Tính sáng tạo của sinh viên trường đại học hà nội - Pdf 18

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Mục đích nghiên cứu 5
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 6
6. Giả thuyết khoa học 6
7. Ph ương pháp nghiên cứu 6
8. Đóng góp của luận văn 7
9. Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu 8
1.1.1. Nghiên cứu về sáng tạo trên thế giới 8
1.1.2. Nghiên cứu về sáng tạo, tính sáng tạo ở Việt Nam 18
1.2. Các khái niệm cơ bản 22
1.2.1. Khái niệm sáng tạo 22
1.2.2. Khái niệm tính sáng tạo 26
1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tính sáng tạo 33
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1. Tổ chức nghiên cứu 37
2.2. Phương pháp nghiên cứu 37
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu 37
2.2.2. Phương pháp chuyên gia 38
2.2.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 39
2.2.4. Phương pháp trắc nghiệm 39
2.2.5. Phương pháp phỏng vấn sâu 42
2.2.6. Phương pháp thống kê toán học 42
Tiểu kết chương 2 43
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TÍNH SÁNG TẠO CỦA SINH

Biểu đồ 3.2: Kỹ năng sáng tạo phù hợp 52
Biểu đồ 3.3: Động cơ sáng tạo của sinh viên 55
Biều đồ: 3.4: Tính sáng tạo của sinh viên theo ba thành tố 64
Biểu đồ 3.5 Kết quả tính sáng tạo theo Test TST 66
Biểu đồ 3.6: Điểm trung bình của tính sáng tạo đo bằng test TST 67
Biểu đồ 3.7: Điểm trung bình tính sáng tạo do sinh viên tự đánh giá 69
Biểu đồ 3.8: Môi trường tin tưởng, khuyến khích tính sáng tạo 76
Sơ đồ 3.1:Quan hệ nội tại giữa các yếu tố cấu thành tính sáng tạo 61
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tính sáng tạo là thuộc tính của nhân cách, được hình thành và phát triển
trong quá trình học tập và lao động của con người. Trong cuốn The World is
Flat (2006), tác giả của tờ báo nổi tiếng New York Times, Thomas
Friedman phát biểu rằng các quốc gia như Mỹ từ lâu xem tính sáng tạo như
điều gì đó đương nhiên phải có – bởi lẽ nó đã ăn quá sâu vào tiềm thức.
Nhiều quốc gia khác, tuy thế, vẫn đang tìm kiếm một cách có hệ thống các
phương pháp nhằm xây dựng và khai thác tính sáng tạo – trong trường học,
nghệ thuật, hay là kinh doanh.
Sáng tạo có thể coi là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong đời
sống con người, nó được coi là một dạng hoạt động đặc biệt và là biểu hiện
cao nhất của đời sống tâm hồn. Hoạt động sáng tạo còn tạo ra những trạng
thái tâm lý đặc biệt có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển
nhân cách con người. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về sáng tạo và tính sáng
tạo của con người ngày càng trở nên quan trọng.
Nhận thức được tầm quan trọng của sáng tạo, trong xu thế chung của sự
phát triển, rất nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đã và đang
tăng cường đào tạo nguồn nhân lực giàu tính sáng tạo, tạo ra những ưu thế
cạnh tranh về nguồn lực con người, phục vụ cho sự phát triển của đất nước.
Để phát huy được nguồn nhân lực giàu sáng tạo, Đảng và nhà nước ta đã tập
trung đầu tư cho chính sách giáo dục phát huy tính sáng tạo của con người.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài như sáng
tạo, tính sáng tạo để xây dựng cơ sở lý luận định hướng cho việc nghiên
cứu thực tiễn.
- Khảo sát thực trạng tính sáng tạo của sinh viên khoa tiếng Anh
Trường đại học Hà Nội.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao tính sáng tạo cho sinh
viên Trường đại học Hà Nội.
