MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đa thần giáo hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là thờ nhiều thần, khái niệm
này dùng để chỉ phân biệt với nhất thần giáo. Tuy nhiên đây cũng là hình thức
tín ngưỡng khác như tô tem giáo, bái vật giáo, vật linh giáo, sa man giáo…,
tín ngưỡng vào các thần linh, ma quỷ riêng lẻ, chưa thành hệ thống trong đó
có vị thần chủ thể tối cao. Tín ngưỡng đa thần giáo có thể thấy trong tôn giáo,
tín ngưỡng dân gian của Nhật Bản (Shinto), Hàn Quốc (Saman giáo), hay
Hindu giáo của Ấn Độ. Tín ngưỡng đa thần giáo là việc thờ cúng nhiều vị
thần và đa thần giáo trong tín ngưỡng dân gian Nhật Bản được thể hiện một
phần trong hệ thống Yaoyorozu no kami (八百万の神/ Bát Bách Vạn Thần)
∗
của Shinto, trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng phồn thực, lễ hội
nông nghiệp, tín ngưỡng thờ cúng thiên nhiên, tục thờ cúng người có công với
nước, tín ngưỡng thờ cúng động thực vật, tín ngưỡng thờ cúng linh hồn…v.v.
Ngoài ra, khi tôn giáo ngoại sinh vào Nhật Bản nó hòa nhập, pha trộn
với tín ngưỡng bản địa tạo nên sự đa dạng, phong phú trong hệ thống chủ thể
thờ cúng. Quá trình hỗn dung cũng góp phần hình thành nên tính đa dạng
trong hệ thống thờ đa thần trong tín ngưỡng dân gian Nhật Bản
∗
. Đây là một
điểm khác biệt trong hệ thống tín ngưỡng Nhật Bản. Sự đa dạng này có nhiều
nét tương đồng với tính đa thần trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Hiện
nay, những nghiên cứu về chủ đề trên chưa nhiều và thiếu tính hệ thống, do
đó tôi đã chọn đề tài “Tìm hiểu tính đa thần trong tín ngưỡng dân gian Nhật
Bản - so sánh với Việt Nam” làm đề tài luận văn Thạc sỹ. Trong luận văn, tôi
muốn làm rõ được những tính chất, đặc trưng cụ thể của tính đa thần trong tín
shūgō). Trong chương ba tác giả trình bày khá kĩ bức tranh toàn thể tín
ngưỡng thờ cúng thần rừng, thần biển, quan niệm linh hồn của người Nhật cổ.
3
Trong chương bốn cụ thể hóa các vấn đề trong tín ngưỡng thờ cúng tự nhiên,
tha giới (thế giới khác). Chương năm giúp người đọc hiểu rõ hơn về quá trình
hỗn dung của tôn giáo ngoại sinh vào tín ngưỡng bản địa như thế nào?. Vai
trò và ý nghĩa của tín ngưỡng dân gian trong đời sống tinh thần của người
Nhật có những thay đổi gì so với trước đây. Chương 6, tổng kết các quan
niệm sinh tử của người Nhật từ cổ đại đến hiện đại [36].
Higiwara Hidesaboru với Nihon bunka to shinkō/kami no hassei (Văn
hóa Nhật Bản và những phát sinh trong thần thánh, tín ngưỡng) là một công
trình khá dầy dặn gồm 254 trang sách. Qua nghiên cứu của mình, Higiwara
Hidesaboru đã giúp người đọc tìm được câu trả lời: Thần thánh được sinh ra
từ đâu, có thực sự tồn tại hay không? Tác giả qua điều tra thực tế tại một số lễ
hội ở Nhật Bản, qua nghiên cứu một số tín ngưỡng dân gian tiêu biểu, tìm ra
được bản chất, đặc trưng tín ngưỡng đa thần và mức độ đa dạng trong tín
ngưỡng thờ cúng của người Nhật Bản [37; tr 254 ].
