1
1
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
o Lý do chọn đề tài:
Chính sách quản lý vốn lỏng lẻo và không phù hợp là nguyên nhân chính để các ngân
hàng có động lực tham gia các hoạt động rủi ro. Vì vậy cần có một nghiên cứu phân tích
và đánh giá về mối quan hệ giữa rủi ro ngân hàng và chính sách quản lý vốn nhằm giúp
những ai quan tâm có cái nhìn chính xác hơn về sự vận động của rủi ro ngân hàng.
o Mục tiêu nghiên cứu:
Làm rõ 3 vấn đề mục tiêu:
- Xác định mối quan hệ giữa chính sách và quản lý vốn
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động tới mối quan hệ đó
- Liên hệ các khung pháp lý thực tiễn
3 mục tiêu trên
o Phương pháp nghiên cứu
o Nội dung nghiên cứu
o Đóng góp của đề tài
Hướng phát triển của đề tài
2
2
Chương 1: Giới thiệu
1.1. Lý do chọn đề tài:
Thế giới hiện nay đang ngày càng bất ổn cả về chính trị lẫn hoạt động kinh tế. Cuộc
khủng hoảng tài chính năm 2008 đã giúp cho những nhà nghiên cứu và nhà đầu tư tài
chính thừa nhận những điểm yếu được bộc lộ từ các mô hình dự báo tài chính. Nguyên
nhân chính là với một chính sách quản lý vốn lỏng lẻo, trong một môi trường cạnh tranh
đồng nhất sẽ không bao giờ đem lại được sự ổn định về tài chính cho một hệ thống gồm
những ngân hàng không hề đồng nhất về khẩu vị rủi ro, về tiềm lực tài chính.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu:
Bài nghiên cứu tập trung trả lời những vấn đề sau đây để làm rõ mục tiêu nghiên cứu:
Thứ nhất: Xác định và phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới sự khác biệt tham số trong
phản ứng của từng ngân hàng riêng lẻ thuộc các quốc gia khác nhau đối với rủi ro thanh
khoản và rủi ro vỡ nợ. Nhóm nghiên cứu thực hiện bước này bằng cách xây dựng các
biến giải thích trên những cơ sở lý thuyết nhất định rồi dùng phương pháp GMM để
kiểm tra các mối quan hệ giữa các biến có thực sự tồn tại hay không.
Thứ hai: Những phản ứng khác nhau của các ngân hàng riêng lẻ đối với rủi ro thay đổi
như thế nào khi gặp phải sự thay đổi của chính sách quản lý vốn. Nhóm nghiên cứu sử
dụng công cụ Local Polynomial Smoothing để minh họa mối quan hệ giữa chính sách
quản lý vốn và rủi ro ngân hàng nhằm cho thấy một điều rằng: với các loại rủi ro khác
nhau, tác động của chính sách quản lý vốn đối với khẩu vị rủi ro của từng ngân hàng sẽ
khác nhau.
Thứ ba: Sau khi làm rõ các nhân tố ảnh hưởng và xác định rõ mối quan hệ giữa chính
sách quản lý vốn và rủi ro ngân hàng, liên hệ với khung pháp lý thực tiễn của các quốc
gia hiện còn những thiếu sót gì, và các ngân hàng nên dừng hay tiếp tục các hoạt động
làm tăng cường rủi ro cho chính bản thân mình.
Với việc giải quyết những vấn đề trên theo phương pháp nghiên cứu khoa học truyền
thống, bao gồm đo lường được mức độ đa dạng của rủi ro ngân hàng trong nhiều hệ
thống ngân hàng khác nhau, với các khung pháp lý về vốn khác nhau, cùng với việc xác
4
4
định những nhân tố nào ảnh hưởng đến sự đa dạng đó, mục tiêu cuối cùng mà nhóm
nghiên cứu nhắm tới chính là việc cung cấp một cái nhìn mới về mối quan hệ rủi ro
ngân hàng – chính sách quản lý vốn cho các tổ chức ngân hàng, các cơ quan chức năng
định quản lý vốn và rủi ro mà ngân hàng chấp nhận. Mục tiêu của chương này là làm
rõ các cơ sở lý thuyết mà nhóm nghiên cứu đã sử dụng làm nền tảng cho mô hình định
lượng của mình thông qua các nghiên cứu trước đây
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Nhóm nghiên cứu trình bày mô tả các biến trong
mô hình, phương pháp ước lượng, dữ liệu, mô hình hồi quy, nguồn download dữ liệu và
cách thu thập dữ liệu.
