TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ
000
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
ĐÁP ỨNG NHU CẦU GIÁO DỤC MẦM NON TRÊN ĐỊA
BÀN HÀ NỘI- THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Giáo viên hướng dẫn: ThS. Ninh Thị Hoàng Lan
Nhóm thực hiện: Lê Thị Tú Linh- 45F3
Nguyễn Thị Hoa- 45F3
Nguyễn Thành Công- 45F3
Hà Nội- 2012
Trước tiên, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu Trường
Đại
học Thương Mại và các thầy cô trong trường nói chung và thầy cô bộ môn Kinh
tế Vi mô- khoa Kinh tế nói riêng, những người đã dạy dỗ và giúp đỡ chúng em
trong thời gian làm đề tài nghiên cứu khoa học. Đăc biệt chúng em xin gửi lời
cảm
ơn chân thành tới ThS. Ninh Thị Hoàng Lan đã tận tình hướng dẫn và góp ý
cho
chúng tôi trong suốt quá trình làm đề tài nghiên cứu này.
Chúng em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong Bộ Giáo
Dục- Đào Tạo cũng như Ban Quản Lý Thư viện Quốc Gia những người đã
nhiệt
tình giúp đỡ chúng em trong quá trình thu thập thông tin cũng như các số liệu
liên
quan đến đề tài nghiên cứu.
Tuy nhiên dù đã cố gắng hết sức nhưng đề tài của chúng em cũng không thể
tránh khỏi những sai sót trong quá trình làm bài, rất mong được thầy cô và các
bạn giúp đỡ và đóng góp ý kiến để chúng em tiếp thu được vốn kiến thức và
kinh
Chúng em xin chân thành cảm ơn
nhiều ở tất cả các tỉnh thành trên cả nước đặc biệt ở Hà Nội- nơi có dân số đông
thứ 2 cả nước, mức sống của người dân khá cao chính vì thế mà nhu cầu chọn
trường mầm non chất lượng tốt để tạo bước khởi đầu tất đẹp cho con cái của họ.
Đáp ứng được 1 phần nhu cầu về số lượng nhưng liệu chất lượng giáo dục có được
đảm bảo và giá thành đã là hợp lý
Bên cạnh những gì đã làm được thì vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định,
giáo dục mầm non vẫn chưa thực sự được đặt đúng vị trí trong tổng thể chính sách
phát triển giáo dục. Những khó khăn đã tồn tại trong nhiều năm gần đây mà không
có sự cải thiện. Dân số thì vẫn tiếp tục gia tăng, nhu cầu học tập ngày càng cao.
Học tập tốt trong môi trường tốt có đảm bảo có uy tín và yếu tố “ chi phí” cũng
quan trọng, đó là một trong những chỉ tiêu mà người tiêu dùng đặt ra. Trong khi đó
lượng trường, cơ sở “mầm non công” còn nhiều vấn đề nan giải và ngày càng trở
thành vấn đề bức xúc hiện nay. Chính vì thế nhóm chúng tôi lựa chon đề tài “Đáp
ứng nhu cầu giáo dục mầm non trên địa bàn Hà Nội- thực trạng và giải pháp”
để đưa ra cùng bàn luận và nghiên cứu.
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu trong đề tài
Cũng đã có rất nhiều bài nghiên cứu về giáo dục mầm non nói riêng và giáo
dục nói chung- thực trạng và giải pháp, những bài nghiên cứu của Bộ Giáo Dục-
Đào Tạo trong thời gian qua. Ví dụ như:
Đề tài :“ Những yêu cầu đổi mới trong quản lý giáo dục mầm non”- Lê Thị
Ánh Tuyết- tạp chí giáo dục mầm non 2/1999
Đề tài: “ Những bài viết về giáo dục” – Nguyễn Văn Huyên – 1990
Đề tài: “ Giáo dục học một số lý luận và thực tiễn”- Gs. Hà Thế Ngữ- viện
khoa học giáo dục – năm 2001
Đối với giáo dục mầm non Hà Nội đã có đè tài nghiên cứu của Tiến sĩ Giáo
dục học Dương Thị Thanh Huyền “ Xã hội hóa giáo dục mầm non và những biện
pháp trên địa bàn Hà Nội”
Đối với vấn đề thực trạng nghiên cứu giáo dục mầm non công thì chưa có công
trình nghiên cứu nào một cách triệt để trên phạm vi cả nước cũng như tại thành phố
Hà Nội.
và không thể loại trừ. Đối lập với hàng hóa công cộng là hàng hóa tư nhân không
mang hai tính chất trên. Ngay trong tên gọi đã thể hiện được rằng đó là những loại
hàng hóa mà ai trong xã hội cũng có thể sử dụng.