Công trình Nihonjin no minkan shinkō to shisō của Sawayama Shintaro
(Tư tưởng và tín ngưỡng dân gian của người Nhật Bản) là một nghiên cứu tự
do tìm hiểu về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của Nhật Bản. Tín ngưỡng trên
được tiếp cận dưới một góc độ, cách nhìn mới, khá xa lại so các học giả
truyền thống. Nghiên cứu của Sawayama Shintaro đã chứng minh được tục
thờ cúng tổ tiên của người Nhật Bản bắt đầu từ thời kỳ Jomōn và dựa trên tín
ngưỡng nguyên thủy là tục thờ cúng quỷ thần. Vì vậy, cùng với những tập
tục, tín ngưỡng khác, thờ cúng tổ tiên đã góp phần hình thành sự đa dạng
trong chủ thể thờ cúng ở Nhật Bản [54]. Bên cạnh cách tiếp cận thuần Nhật
Bản, học giả Hosaka Yukihiro với góc nhìn mới của triết học Phương Tây đã
làm rõ ảnh hưởng của văn minh Phương Tây trong giao thoa văn hóa, tín
ngưỡng sùng bái tự nhiên của người Nhật. Công trình là nghiên cứu bài bản,
chuyên sâu và hữu ích cho nghiên cứu thế hệ sau. Đó là cuốn Nihon no shizen
5
tương đồng và khác biệt trong đa thần giáo hai nước cho những ai quan tâm,
cần tìm hiểu. Cuối cùng, người viết cũng mong công trình trên có thể trở
thành một tài liệu tham khảo hữu ích, góp phần làm phong phú thêm nguồn
tài liệu cho ngành nghiên cứu Nhật Bản ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn:
Làm rõ tính đa thần giáo trong tín ngưỡng dân gian Nhật Bản là gì?, tín
ngưỡng đa thần giáo đóng vai trò như thế nào đối với đời sống tinh thần của
người Nhật?. Quá trình hội nhập, bản địa hóa các phong tục, tập quán, tín
ngưỡng, tôn giáo ngoại sinh ở Nhật diễn ra như thế nào trong tín ngưỡng đa
thần giáo của Nhật Bản?. Tính đa thần giáo trong tín ngưỡng dân gian Nhật
Bản khác với tính đa thần trong tín ngưỡng dân gian của Việt Nam ở điểm
gì?. Giữa tính đa thần giáo trong tín ngưỡng dân gian hai nước có những điểm
chung nào? Trong khuân khổ luận văn, tôi muốn làm rõ những nghi vấn đã
được nêu ra, đồng thời dựa vào đó xây dựng một cách nhìn khái quát nhất về
lĩnh vực vốn đang còn nhiều tranh luận.
Nhiệm vụ đặt ra cho nghiên cứu đề tài:
1. Tìm hiểu về tình hình nghiên cứu tín ngưỡng dân gian Nhật Bản nói
chung và tính đa thần trong tín ngưỡng dân gian Nhật Bản nói riêng?.
2. Nêu rõ các đặc trưng cơ bản nhất của tính đa thần trong tín ngưỡng
dân gian Nhật Bản. Ngoài ra, luận văn cũng chỉ ra được điểm tương đồng và
khác biệt trong nghiên cứu so sánh với Việt Nam. Những đặc trưng này so với
nghiên cứu trước đây có gì mới hay không?.
3. Từ trường hợp Nhật Bản, đề xuất được một số bài học kinh nghiệm
đối với việc nâng cao ý thức của con người trong việc bảo tồn tín ngưỡng dân
gian ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tính đa thần trong tín ngưỡng
6
Danh mục tài liệu tham khảo của luận văn.
8
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN NGƯỠNG DÂN
GIAN VÀ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN NHẬT BẢN
1.1. Một số vấn đề lý luận về tín ngưỡng dân gian
1.1.1. Tín ngưỡng, tín ngưỡng dân gian và tôn giáo
Hiện có hàng trăm cách hiểu khác nhau về tôn giáo, tín ngưỡng, trong
đó định nghĩa của Karl Marx, Friedrich Engels, S. ATokarev, Malinowski,
George James Frazer…, là những định nghĩa phổ biến, được sử dụng nhiều
nhất.
Tôn giáo: Theo Friedrich Engels, tất cả mọi tôn giáo chẳng qua là sự
phản ánh hư ảo vào trong đầu óc con người, của những lực lượng bên ngoài
chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực
lượng ở trần thế đã mang những thế lực của siêu nhiên và trong những thời kỳ
đầu của lịch sử, chính những thế lực thiên nhiên ấy đã được nhân cách hóa hết
sức nhiều vẻ và hết sức hỗn tạp [3; tr 447].
