sách hiện hành liên quan đến việc hạn chế
-
sử dụng rượu bia trong khi điều khiển phương tiện giao thông.