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu
tiềm năng sáng tạo nói chung của sinh viên trong môi trường học tập thông
qua việc đánh giá ba thành tố của tính sáng tạo: Kỹ năng lĩnh vực phù hợp,
kỹ năng sáng tạo phù hợp và động cơ nội sinh.
Giới hạn về khách thể nghiên cứu: Với quy mô đề tài luận văn
Thạc sỹ, đề tài nghiên cứu tính sáng tạo của sinh viên Trường Đại học Hà
Nội được thực hiện trên 150 sinh viên khoa tiếng Anh của cả bốn khóa;
phỏng vấn và trao đổi với 10 giảng viên trong khoa Tiếng Anh.
6. Giả thuyết khoa học
Tính sáng tạo của sinh viên Trường Đại học Hà Nội có thể xem xét
trên ba cấu thành theo lý thuyết thành tố của Amabile: Kỹ năng lĩnh vực phù
hợp, kỹ năng sáng tạo phù hợp và động cơ nội sinh. Trong ba thành tố cấu
thành tính sáng tạo của sinh viên thì yếu tố động cơ nội sinh đóng vai trò
thúc đẩy mạnh nhất, tiếp đến là kỹ năng sáng tạo phù hợp và kỹ năng lĩnh
vực phù hợp. Nếu quá trình dạy học tác động phù hợp tới những yếu tố này
sẽ tăng cường được tính sáng tạo của sinh viên.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả luận văn sử
dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp chuyên gia

Hiện nay, nghiên cứu về khả năng sáng tạo của con người đang ngày
càng được các học giả quan tâm trên nhiều lĩnh vực không chỉ được nghiên
cứu trong ngành Tâm lý học mà nó còn được nghiên cứu trong nhiều ngành
khoa học khác nữa. Quan điểm của các nhà khoa học trước đây thường gắn
sáng tạo với thiên tài, tài năng trong trong các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật.
Vì vậy, họ chỉ tập trung mô tả, giải thích mà không đi sâu vào nghiên cứu
bản chất và quy luật của hoạt động sáng tạo. Cũng từ quan điểm đó mà trước
đây nguồn duy nhất để nghiên cứu vấn đề sáng tạo là các tiểu sử, hồi ký, các
tác phẩm văn học, nghệ thuật của các danh nhân, nghệ sĩ, nhà văn, nhà phát
minh như: Leonadovanhxi, Vangogh, Moza, Newton Quan điểm này đã
làm hẹp đi phạm vi nghiên cứu của các nhà khoa học, làm hạn chế khả năng
thu thập số liệu nghiên cứu bởi vì chỉ mô tả. Trong khi đó, chúng ta đều biết
khả năng sáng tạo hay hoạt động sáng tạo không chỉ có ở những thiên tài mà
còn tiềm ẩn trong mỗi cá nhân.
Tổng hợp các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học trên thế
giới, có thể tiếp cận nghiên cứu sáng tạo theo bảy xu hướng chính, đó là
[15, tr 35]:
• Tiếp cận thần bí
• Tiếp cận thực dụng
• Tiếp cận động lực tâm lý
• Tiếp cận trắc đạc tâm lý
• Tiếp cận nhận thức
• Tiếp cận xã hội – nhân cách
• Tiếp cận hội tụ
Với bảy xu hướng tiếp cận này có thể thấy có nhiều góc độ khác nhau
để nghiên cứu về sáng tạo. Cách tiếp cận thần bí cho ta thấy sáng tạo
giống như một phạm trù vô cùng bí ẩn mà thần thánh ban tặng cho con
người, tiếp cận thần bí đã làm cho kết quả nghiên cứu khoa học càng trở
nên khó tiếp cận và khó tin tưởng. Ngày nay, cách tiếp cận này không còn
phổ biến trong khoa học.