Chương 4: Kết quả ước lượng mô hình, thảo luận kết quả. Từ kết quả ước lượng rút
ra được từ mô hình, nhóm nghiên cứu xác định được những biến nào trong các biến đã
đặt ra ban đầu là những nhân tố ảnh hưởng tới sự khác biệt trong rủi ro ngân hàng đối
với chính sách quản lý vốn đối với từng tổ chức ngân hàng khác nhau.
Chương 5: Kết luận. Nhóm trình bày tổng kết về bài nghiên cứu và các ưu, nhược điểm
còn sót lại trong quá trình nghiên cứu 6
6
Chương 2: Những bằng chứng thực nghiệm trên thế
giới về mối quan hệ giữa quy định quản lý vốn và rủi
ro mà ngân hàng chấp nhận.
2.1. Các bằng chứng về sự tồn tại mối quan hệ phức hợp giữa chính
sách quản lý vốn và rủi ro ngân hàng:
Muốn xác định những nhân tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa chính sách quản lý vốn
và rủi ro ngân hàng, trước tiên phải xác định sự tồn tại của mối quan hệ đó. Nguyên
nhân Hiệp ước Basel ra đời chính là do sự không đồng nhất trong các phương thức hoạt
động kinh doanh của các ngân hàng thuộc các quốc gia khác nhau, nhằm đưa các ngân
hàng thế giới vào một khuôn khổ quản lý chung. Tuy nhiên, việc chúng ta đang xét đến
đây là việc đưa ra một bộ quy tắc chung như thế đã thực sự hiệu quả hay chưa?
Đối với tổ chức ngân hàng, ngoài những bất hoàn hảo thị trường thông thường như thuế,
bất cân xứng thông tin, chi phí giao dịch, chi phí phòng ngừa rủi ro phá sản…2 khía
cạnh cần được xem xét đầu tiên là khả năng tiếp cận nguồn vốn an toàn của ngân hàng,
cụ thể là bảo hiểm tiền gửi, thứ hai là một bộ phận nhỏ các nhà đầu tư nắm giữ nợ ngân
hàng. Dựa trên những khám phá của Kahane (1977), Kareken và Wallace (1978) và
Sharpe (1978), Santos đã rút ra được vai trò của quản lý vốn thông qua bảo hiểm tiền
gửi: Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng được bảo hiểm toàn bộ, và vì vậy không có
động lực để điều chỉnh lợi nhuận kỳ vọng theo những hoạt động rủi ro của ngân hàng.
Nghiên cứu của Santos kết luận: việc nâng cao tính nghiêm ngặt trong tiêu chuẩn vốn
điều lệ có thể làm cho các ngân hàng hoạt động ổn định hơn nhưng đó là một điều vô
cùng tốn chi phí và việc ước tính được các chi phí đó hoàn toàn không rõ ràng. Những
trung gian tài chính khác, các kênh huy động vốn khác như phát hành trái phiếu, cổ
phiếu đều không phải là những biện pháp thay thế hoàn hảo cho tiền gửi ngân hàng, và
đều rất tốn kém. Để phòng ngừa rủi ro thì phải tăng cường chi phí hoạt động, điều này
có thể dẫn tới làm giảm hiệu quả kinh doanh, từ đó gia tăng rủi ro tổng thể cho ngân
hàng.
Tác giả James R. Barth trong nghiên cứu “Bank regulation and supervision: What works
best” trong năm 2004 đã xây dựng một bộ dữ liệu chéo về bằng chứng thực nghiệm ở
hơn 100 quốc gia, thời gian quan sát từ năm 1999 đến 2004 nhằm đánh giá các chính
sách thanh tra và quản lý vốn tác động thế nào đến sự phát triển ổn định và bền vững
8
8
của ngân hàng. Kết quả cho thấy, chính sách quản lý vốn điều lệ càng thay đổi theo
chiều hướng thắt chặt thì tỷ lệ nợ xấu trong các ngân hàng càng giảm, kết luận được
rằng yếu tố chính sách quản lý vốn có tương quan mật thiết và bền vững đến rủi ro ngân
hàng.