Tín ngưỡng: từ điển tiếng Việt viết “lòng tin và sự tôn thờ một tôn
giáo” [22; tr 1646], nghĩa là tín ngưỡng chỉ tồn tại trong một tôn giáo. Theo
giải thích của Đào Duy Anh, tín ngưỡng được hiểu là: “lòng ngưỡng mộ, mê
tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” [2; tr 284]. Quan điểm của Ngô
Đức Thịnh rõ ràng hơn: “Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào
cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng
vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó,
quan sát được. Hiện có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây niềm tin của tín
ngưỡng là niềm tin vào “cái thiêng”, do vậy niềm tin vào cái thiêng thuộc về
9
bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của
con người, cũng như giống đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư
tưởng, đời sống tình cảm ” [15; tr 16].
quan niệm vũ trụ và nhân sinh, truyền
thụ qua học tập ở các tu viện, thánh
đường.
Còn có sự hoà nhập nhất định giữa thế
giới thần linh và con người. Chưa
mang tính cứu thế
+ Tách biệt thế giới thần linh và con
người, xuất hiện hình thức “cứu thế”.
+ Chưa thành hệ thống thần điện còn
mang tính chất đa thần
+ Thần điện đã thành hệ thống dưới
dạng đa thần hay nhất thần giáo
+ Nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân
tán và chưa thành quy ước chặt chẽ
+ Nơi thờ cúng riêng, nghi lễ thờ cúng
chặt chẽ (chùa, nhà thờ, thánh đường)
+ Gắn với cá nhân và cộng đồng làng
xã, chưa thành giáo hội
+ Tổ chức giáo hội, hội đoàn khá chặt
chẽ, hình thành hệ thống giáo chức
+ Mang tính chất dân gian, sinh hoạt
của dân gian, gắn với đời sống nông
dân
+ Không mang tính dân gian, có chăng
chỉ là sự biến dạng theo kiểu dân gian
hoá, như Phật giáo dân gian
Tín ngưỡng dân gian: Theo quan điểm của Patric B. Mullen, tín
ngưỡng dân gian là một thể loại lớn bao gồm sự biểu cảm và cách ứng xử mà
ta gọi là mê tín, tín ngưỡng bình dân, làm phép, các hiện tượng siêu tự nhiên,
các câu của các bà nội trợ già, y học dân gian, tôn giáo dân gian, các biểu hiện
1.1.2. Tính đa thần trong tín ngưỡng dân gian
12
Cũng như định nghĩa về tôn giáo - tín ngưỡng, khái niệm tính đa thần
giáo cũng có nhiều cách hiểu khác nhau, trong đó đa thần giáo được hiểu là
một tôn giáo thờ nhiều thần phân biệt với nhất thần giáo, loại hình chỉ thờ một
thần duy nhất. Những hình thức tín ngưỡng khác nhau như tô tem giáo, bái
vật giáo, vật linh giáo, sa man giáo đều được hiểu là tín ngưỡng đa thần, nó
khác với các tín ngưỡng khác. Đó là tín ngưỡng thờ các vị thần linh, ma
quỷ riêng lẻ…v.v. Tuy nhiên, tất cả các loại hình tín ngưỡng này đều chưa
trở thành một tôn giáo vì nó chưa có hệ thống, không có giáo chủ hay vị
thần tối cao.
Lý thuyết tôn giáo đa thần đưa ra với mục đích nhằm chống lại những
tôn giáo có tính độc thần như Do Thái giáo, Kito giáo, Hồi giáo và chủ trương
của đa thần giáo là nhằm đối kháng lại nhất thần giáo. Tại Nhật Bản, Phật
giáo đã ăn sâu bén rẽ vào nước này từ hàng ngìn năm, bén rễ vào trong Shinto
giáo, tôn giáo - tín ngưỡng nguyên thủy của người Nhật tạo nên hỗn dung tôn
giáo. Hỗn dung tôn giáo theo kiểu Thần Phật hợp nhất là một đặc trưng hiếm
có, biểu hiện tính đa thần giáo của Nhật Bản. Nhiều công trình nghiên cứu
của Takeshi Yoro, Takeshi Umehara, Masahiro Fujiwara, Hayao Miyazaki,
Kishida Shigeru và Izawa Motohiro, Kubota Hiroshi, Ichiro Hori… là những
công trình nghiên cứu tiêu biểu về lĩnh vực này
∗
.