loạt các quá trình tâm lý đi vào hai giai đoạn này như là sự phục hồi, liên
tưởng, tổng hợp, chuyển hóa…
Tiếp cận xã hội – nhân cách: cùng với tiếp cận nhận thức, tiếp cận xã
hội – nhân cách tập trung vào nghiên cứu nhân cách, động cơ và môi trường
văn hóa xã hội như nguồn gốc của sáng tạo. Các nhà nghiên cứu như
Amabile và Csikszentmihalyi đã đưa ra được đặc điểm nhân cách của người
sáng tạo như khả năng phê phán độc lập, tự tin, bị lôi cuốn bởi tính phức tạp,
định hướng mỹ học và ưa mạo hiểm… Nếu như tiếp cận nhận thức bỏ qua
việc xem xét khía cạnh nhân cách và xã hội thì tiếp cận xã hội – nhân cách
lại bỏ qua việc nghiên cứu quá trình sáng tạo. Như vậy, dù có nghiên cứu
tiếp cận theo hướng nào cũng chỉ là một chiều và đơn tuyến. Do đó, cách tốt
nhất là sử dụng tiếp cận đa ngành trong nghiên cứu sáng tạo.
Tiếp cận hội tụ: những nghiên cứu gần đây cho rằng cần phải có nhiều
yếu tố giúp cho sáng tạo xuất hiện. Có thể nói tiếp cận hội tụ cho phép xem
xét sáng tạo theo các chiều cạnh khác nhau. Ở cấp độ lý thuyết, Amabile mô
tả sáng tạo như sự hội tụ của động cơ bên trong, những kiến thức và kỹ năng
lĩnh vực phù hợp và những kỹ năng sáng tạo phù hợp. Sternberg và Lubart
đưa ra lý thuyết đầu tư sáng tạo. Theo lý thuyết này, sáng tạo đòi hỏi phải có
sự hội tụ của 6 nguồn lực khác biệt nhưng liên quan với nhau: năng lực trí
tuệ, kiến thức, kiểu tư duy, nhân cách, động cơ và môi trường.
Như vậy, trong tâm lý học chưa có nhiều nghiên cứu về sáng tạo so
với các chủ đề khác. Tuy nhiên, bằng những tiếp cận vừa mới được đề cập
ở trên cũng cho thấy một sự đa dạng nhất định. Tổng hợp các cách tiếp
cận nghiên cứu sáng tạo, có thể quy về những hướng tiếp cận nghiên cứu
sáng tạo như sau:
Hướng thứ nhất: tiếp cận nghiên cứu sáng tạo dưới góc độ quá trình
Các nhà nghiên cứu sáng tạo đã đi đến thống nhất rằng quá trình sáng
tạo bao gồm nhiều bước với sự tham gia của hai loại hiện tượng tâm lý: hiện
tượng lôgic và hiện tượng trực giác. Biểu hiện của cả hai hiện tượng này rất
đa dạng phong phú và ở những người khác nhau, sản phẩm sáng tạo xuất

quyết vấn đề); Sản sinh ý tưởng (đưa ra những phướng án có thể cho việc
giải quyết vấn đề); Kiểm tra ý tưởng (kiểm tra từng ý tưởng đã đưa theo sự
phù hợp với vấn đề); Đánh giá sản phẩm (lựa chọn cấu trả lời cho vấn đề).
Hogarth(1980) cũng đề xuất quá trình sáng tạo gồm 4 bước: chuẩn bị; đưa
ra giải pháp; đánh giá giải pháp; áp dụng giải pháp. Stein (1967) lại đề
xuất xem xét mô hình quá trình sáng tạo chỉ với 3 bước: hình thành giả
thuyết; kiểm tra giả thuyết; trao đổi kết quả.