• Không thể loại trừ: tính chất không thể loại trừ cũng được hiểu trên giác độ tiêu
dùng, hàng hóa công cộng một khi đã cung cấp tại một địa phương nhất định thì
không thể hoặc rất tốn kém nếu muốn loại trừ những cá nhân không trả tiền cho
việc sử dụng hàng hóa của mình. Ví dụ: quốc phòng là một hàng hóa công cộng
nhưng quân đội không thể chỉ bảo vệ những người trả tiền còn không bảo vệ những
ai không làm việc đó. Đối lập với hàng hóa công cộng, hàng hóa cá nhân có thể
loại trừ một cách dễ dàng, ví dụ: bảo vệ rạp hát sẽ ngăn cản những người không có
vé vào xem.
• Không cạnh tranh: tính chất không cạnh tranh được hiểu trên góc độ tiêu dùng,
việc một cá nhân này đang sử dụng hàng hóa đó không ngăn cản những người khác
đồng thời cũng sử dụng nó. Ví dụ pháo hoa khi bắn lên thì tất cả mọi người đều có
thể được hưởng giá trị sử dụng của nó. Điều này ngược lại hoàn toàn so với hàng
hóa cá nhân: chẳng hạn một con gà nếu ai đó đã mua thì người khác không thể tiêu
dùng con gà ấy được nữa. Chính vì tính chất này mà người ta cũng không mong
muốn loại trừ bất kỳ cá nhân nào trong việc tiêu dùng hàng hóa công cộng.
Trong thực tế, có một số hàng hóa công cộng có đầy đủ hai tính chất nêu
trên như quốc phòng, ngoại giao, đèn biển, phát thanh Các hàng hóa đó có chi
phí biên để phục vụ thêm một người sử dụng bằng 0, ví dụ đài phát thanh một khi
đã xây dựng xong thì nó ngay lập tức có thể phục vụ tất cả mọi người, kể cả dân
số luôn tăng. Những loại hàng hóa công cộng mà mang đủ 2 tính chất trên được
gọi là hàng hóa công cộng thuần túy
Hàng hóa công cộng không có đầy đủ 2 tính chất trên hay nó không thể
hiện được một cách rõ nét 2 tĩnh chất đó được gọi là hàng hóa công cộng không
thuần túy ví dụ như: đường giao thông, nếu có quá đông người sử dụng thì đường
sẽ bị tắc nghẽn và do đó những người tiêu dùng trước đã làm ảnh hưởng đến khả
năng tiêu dùng của những người tiêu dùng sau. Đó là những hàng hóa công cộng
có thể tắc nghẽn. Một số hàng hóa công cộng mà lợi ích của nó có thể định giá thì
cầu của mỗi cá nhân về hàng hóa công cộng cũng chính là tỷ suất thay thế biên nên
đường cầu tổng hợp của tất cả các cá nhân là tổng tỷ suất thay thế biên. Mặt khác
đường cung về hàng hóa công cộng phản ánh chi phí biên mà xã hội phải bỏ ra để
sản xuất nó và để tối ưu hóa lợi ích, đường cung này cũng chính là tỷ suất chuyển
đổi biên giữa hàng hóa công cộng và hàng hóa cá nhân. Nhà kinh tế học Paul
Samuelson đã chứng minh rằng, để hàng hóa công cộng được cung cấp một cách
hiệu quả thì tổng tỷ suất thay thế biên của các cá nhân phải bằng tỷ suất chuyển đổi
biên hay tổng giá trị mà các cá nhân đánh giá đối với đơn vị hàng hóa công cộng
cuối cùng bằng chi phí tăng thêm cho xã hội để sản xuất nó. Dó chính là điều kiện
Samuelson về cung cấp hiệu quả hàng hóa công cộng. Tuy vậy, kể cả khi đã xác
định được mức cung cấp hiệu quả thì việc thực thi chúng lại còn phụ thuộc vào quá
trình lựa chọn công cộng nên không phải lúc nào cũng đạt được mức hiệu quả