Kubota Hiroshi, học giả nổi tiếng về tôn giáo, tín ngưỡng dân gian
người Nhật đã định nghĩa tín ngưỡng đa thần như sau: Tín ngưỡng đa thần
phát sinh từ sự kính sợ các hiện tượng thiên nhiên hay từ cảm tính về cái
thiêng của một vật thể nào đó. Tín ngưỡng đa thần cũng bắt nguồn từ những
thần thoại mô tả rất nhiều nhân vật có hình tướng lạ thường, tính cách phi
thường, có sức mạnh siêu phàm. Những thần này đặc trách cai quản và phù
trợ cho một lãnh vực đời sống thế gian. Tín ngưỡng đa thần còn đi đến sự
Tuy nhiên cách hiểu Minkan shinkō là tín ngưỡng dân gian lại gặp một
số bất đồng trong quan điểm. Miyake Hitoshi là một học giả như vậy, ông gần
Dẫn lại theo trích dẫn trong tập bài giảng Folk belies in morder Japan của giáo sư Norman Haven, Bài
giảng tại khoa Văn hóa truyền thống, Đại học Kokugakuin, Tokyo, Nhật Bản.
14
như đã đồng nhất hai khái niệm tôn giáo dân gian và tín ngưỡng dân gian vào
nhau, theo ông về cơ bản đó là hành vi tôn giáo hay tín ngưỡng bản địa, có
các yếu tố từ Thần đạo, đạo Phật, Đạo giáo, thuyết nhị nguyên luận và các
hành vi tôn giáo khác [29; tr 121]. Không kế thừa quan điểm đó, Sakurai
Tokutaro đã tiếp tục chứng minh có sự khác biệt giữa hai thuật ngữ trên. Ông
cho rằng tôn giáo dân gian là có người sáng lập cụ thể, có tổ chức, có giáo lý,
giáo hội, có tổ chức nhóm như kiểu Kito giáo hay Phật giáo. Ngược lại, tín
ngưỡng dân gian không có giáo chủ, giáo lý như tôn giáo, nó mang đậm tính
nhân gian, tính đặc thù địa phương và chủ yếu tồn tại thông qua con đường
truyền khẩu. Tuy có sự phân biệt rạch ròi như vậy, song cũng không thiếu
những trường hợp nhiều yếu tố trong hành vi tôn giáo dân gian lại đồng hóa
vào môi trường bản địa và trở thành một tín ngưỡng dân gian, góp phần hình
thành nên tính đa thần trong tín ngưỡng dân gian Nhật Bản. Ví dụ trong tín
ngưỡng Taishikō (德太講), Kanoko (霊音講), Jizokukō (地霊講)
∗
ban đầu có
một số yếu tố liên kết với yếu tố Phật giáo, sau mất dần và trở thành tín
ngưỡng dân gian ở địa phương [52; tr 1 - 4].
Như vậy có thể thấy rằng Minkan shinkō theo quan niệm của các học
giả Nhật Bản thường được đồng nhất với những cách hiểu cơ bản về định
nghĩa tín ngưỡng dân gian trong tiếng Anh.
Khái niệm Minkan shinkō lần đầu tiên được phát triển bởi Yanagita
Kunio trong Tổng tập chương trình nghiên cứu về văn hóa dân gian Nhật
Bản. Tác giả đã phản biện lại giải thuyết nghiên cứu trước đây của một số học
biểu diễn trò ảo thuật, người hành nghề bói dạo, nhà kiếm thuật, nhà phong
thủy, bói đất… thành những người truyền tin của thần thánh…v.v là điều phi
lý. Tất cả những điều này đều là những loại tín ngưỡng tà giáo, gây bối rối,
hoang mang cho dân chúng, do đó cần loại bỏ [44; tr 82].
Truyền thống phê bình không coi trọng tín ngưỡng dân gian được tiếp
tục kế thừa bởi Hội trí thức Meirokusha
∗
và những người ủng hộ “văn minh
Đền Tenmangu là một ngôi đền kiểu Shinto được xây dựng ở Osaka vào năm AD 949.