Theo Csikszentmihalyi, ông nghiên cứu tính sáng tạo dưới góc độ quá
trình nhưng nhấn mạnh yếu tố hứng thú, đam mê, nhấn mạnh vai trò của thời
gian rảnh rỗi, của yếu tố trực giác. Ông là người đưa ra thuật ngữ Dòng sáng
tạo - để chỉ dòng chảy dẫn đến kết quả, đến sự phát hiện. Sự thích thú, sự
cuốn hút của chính công việc làm người sáng tạo đắm mình trong diễn biến
của sự kiện, tình huống xảy ra trong tư duy; người sáng tạo hòa vào dòng
chảy cho đến khi ý tưởng sáng tạo xuất hiện mà không ý thức được sự tồn
tại tách bạch của mình trong suốt quá trình đó. Mỗi người sáng tạo theo
những cách khác nhau, nhưng người sáng tạo giống nhau ở một điều: “họ
yêu thích công việc họ làm”.
Csikszentmihalyi khẳng định sáng tạo tiềm ẩn trong mỗi con người,
và để tìm hiểu bản chất của sáng tạo, phải tìm hiểu cơ chế của hứng thú và
những yếu tố nào có mặt trong dòng sáng tạo. Ông đã chỉ ra các yếu tố sau
tham gia vào dòng sáng tạo: Hứng thú làm việc; có mục tiêu rõ ràng trong
từng bước đi; có mặt của thông tin phản hồi trên mỗi hành động; sự cân
bằng giữa thách thức và kỹ năng; hành động và ý thức thống nhất; sự phân
tán bị loại bỏ khỏi ý thức; không có nỗi lo thất bại; tự ý thức biến mất; cảm
giác thời gian không tồn tại; hoạt động trở thành mục đích tự thân.
Như vậy quan niệm dòng sáng tạo theo Csikszentmihalyi được hiểu là
sáng tạo tiềm ẩn trong mỗi con người, và dòng sáng tạo xuất hiện khi con
người có hứng thú làm việc, có mục tiêu rõ ràng trong từng bước đi, có mặt
của thông tin phản hồi trên mỗi hành động, có sự cân bằng giữa thách thức
và kỹ năng, có sự thống nhất giữa hành động và ý thức, sự phân tán bị loại

không phù hợp; tư duy theo chiều ngang có thể tiến hành theo cách nhảy
cóc; tư duy theo chiều dọc có thể cung cấp một câu trả lời tốt, nhưng chúng
ta cũng cần tư duy theo chiều ngang để có câu trả lời vĩ đại.
Tiếp cận theo thành tố: Sternberg đưa ra lý thuyết ba thành tố là: (1)
tiếp thu kiến thức, (2) quá trình kiểm tra, lập kế hoạch và ra quyết định ở cấp
độ cao; (3) thực hiện nhiệm vụ.
Tư duy ẩn dụ và giải quyết vấn đề sáng tạo
Kịch bản xã hội: là quá trình giải quyết vấn đề nhóm với những nút
xoắn. Theo cách bản chất, giải quyết vấn đề nhóm được đặt trong bối cảnh
kịch tính. Cá nhân liên quan tập trung và quyết định vấn đề, đặt nó trong môi
trường kịch tính, phân vai và sau đó thực hiện.
Sáng tạo như hoạt động tư duy giải quyết vấn đề mới: Trên cơ sở học
thuyết hoạt động tâm lý của Leonchiev, tác giả Phạm Thành Nghị (2011)
cho rằng tư duy sáng tạo cần được xem như một hoạt động giải quyết vấn đề
chứ không thể xem xét đơn giản như một thao tác hay một kỹ năng. Hoạt
động tư duy giải quyết vấn đề mới này bao gồm các thành tố động cơ (mà
chủ yếu là động cơ trong), hành động lôgíc và hành động trực giác.
Như vậy, các mô hình quá trình sáng tạo vừa được điểm qua đều bao
gồm các bước, tuy có những điểm nhấn mạnh hay phân tách khác nhau,
nhưng những mô hình này đều hàm chứa các bước xác định vấn đề hay cơ
hội, thu thập thông tin, hình thành ý tưởng và đánh giá. Sự cam kết với quá
trình sáng tạo không phải lúc nào cũng dẫn đến sản phẩm sáng tạo nhưng nó
sẽ tạo điều kiện cho việc hình thành và phát triển các ý tưởng, sản phẩm hay
quá trình sáng tạo.