Tuy nhiên, vẫn còn những thiếu sót tồn tại trong hệ thống những lý thuyết đã được về
mối quan hệ giữa chính sách quản lý vốn và rủi ro ngân hàng: hầu như tất cả các mô
Nghiên cứu của Kim và Santomero năm 1988 đã xây dựng phương pháp ước lượng mối
quan hệ giữa các tiêu chuẩn pháp lý về vốn và một danh mục gồm tiền gửi ngân hàng và
các tài sản rủi ro khác nhau trên tổng nguồn vốn. Kết quả cho thấy, thay đổi trong các
tiêu chuẩn về vốn pháp định khiến ngân hàng có động lực cơ cấu lại danh mục đầu tư
của mình, sự thay đổi này đồng thời sẽ điều chỉnh lại rủi ro. Điều này có nghĩa là tồn tại
những nhân tố thuộc về các đặc trưng của ngân hàng có thể ảnh hưởng lên rủi ro khi
chính sách quản lý vốn thay đổi.
Trong nghiên cứu “Bank regulation under non-binding capital guidelines” năm 1992,
tác giả Sarah Kendall lần đầu tiên xây dựng một mô hình miêu tả sự ảnh hưởng của một
đặc trưng nổi bật của ngân hàng: tỷ suất vốn hóa (capitalization) lên chính sách quản lý
vốn và rủi ro ngân hàng. Mô hình của tác giả xem xét giá trị thị trường cuối kỳ của các
ngân hàng được chọn một cách ngẫu nhiên qua một hàm số tỷ lệ chi trả cổ tức. Tuy kết
quả cho thấy rằng tác động của các tiêu chuẩn vốn lên tỷ suất vốn hóa là phi tuyến tính
và không rõ ràng, nhưng cũng có thể kết luận được khi các tham số của chính sách quản
lý vốn tăng lên, các ngân hàng có động lực để tăng thêm vốn, mở rộng hoạt động kinh
doanh đầu tư. Thế nhưng có một phát hiện thú vị là khi tỷ suất vốn hóa càng lớn thì khả
năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng càng giảm, do các ngân hàng lớn thường không có
nhiều động lực lao vào các hoạt động đầu tư dưới chuẩn. Một kết luận đặc biệt được rút
ra từ nghiên cứu này: Khi chính sách quản lý vốn thay đổi, một vài ngân hàng sẽ có
động lực thay đổi nhân tố ảnh hưởng là tỷ suất vốn hóa thị trường, từ đó làm thay đổi
khả năng chấp nhận rủi ro, tuy nhiên sự thay đổi này không thể hiện một xu hướng
chung cho toàn hệ thống ngân hàng, nghĩa là vẫn sẽ có những ngân hàng với tỷ suất vốn
hóa lớn có phản ứng giữ nguyên đối với rủi ro.
Nghiên cứu của Beatty và Gron vào năm 2001 – Capital, Portfolio and Growth – Bank
behavior under risk-based capital đã kiểm tra một mẫu các ngân hàng của Mỹ từ năm
1986 đến năm 1995. Hai tác giả đã xây dựng một mô hình nhằm xác định các nhân tố
10
10
tích ước lượng gộp giữa 2 nhân tố “hiệu quả hoạt động” và “tiềm lực tài chính” của từng
ngân hàng riêng lẻ. Mẫu quan sát được sử dụng là hệ thống ngân hàng ở Châu Âu và
Châu Mỹ. Những kết quả cho thấy các ngân hàng được đặc trưng bởi tính cạnh tranh rất
cao, xác định một mối quan hệ rõ ràng giữa mức độ tiềm lực tài chính và hiệu quả hoạt
động. Các ngân hàng kinh doanh tốt với lợi nhuận cao thì nhiều khả năng là những ngân
11
11
hàng có ảnh hưởng rất lớn trong toàn hệ thống. Áp dụng với nhiều quốc gia với chính
sách quản lý vốn khác nhau, mô hình cũng cho ra những kết quả tương tự.
Một nghiên cứu nữa được thực hiện trong thời gian gần đây là đề tài của Jokipii và
Milne vào năm 2010 – Bank capital buffer and risk adjustment decisions. Nghiên cứu
này lại đóng góp thêm cho ta một cái nhìn mới về vai trò của “nguồn vốn đệm” (capital
buffer) trong mối quan hệ giữa khẩu vị rủi ro và nguồn vốn ngân hàng. Sự điều chỉnh
gần đây nhất trong khung chính sách quản lý vốn của Basel II là việc tập trung nhiều
hơn vào nguồn vốn điều lệ cần thiết khi mỗi ngân hàng phải đối mặt với những rủi ro cụ
thể. Thông thường, thắt chặt các chính sách quản lý vốn sẽ làm giảm mức độ chấp nhận
rủi ro của ngân hàng. Tuy nhiên, nếu ngân hàng đã tự điều chỉnh giảm nguồn vốn đệm
và tổng nguồn vốn theo rủi ro, khi đó sự điều chỉnh trong các chuẩn nguyên tắc của
Hiệp ước Basel không ảnh hưởng nhiều đến tỷ lệ vốn trên tổng tài sản hay rủi ro danh
mục như đã lo ngại.