∗
Hội trí thức Meirokusha 明六社 những người đi tiên phong trong việc tiếp thu văn hóa Tây phương chính
là những nhà Tây học mà tiếng Nhật gọi là Yōgakusha (Dương học giả), trong đó thành viên của hội trí thức
Meirokusha là những học giả có ảnh hưởng sâu rộng nhất.
16
khai sáng” do quan điểm của trường phái này cho rằng tín ngưỡng dân gian là
“văn hóa của nông dân nên không cần quan tâm đến loại văn hóa này”. Một
số học giả khác có quan điểm ôn hòa hơn, họ cho rằng đó là văn hóa tín
ngưỡng đẹp, hữu ích cho quốc gia, nên cần bảo tồn, nhưng đồng thời phải bài
trừ mê tín dị đoan, điều xấu trong tín ngưỡng dân gian [26; tr 178 - 186]. Chủ
trương ôn hòa này được Anesaki Masaharu, người luôn làm việc dưới quan
điểm Phương Tây, kế thừa và phát triển: tín ngưỡng dân gian là người bảo trợ
cho môn phái Shinto mới và nó “mặc dù còn thô, chưa được tinh luyện nhưng
tương đối tinh khiết” [23; tr 310]. Tuy nhiên quan điểm cho rằng Minkan
shinkō còn thô và chưa tinh khiết của Anesaki Masaharu bị đồng nghiệp của
ông Yanigita Kunio cùng nhiều học giả khác, những người luôn bảo vệ quan
niệm tín ngưỡng dân gian theo kiểu truyền thống phản kháng lại. Họ cho rằng
tín ngưỡng dân gian luôn gắn với việc truyền khẩu, là những sáng tác của
nông dân, là tinh túy được chắt lọc và sản sinh ra từ trong đời sống của người
với khái niệm tôn giáo hơn, tuy nhiên cách hiểu trên hiện vẫn còn nhiều tranh
luận, chưa đi đến thống nhất.
1.2.2. Các loại hình tín ngưỡng dân gian Nhật Bản
Hiện nay, cách phân chia loại hình tín ngưỡng dân gian khá đa dạng và
phong phú, do đó trường hợp Minkan shinkō Nhật Bản cũng không ngoại lệ.
Hiroshi Kubota có cách nhìn gần giống với X. A Tôcarep, trong Phong thổ đa
thần giáo Nhật Bản, ông đã chia tín ngưỡng dân Nhật Bản thành bốn nhóm
tín ngưỡng: thờ cúng linh hồn (Reikon shinkō /霊魂信仰) và nhóm tín ngưỡng
Thần Phật hợp nhất (Shinfutsu shūgō /神霊習合), nhóm tín ngưỡng thờ cúng
thiên nhiên (Shizen sūhai shinkō /自然崇霊信仰), nhóm nhóm tín ngưỡng địa
phương (Genchi shinkō /現地信仰).
Ichiro Hori, nhà nghiên cứu dân tộc học, văn hóa dân gian nổi tiếng
Nhật Bản chia tín ngưỡng dân gian Nhật Bản ra làm hai loại: Thứ nhất gọi là
nhóm tín ngưỡng đồng tộc (Dōzoku shinkō/ 同 族 信 仰 ), hay là nhóm tín
ngưỡng truyền thống của một nhóm người cùng huyết thống sống trên cùng
một địa bàn. Thứ hai là nhóm tín ngưỡng hỗn hợp (Kongō shinkō /混合信仰)
bao gồm một phần tín ngưỡng bản địa và một phần của tín ngưỡng mới
∗
.
Nhóm tín ngưỡng mới là nhóm tín ngưỡng được hình thành trên cơ sở các yếu tố hỗn hợp là tín ngưỡng bản
18
Trong tín ngưỡng mới, sự du nhập các yếu tố bên ngoài (ngoại tộc hay ngoại
quốc) khi được truyền vào thường được đề cao, nhanh chóng hội nhập ở mức
độ cao nhất, bị bản địa hóa và trở thành tín ngưỡng dân gian truyền thống của
địa phương, tuy không hoàn toàn mất đi yếu tố ban đầu [28; tr 405 - 425].