Hướng thứ hai: Tiếp cận nghiên cứu sáng tạo như thuộc tính
nhân cách
Các nhà nghiên cứu như Csikszentmihalyi, Winner, Dacey & Lennon
đã nghiên cứu sáng tạo và đang tìm chứng cứ để khẳng định các đặc điểm
nhân cách có liên quan đến sáng tạo. Sau những nghiên cứu, khảo nghiệm
các học giả này đã chỉ ra các phẩm chất nhân cách có liên quan mật thiết với

cứu này có thể thấy là tác giả Eward De Bono với hướng tiếp cận thực
dụng trong nghiên cứu sáng tạo. Ông dùng công cụ là phương pháp 6 chiếc mũ
tư duy để khuyến khích tạo ra sản phẩm sáng tạo từ những quan điểm khác
nhau. Osborn đi theo khuynh hướng này, phát triển kỹ thuật công não để
khuyến khích mọi người giải quyết vấn đề sáng tạo bằng cách tìm nhiều lời giải
có thể có trong một không khí xây dựng hơn là phê phán [15, tr 37].
Hướng thứ tư: tiếp cận nghiên cứu sáng tạo theo lý thuyết thành tố
sáng tạo của Amabile
Lý thuyết thành tố của sáng tạo của Amabile (1983) cho rằng sáng tạo
được tạo ra bởi sự tương tác giữa ba thành tố chính: (1) Những kỹ năng lĩnh
vực phù hợp, (2) Những kỹ năng sáng tạo phù hợp và (3) Động cơ công việc hay
động cơ nội sinh. “Những kỹ năng lĩnh vực phù hợp” có thể được coi là cơ sở
cho bất kỳ quá trình sáng tạo nào trong một lĩnh vực cụ thể. Thành tố này bao
gồm kiến thức dữ liệu, kỹ năng kỹ thuật và những tài năng đặc biệt trong một
lĩnh vực cụ thể. “Những kỹ năng sáng tạo phù hợp” bao gồm kiểu nhận thức, khả
năng áp dụng phương pháp sáng tạo để khám phá những con đường nhận thức
mới và cách làm việc lý thú. “Động cơ công việc” bao gồm các chỉ báo động cơ
quyết định cách tiếp cận của cá nhân tới một công việc cụ thể. Có thể tóm lược
về lý thuyết ba thành tố sáng tạo mà Amabile đưa ra trong bảng dưới đây:
Bảng 1.1: Các thành tố của sáng tạo
1
NHỮNG KỸ NĂNG
2
NHỮNG KỸ NĂNG
3
ĐỘNG CƠ
LĨNH VỰC PHÙ HỢP
Bao gồm:
- Kiến thức về lĩnh vực
- Kỹ năng kỹ thuật đòi

cơ của mình để thực
hiện công việc
Phụ thuộc vào:
- Mức độ khởi điểm
của động cơ nội sinh
đối với công việc
- Sự có mặt hay vắng
mặt những cản trở
bên ngoài
- Khả năng của cá
nhân giảm thiểu những
cản trở bên ngoài
Bên cạnh các hướng nghiên cứu về sáng tạo nêu trên, còn có các hướng
nghiên cứu như: Nghiên cứu sáng tạo dưới góc độ văn hóa. Các tác giả Carl
Roger, M.Stein. L.X. Vưgốttxki.v.v… đã nghiên cứu những yếu tố văn hóa
tác động đến tính sáng tạo của con người. Đây là cơ sở để xây dựng môi
trường phát triển cho mỗi cá nhân và cho cả cộng đồng; Nghiên cứu sáng
tạo dưới góc độ nhân cách. Các tác giả như Lewis Terman, MacKinnon,
M.Stein…nghiên cứu nhân cách của những người nổi tiếng và từ đó tổng