Cân bằng Lindahl: theo các điều kiện của hiệu quả Pareto, hàng hóa công
cộng sẽ được cung cấp một cách hiệu quả nếu tổng giá trị mà các cá nhân đánh giá
đối với đơn vị hàng hóa công cộng cuối cùng bằng chi phí tăng thêm đối với xã hội
để cung cấp nó. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là hàng hóa công cộng thuần túy không có
thị trường để trao đổi như hàng hóa cá nhân, nơi mà cân bằng thị trường do cung
cầu quyết định, do vậy việc xác định điểm cân bằng hiệu quả gặp khó khăn. Để
giải quyết vấn đề xác định mức cung cấp hàng hóa công cộng thuần túy một cách
có hiệu quả, nhà kinh tế học người Thụy Điển Erik Lindahl đã xây dựng một mô
hình mô phỏng mô hình thị trường cho hàng hóa công cộng gọi là cân bằng
Lindahl. Mô hình này xác định nhu cầu của mỗi cá nhân về một loại hàng hóa công
cộng thuần túy tương ứng với mức thuế (chính là giá của hàng hóa công cộng) ấn
định cho cá nhân đó, mức cung cấp hàng hóa công cộng thuần túy có hiệu quả là
mức mà cầu của các cá nhân đều như nhau. Lưu ý rằng mức cầu của mỗi cá nhân
tương ứng với những mức thuế khác nhau nên cân bằng Lindahl khác với cân bằng
thị trường hàng hóa cá nhân khi mà ở đó cân bằng thị trường ở mức giá như nhau
đối với mọi cá nhân.
Thế nhưng mô hình cân bằng Lindahl trong thực tế lại vấp phải vấn đề kẻ đi
xe không trả tiền. Để xác định đúng mức cung cấp hàng hóa công cộng hiệu quả,
điều đó là không được mong muốn
Đối với những hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá thì để ngăn chặn
tình trạng tắc nghẽn, cần áp dụng việc thu phí để những người tiêu dùng có thể
được hưởng đầy đủ lợi ích do hàng hóa công cộng mang lại. Tuy nhiên nếu mức
phí quá cao (chẳng hạn do chi phí giao dịch để thực hiện cơ chế loại trừ lớn) thì số
lượng người sử dụng có thể thấp hơn điểm gây tắc nghẽn quá nhiều dẫn đến tổn
thất phúc lợi xã hội. Trong trường hợp khu vực tư nhân đứng ra cung cấp hàng hóa
cộng cộng thì mức phí họ thu của người tiêu dùng sẽ khiến cho tổn thất phúc lợi xã
hội xảy ra. Hình bên là đồ thị minh họa trường hợp một cây cầu có công suất thiết
kế là Qc, trong khi nhu cầu đi lại tối đa qua đó chỉ là Qm. Nếu việc qua cầu miễn
phí thì sẽ có Qm lượt người đi qua nhưng nếu thu phí ở mức p thì chỉ còn Qe lượt
và xã hội bị tổn thất một lượng bằng diện tích hình tam giác bôi đậm. Do vậy, đối
với hàng hóa công cộng mà chi phí biên để cung cấp bằng 0 hoặc không đáng kể
thì hàng hóa đó nên được cung cấp miễn phí, kể cả khi nó có thể được loại trừ bằng
giá.
Một nguyên nhân nữa khiến cho tư nhân cung cấp hàng hóa công cộng
không hiệu quả là nó thường có xu hướng được cung cấp với số lượng ít. Một
người có vườn bên đường được trồng hoa thì cả khu vực gần đó sẽ tăng vẻ mỹ
quan cũng như nhiều người cùng được thưởng thức vẻ đẹp của hoa. Thế nhưng
người trồng hoa sẽ cân đối thời gian, chi phí bỏ ra với nhu cầu thưởng thức vẻ đẹp
của hoa của cá nhân mình chứ không tính đến nhu cầu của những người hàng xóm,
chính vì vậy người đó nhiều khả năng sẽ trồng ít hoa đi.