Đồng quan điểm với Ichiro Hori là nhiều công trình nghiên cứu của các
học giả khác, nhưng Dōzoku shinkō còn được gọi dưới nhiều tên khác như: tín
ngưỡng về quan hệ huyết thống, tín ngưỡng về quan hệ họ hàng ở xã hội nông
thôn Nhật Bản. Đó là nghiên cứu của Ariga Kizaemon năm 1943 [35];
Bản, các tín ngưỡng phát triển từ hệ thống dòng tộc trở thành quan trọng nhất
trong cấu trúc xã hội Nhật Bản. Đặc biệt khi người chết được phong thần
∗
trở
thành đối tượng thờ cúng trên bàn thờ Kamidana (神棚), họ sẽ là vị thần giúp
liên lạc giữa các thành viên trong dòng tộc với tổ tiên của họ.
Trong xã hội nông nghiệp Nhật Bản, sự tăng trưởng và phát triển của
tín ngưỡng dân gian Nhật Bản cũng giống như quá trình phát triển của xã hội,
đi từ tự cung tự cấp, sau phát triển lên thành hệ thống giáo lý, đi từ tín ngưỡng
lên thành tôn giáo. Ngoài ra, khi có sự phân hóa diễn ra giữa các nhóm gia
tộc, sự nổi lên của một nhóm gia tộc có kinh tế, quyền lực thống trị thì hệ
thống tín ngưỡng của nhóm gia tộc này sẽ trở thành hệ thống tín ngưỡng
chung của cộng đồng. Sau thời gian nhóm tín ngưỡng đầu tiên sẽ hòa nhập
vào nhiều yếu tố mới trong đó có yếu tố từ ngoại tộc (tín ngưỡng ở gia tộc
khác), tuy nhiên dù các tín ngưỡng này có thể thay đổi nhưng không bao giờ
được làm mất đi cái bản sắc của dòng tộc. Hơn nữa, khi có sự gia nhập và sự
phổ biến của các tôn giáo khác như Đạo Phật, hay tín ngưỡng Nho giáo vào
trong xã hội Nhật Bản thì ngay cả Thần đạo cũng dần dần bị nó xâm nhập.
Ảnh hưởng tôn giáo theo kiểu này là từ các cuộc xâm lược, thống trị hoặc làn
Đó là việc người đã khuất được con cháu truy phong thờ cúng tôn sùng như một vị thần gia đình sau lần giỗ
thứ 33 của họ.
20
sóng di cư hay do truyền giáo. Do đó, một cách mơ hồ tín ngưỡng tôn giáo
ban đầu của địa phương dần dần trở nên khác trước. Các thần trong gia đình
hoặc làng có thể trở thành Thành hoàng của vùng. Những lớp tín ngưỡng
ngày đan xen vào nhau và tạo thành tín ngưỡng đồng tộc. Vì vậy, các nhà
khoa học cho rằng có nhiều tầng lớp tín ngưỡng với các hệ thống thần khác
nhau cùng phát triển trong hệ thống tín ngưỡng dân gian Nhật Bản và tạo
thành đa thần giáo kiểu Nhật.
thần chịu trách nhiệm trông coi, bảo vệ gia đình, duy trì ngọn lửa đỏ trong
mỗi gian bếp. Đôi khi vị thần này còn được coi là hóa thân của thần Fudō-
myō (不動明王/Bất Động Minh Vương) người được bao quanh bởi ngọn lửa và
luôn đấu tranh chống điều ác, có nhiệm vụ đối phó lại với hành động xấu. Tuy
nhiên, tại một số địa phương như Kyushu hay Đông Bắc Nhật Bản, Kamado
gami đôi khi là nữ thần. Theo truyền thống, bàn thờ của thần được đặt ở gần
lò sưởi và với biểu tượng là một lá bùa hoặc bức tượng nhỏ. Bức tượng thần
thường được mô tả với tóc đỏ, răng nanh, khuân mặt méo mó, tay cầm một
cây cung. Hàng năm cứ vào dịp tháng mười hai, tại tỉnh Izumi thường có lễ
hội tôn vinh Kamado gami, vị thần của gia đình – family kami [24].