hợp được một số phẩm chất đặc trưng của một nhân cách sáng tạo. Đây là cơ
sở để định hướng và phát triển những nhân cách sáng tạo trong thực tiễn;
Nghiên cứu dưới góc độ sinh lý thần kinh. Các tác giả như E.A. Spitzka,
Thomas S.Harvey, Guilford… đã nghiên cứu một số bộ não thông minh
nhằm lý giải dưới góc độ sinh học về hoạt động, cấu tạo của não như thế
nào để dẫn đến ý tưởng sáng tạo mới. Nhưng kết quả nghiên cứu về thần
kinh là cơ sở quan trọng về mối tương quan giữa sinh lý và tâm lý;
Nghiên cứu sáng tạo dưới góc độ phân tích sản phẩm hoạt động. Các tác
giả B.Gheselin, M.Stein, G.Claussa, Guilford… đã phân tích một số sản
phẩm sáng tạo nổi tiếng và từ đó chỉ ra những tiêu chí đặc trưng của một
sản phẩm sáng tạo. Đây là cơ sở để đánh giá và công nhận mức độ sáng

này, tác giả đã trình bày một cách cơ bản về bộ test sáng tạo TSD-Z của
Klaus K.Urban (cơ sở lý thuyết, kỹ thuật thực hiện test, kỹ thuật chấm bài
test cũng như kỹ thuật xử lý và phân tích số liệu test) và những ứng dụng ở
nước ngoài, những nghiên cứu thích ứng TSD-Z của Urban vào Việt Nam.
Trước đó, năm 1998, tác giả Nguyễn Huy Tú cũng chính là người đã Việt
hóa Test sáng tạo hữu ngôn – TST – N của Schoppe hay còn gọi là Bộ trắc
nghiệm VKT. Đây là bộ Test đo trí sáng tạo của các khách thể là những
người từ 15 tuổi trở lên (được coi là đã có năng lực ngôn ngữ phát triển đầy
đủ). VKT hay TST là một trong 5 bộ test sáng tạo được các chuyên gia hàng
đầu trong lĩnh vực này khuyên dùng ở Cộng hòa Liên bang Đức hiện nay.
Tuy sử dụng vật liệu ngôn ngữ nhưng VKT của K.J.Schoppe là một bộ test
đo tiềm năng sáng tạo nói chung chứ không phải chỉ dùng để đo tính sáng
tạo trong hoạt động ngôn ngữ. Kế thừa những nghiên cứu của tác giả
Nguyễn Huy Tú, tác giả luận văn sử dụng test VKT (hay TST) của
K.J.Schoppe đã được Việt hóa vào quá trình nghiên cứu của mình như là
một công cụ để đo mức độ tính sáng tạo của sinh viên.
Năm 2000, tác giả Đức Uy viết trong cuốn Tâm Lý học sáng tạo, đã
chỉ ra động lực sáng tạo, vai trò của giao tiếp, trực giác và tưởng tượng trong
sáng tạo khoa học, vai trò của tư duy sáng tạo và một số phẩm chất cơ bản
của người sáng tạo [17].
Năm 2011, tác giả Phạm Thành Nghị, trong cuốn sách “Những vấn
đề Tâm lý học sáng tạo” đã làm rõ được bản chất của sáng tạo và chỉ ra được
những đặc điểm nhân cách sáng tạo, làm rõ được cơ sở sinh học và xã hội
của sáng tạo, phân tích được mối quan hệ giữa sáng tạo và các hiện tượng
tâm lý khác từ đó nêu nên những ứng dụng sáng tạo trong tổ chức và việc
giáo dục, phát triển năng lực sáng tạo[14].