• Hàng hóa công cộng có thể loại trừ nhưng với phí tổn rất lớn
Có những hàng hóa công cộng mà chi phí để duy trì hệ thống quản lý nhằm
loại trừ bằng giá (gọi là chi phí giao dịch) rất tốn kém, ví dụ chi phí để duy trì hệ
thống các trạm thu phí trên đường cao tốc, thì có thể sẽ hiệu quả hơn nếu cung
cấp nó miễn phí và tài trợ bằng thuế. Tuy vậy, để cân nhắc việc này cần so sánh tổn
thất phúc lợi xã hội trong hai trường hợp. Đồ thị bên phải mô tả việc lựa chọn này.
Giả sử hàng hóa công cộng có chi phí biên để sản xuất là c và do phát sinh thêm
chi phí giao dịch nên giá của nó bị đẩy lên tới p. Mức cung cấp hàng hóa cộng
phục vụ nhu cầu thiết yếu của xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội,
do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư
nhân thực hiện.
2.1.2.2 Phân loại dịch vụ công
Dịch vụ công có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, xét theo tính chất của
dịch vụ, hoặc theo các hình thức dịch vụ cụ thể,…
• Xét theo tiêu chí chủ thể cung ứng, dịch vụ công được chia thành ba loại, như sau:
- Dịch vụ công do cơ quan nhà nước trực tiếp cung cấp: Đó là những dịch
vụ công cộng cơ bản do các cơ quan của nhà nước cung cấp. Thí dụ, an ninh, giáo
dục phổ thông, chăm sóc y tế công cộng, bảo trợ xã hội,…
-Dịch vụ công do các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân cung cấp,
gồm những dịch vụ mà Nhà nước có trách nhiệm cung cấp, nhưng không trực tiếp
thực hiện mà uỷ nhiệm cho tổ chức phi chính phủ và tư nhân thực hiện, dưới sự
đôn đốc, giám sát của nhà nước. Thí dụ, các công trình công cộng do chính phủ gọi
thầu có thể do các công ty tư nhân đấu thầu xây dựng.
- Dịch vụ công do tổ chức nhà nước, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tư nhân
phối hợp thực hiện. Loại hình cung ứng dịch vụ này ngày càng trở nên phổ biến ở
nhiều nước. Như ở Trung quốc, việc thiết lập hệ thống bảo vệ trật tự ở các khu dân
cư là do cơ quan công an, tổ chức dịch vụ khu phố và ủy ban khu phố phối hợp
thực hiện.
• Dựa vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng, có thể chia dịch vụ công
thành các loại như sau:
- Dịch vụ hành chính công: Đây là loại dịch vụ gắn liền với chức năng quản
lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân.
- Dịch vụ sự nghiệp công: Bao gồm các hoạt động cung cấp phúc lợi xã hội
thiết yếu cho người dân như giáo dục, văn hóa, khoa học, chăm sóc sức khoẻ, thể
dục thể thao, bảo hiểm, an sinh xã hội
- Dịch vụ công ích: Là các hoạt động cung cấp các hàng hoá, dịch vụ cơ bản,
thiết yếu cho người dân và cộng đồng như: vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp
nước sạch, vận tải công cộng đô thị, phòng chống thiên tai…chủ yếu do các doanh
chức xã hội…), đặc biệt là, các tổ chức này tuy là đơn vị tư nhân hoặc phi chính
phủ nhưng được khuyến kích hoạt động theo cơ chế không vì lợi nhuận, chỉ thu phí
để tự trang trải.
+ Tư nhân hoá dịch vụ công, trong đó nhà nước bán phương tiện và quyền
chi phối của mình đối với dịch vụ nào đó cho tư nhân song vẫn giám sát và đảm
bảo lợi ích công bằng pháp luật.
+ Mua dịch vụ công từ khu vực tư nhân đối với các dịch vụ mà tư nhân có
thể làm tốt và giảm được số người làm dịch vụ trong cơ quan nhà nước, như bảo
dưỡng phương tiện phòng cháy, chữa cháy, các phương tiện tin học, đáp ứng nhu
cầu về phương tiện đi lại, làm vệ sinh và công việc phục vụ trong cơ quan…
2.1.2.4 Các đặc điểm của dịch vụ công
- Dịch vụ công có tính xã hội, với mục tiêu chính là phục vụ lợi ích cộng
đồng đáp ứng nhu cầu của tất cả công dân, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội
và bảo đảm công bằng và ổn định xã hội, mang tính quần chúng rộng rãi.