Một biến thể khác của thần là Nandō gami và theo quan điểm của mọi
người, kể cả hoàng gia Nhật họ cho rằng: tất cả mọi nơi như bếp lò, lò sưởi,
nơi có xu hướng dễ cháy trong gia đình là nơi thần lửa Hi no kami ( 火 の
神/Hỏa Thần) ngự trị. Kamado gami thường được đặt thờ gần cùng các vị thần
khác trên Kami dana với biểu tượng là gỗ và giấy, tiếng Nhật gọi là shinsatsu
hoặc abuda (神札). Tại vùng Osaka và Kyoto thuộc Kansai, vị thần bếp này
thường được gọi là Kōjin, phía đông bắc Nhật được gọi là Hino kagu tsuchi,
22
Homu subi (火産霊/ Hỏa Sản Linh), Kamaijin (鎌人/Liêm Nhân), Kamaotoko
(鎌男/Liêm Nam) hay Hi otoko (火男/ Hỏa Nam). Ngoài ra, theo Nhật Bản
Thư Kỉ thì vị thần này sự hiển thị dưới cái tên gọi là Homu subi và Kagu
tsuchi. Ở đây sự sùng bái thần Nandō gami thể hiện qua hình ảnh thần với
gương mặt méo mó và treo lên cây cột gần lò sưởi. Ngoài ra, do chịu ảnh
hưởng của học Thuyết âm dương Onmyōđō ( 陰 陽 道 /Âm Dương Đạo) mà
Kamado gami được biết đến như Dokōjin ( 土 公 神 /Thổ Công Thần) hay
Dokkusan, Fugensama [68]. Bên cạnh bản chất của thần lửa, Komado gami
cũng được gắn chức năng là vị thần bảo trợ cho nông nghiệp, do đó thường
được tôn vinh trong lễ hội cuối mùa thu hoạch. Tính năng này được biểu thị
qua sự biến hóa của thần núi Yama no kami (山 の 神 /Sơn Thần) trong mùa
xuân và mùa thu. Cuối cùng Kamado gami còn được coi là vị thần của trẻ em,
霊/Nhung Tam Lang) đem về chăm sóc. Sau đó, cậu bé mọc tay chân và trở
thành thần Ebisu. Vì vậy, Ebisu còn được xem là vị thần bảo vệ sức khỏe cho
những đứa trẻ. Tuy nhiên, do không thể nghe được nên thần Ebisu không
cùng các thần linh khác tham dự lễ hội thần đạo tổ chức tại Izumo vào tháng
10 hàng năm. Thay vào đó, lễ hội Ebisu được người dân tổ chức riêng tại đền
thờ của ông. Ebisu là vị thần ngay thẳng, thật thà, bình dị, gần gũi nhất trong
bảy vị phúc thần Shichi fukujin (七福神/Thất Phúc Thần). Ông thường được
thể hiện là một ngư phủ hoặc nông dân béo mập, vui vẻ, một tay cầm cần câu
và một tay cầm giỏ cá, đôi khi là con cá. Ông cũng thường được thờ chung
với thần Daikoku gami, do một số người tin rằng họ là cha con và Ebisu
gami là một trong những vị thần được coi trọng, thờ phụng ở khắp nơi trên
đất Nhật.
Daikoku gami(大霊天/Đại Hắc Thiên): cũng nằm trong bộ bẩy vị thần
phúc thần Shichi fukujin. Daikoku gami là vị thần bảo trợ cho giàu sang, nông
nghiệp và các việc nội trợ. Daikoku nguyên là thần Shiva, vị thần tượng trưng
cho sức mạnh và sự hủy diệt của đạo Hindu được du nhập vào Nhật Bản
24
thông qua Trung Hoa vào thế kỉ thứ IX, sau đó bị bản địa hóa và trở thành
một trong bảy vị thần Shichi fukujin. Ông thường được miêu tả với vẻ mặt
tươi cười, đầu đội mũ mềm, mặc y phục thợ săn, đứng hoặc ngồi trên bao gạo
bị chuột ăn, trên vai vác một bao khác, tay cầm một cái chày giã gạo để ban
phát điều ước và làm cho tiền bạc tuôn ra. Đôi khi ông được xem là cha của
thần Ebisu.
Kamidama, một vị thần được thờ trong gia đình Nhật Bản. Các
Kamidana thường được gắn vào một bức tường, trên đó chứa đồ cúng, thực
phẩm cúng đơn giản như trái cây, gạo, nước và hoa. Ngoài ra, trên Kamidama
còn gắn các gương tròn nhỏ hay các magatama
∗
, đồ trang sức và một số vật có
tính biểu tượng khác [25]. Trước khi dâng lễ hay hành lễ cầu nguyện trước