Năm 2012, cuốn “Giáo trình Tâm lý học sáng tạo” được tác giả
Phạm Thành Nghị viết đã hệ thống hóa những kiến thức về bản chất của
sáng tạo, cơ sở sinh học, xã hội của sáng tạo, mối quan hệ giữa sáng tạo với
các hiện tượng tâm lý khác như trí thông minh, tư duy, tưởng tượng, động cơ

Đại học Quốc gia Hà Nội đã bắt đầu đưa môn học Tâm lý học sáng tạo vào
giảng dạy cho học viên cao học từ năm 2009 do PGS.TS Phạm Thành Nghị
đảm nhiệm. Môn học này trang bị cho học viên cao học những kiến thức về
bản chất của sáng tạo, cơ sở sinh học, xã hội của sáng tạo, bản chất của
sáng tạo, mối quan hệ giữa sáng tạo với các hiện tượng tâm lý khác…
cũng như kiến thức về phương pháp nghiên cứu sáng tạọ dưới góc độ tâm
lý học.
Tóm lại, tổng hợp các hướng nghiên cứu về sáng tạo trên thế giới và
nghiên cứu sáng tạo tại Việt Nam cho thấy sự đa dạng trong nghiên cứu
về sáng tạo. Các hướng nghiên cứu có thể là khác nhau nhưng có thể bổ
sung và phối hợp với nhau. Nghiên cứu về sáng tạo có thể tiến hành một
cách độc lập hoặc có thể phối hợp trong nhiều lĩnh vực khoa học hay thực
tiễn. Trong đề tài này, tác giả cho rằng sáng tạo phải được tìm hiểu ở
nhiều chiều cạnh khác nhau. Sáng tạo có trong nó cả yếu tố nhận thức
nhưng nó cũng bao hàm trong đó như là thuộc tính của nhân cách, và do
đó không thể nghiên cứu phiến diện ở một góc độ mà phải nghiên cứu ở
nhiều chiều cạnh. Với lý do đó, trong mô hình ba thành tố của tính sáng
tạo mà Amabile đưa ra, tác giả luận văn nhận thấy hội tụ đầy đủ các yếu
tố về nhận thức, nhân cách để nghiên cứu tính sáng tạo. Vì vậy, luận văn
chọn hướng tiếp cận theo lý thuyết ba thành tố sáng tạo của Amabile làm
cơ sở lý luận để nghiên cứu tính sáng tạo của sinh viên.
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm sáng tạo
1.2.1.1 Khái niệm
Có nhiều quan điểm khác nhau về sáng tạo và chúng ta có thể xem
xét khái niệm sáng tạo dưới nhiều góc độ khác nhau.
Dưới góc độ Ngôn ngữ học, sáng tạo được hiểu là làm ra cái gì đó
chưa hề có, khái niệm này tương đối gần gũi và được coi là cách hiểu cụ thể
nhất về sáng tạo.
Dưới góc độ Xã hội học, sáng tạo được hiểu là thành phần, kiểu,

của chúng với giải pháp cuối cùng. Sáng tạo được coi là hoạt động giải
quyết vấn đề đặc trưng bởi tính mới mẻ, phi truyền thống, sự bền bỉ và khó
khăn trong hình thành vấn đề (Newell và đồng nghiệp, 1962) [14, tr9].
Guilford đưa ra định nghĩa sáng tạo trong mối quan hệ với năng lực cá
nhân của người sáng tạo. "Theo nghĩa hẹp, sáng tạo liên quan đến những
năng lực đặc trưng cho những người sáng tạo. Hay nói cách khác, vấn đề
tâm lý học liên quan đến nhân cách sáng tạo Tôi thường xác định nhân
cách cá nhân như một kiểu thuộc tính độc nhất làm một người khác với
những người khác. Nhà tâm lý học đặc biệt quan tâm đến những đặc điểm
được biểu hiện trong thực hiện hành động hay trong các đặc điểm hành vi.
Các thuộc tính hành vi diễn ra phụ thuộc vào các cấu thành lớn như năng
lực, hứng thú, thái độ và các thuộc tính của khí chất Nhân cách sáng tạo là

Trích đoạn Thành tố thứ nhất: Kỹ năng lĩnh vực phù hợp Kết quả tính sáng tạo đo bằng Trắc nghiệm TST Các yếu tố ảnh hưởng đến tính sáng tạo của sinh viên Đối với sinh viên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status