- Dịch vụ công cung ứng loại “hàng hóa” không phải bình thường mà là
hàng hóa đặc biệt do nhà nước cung ứng hoặc ủy nhiệm cho tổ chức, cá nhân thực
hiện, đáp ứng nhu cầu toàn xã hội, bất kể các sản phẩm được tạo ra có hình thái
hiện vật hay phi hiện vật.
- Việc trao đổi dịch vụ công không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ.
2.1.3 Hệ thống giáo dục
Với những nguồn khác nhau thì giáo dục lại được hiểu theo một cách khác
nhau.
• Theo từ điển ta hiểu giáo dục theo 2 khía cạnh:
• Động từ: giáo dục là hoạt động nhằm tác động có hệ thống đến sự phát triển tinh
thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được
phẩm chất, năng lực, trí tuệ, như yêu cầu đề ra giáo dục con cái trong gia đình; có
tư tưởng giáo dục tư tưởng tiến bộ.
• Danh từ: giáo dục là hệ thống các biện pháp và cơ quan giảng dạy - giáo dục của
một nước
• Các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày "Giáo dục là hiện tượng
Trong đó:
Q
d
: cầu về hang hóa đó
P: giá của hàng hóa đó
M: Thu nhập
P
R
: Giá của hàng hóa có liên quan
T: Thị hiếu của người tiêu dùng
P
e
: Kì vọng về giá hàng hóa trong tương lai
N: Số lượng người mua
2.2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hàm cầu
• Thu nhập
Khi thu nhập tăng, cầu đối với hầu hết các hàng hóa đều gia tăng vì với thu
nhập cao hơn người tiêu dùng thường có xu hướng mua hàng hóa nhiều hơn. Tuy
nhiên, cũng có những ngoại lệ, tùy thuộc vào tính chất của hàng hóa.
Ví dụ: Cầu đối với loại hàng hóa thông thường sẽ tăng khi thu nhập của
người tiêu dùng tăng. Thí dụ, người tiêu dùng sẽ mua quần áo, sẽ mua ti-vi màu, sử
dụng các dịch vụ giải trí, v.v. nhiều hơn khi thu nhập của họ tăng lên. Những hàng
hóa này là những hàng hóa thông thường. Ngược lại, cầu đối với hàng hóa thứ cấp
(hay còn gọi là cấp thấp) sẽ giảm khi thu nhập của người tiêu dùng tăng. Hàng cấp
thấp thường là những mặt hàng rẻ tiền, chất lượng kém như ti-vi trắng đen, xe đạp,
v.v. mà mọi người sẽ không thích mua khi thu nhập của họ cao hơn.
• Giá cả của hàng hóa có liên quan
Các hàng hóa liên quan được chia làm hai loại: hàng hóa thay thế và hng hóa
bổ sung.
Cung của từng nhà sản xuất đối với một loại hàng hóa hoặc dịch vụ là cung
cá nhân.
Cung thị trường về một loại hàng hóa hoặc dịch vụ là tổng các lượng cung
cá nhân của hàng hóa hoặc dịch vụ đó.
Đường cung là đường mô tả mối quan hệ giữa lượng cung và giá cả của
hàng hóa đó. Đường cung có chiều dốc lên từ trái sang phải đối với hầu hết các
mặt hàng tiêu dùng cá nhân.
2.2.2.2 Các yếu tố xác định cung
Cung là một hàm số phụ thuộc vào rất nhiều biến số:
Q
s
= f(P, P
i
, T, G, F, E)
Trong đó:
Q
s
: Lượng cung của hàng hóa
P: Giá của bản thân hàng hóa
T: Công nghệ
G: Các chính sách của chính phủ
P
i
: Giá của các yếu tố sản xuất
F: Số lượng người sản xuất
E: Các kỳ vọng
• Giá của các yếu tố sản xuất
Giá của các yếu tố sản xuất có khả năng ảnh hưởng đến khả năng cung ứng
sản phẩm. Nếu giá của các yếu tố sản xuất giảm sẽ dẫn đến giá thành sản xuất giảm
và cơ hội kiếm lợi nhuận cao lên, do đó các nhà suất có xu hướng sản xuất nhiều
Ví dụ: Chương trình quốc phòng, hệ thống đường xá, hải đăng, không khí
trong sạch…Đối với loại hàng hóa công này người ta hoàn toàn không thể định
suất hoặc loại trừ một cá nhân nào đó trong việc sử dụng hàng hóa. Điều đó là