2.3. Sự cần thiết đối với một nghiên cứu về mối quan hệ giữa chính
sách quản lý vốn tại và mức độ chấp nhận rủi ro trong hệ thống ngân
hàng ở Đông Nam Á, Hồng Kông, Nhật Bản.
Những nghiên cứu trên của các tác giả đi trước đã dần dần hoàn thiện một cái nhìn tổng
quát và toàn diện nhất về sự tác động của các chính sách quản lý vốn đối với khả năng
chấp nhận rủi ro ngân hàng, đồng thời đóng góp và bổ sung rất nhiều vào việc xây dựng
những giả thiết và kết luận của nhóm chúng tôi. Tuy nhiên, đa số những nghiên cứu trên
thực sự phát triển với các chính sách quản lý và bộ khung pháp lý hoàn thiện, đầy đủ
cũng là một trong những nguyên do nhóm nghiên cứu quyết định thực hiện tìm hiểu mối
quan hệ giữa rủi ro ngân hàng và chính sách quản lý vốn ở khu vực này. Tuy Hồng
Kông và Nhật Bản đã là những cường quốc trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, nhưng
vì đây là các trung tâm tài chính của các ngân hàng khu vực Đông Nam Á nói riêng và
Châu Á nói chung, việc đưa hai quốc gia này vào vẫn đảm bảo tính đa dạng của ngân
hàng trong mối quan hệ được ước lượng. Việc thu thập dữ liệu ở các nước Đông Nam Á
nhằm nghiên cứu xem tại những nước đang phát triển, những quy định chung về quản lý
vốn tại hệ thống các ngân hàng sẽ ảnh hưởng như thế nào đến mức độ rủi ro mà những
ngân hàng trong khu vực có thể chấp nhận. Mô hình nghiên cứu cũng tìm ra những kết
quả sát với thực tiễn các ngân hàng tại Việt Nam.
13
13
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp ước lượng LGMM:
Trong bài nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy Local
Generalized Methods of Moment (LGMM). Đây thực chất là sự kết hợp giữa phương
pháp hồi quy phi tham số Local Polynomial Smoothing và kỹ thuật ước lượng
Genaralized methods of moment (GMM). Nhóm nghiên cứu xin trình bày sơ lược về
những điểm chính của 2 phương pháp này:
3.1.1. Generalized Methods of Moment (GMM):
Đây là một phương pháp ước lượng được sử dụng khá phổ biến trong nghiên cứu và
thống kê. GMM thường được dùng để thống kê các thông số hồi quy của cả 2 loại mô
hình tham số (parametric) và phi tham số (non-parametric). Những tính chất quan trọng
của GMM là:
- Tính nhất quán (consistency)
- Tính chuẩn tiệm cận (Asymptotic normality)
15
15
3.1.2. Local Smoothing Regression:
Local Smoothing Regression là một phương pháp ước lượng phi tham số kết hợp nhiều
mô hình hồi quy lại với nhau trong một mô hình hồi quy duy nhất. Trong thực tế rất
hiếm khi ta gặp trường hợp phân phối chuẩn trong nghiên cứu thống kê, những giả định
của phương pháp bình phương bé nhất nghiễm nhiên bị vi phạm. Do đó OLS không
phải là một phương pháp thực sự thích hợp để diễn tả mối quan hệ này. Vì vậy một
phương pháp ước lượng mới đã ra đời nhằm khắc phục nhược điểm này, đó là Local
Regression. Trong nghiên cứu về các mô hình tuyến tính thông thường, người ta luôn
giả định rằng mô hình đã hoàn toàn phù hợp và việc còn lại chỉ là tập trung vào việc làm
sao cho hệ số ước lượng khớp nhất với hệ số của mô hình. Local Regression đòi hỏi ta
phải thay đổi mục tiêu ước lượng, chuyển từ việc làm sao đạt được hệ số ước lượng
chính xác nhất sang việc làm sao để mô hình phù hợp nhất. Mô hình Local Regression
có dạng: Với
()x
là một hàm chưa biết và
i
là sai số ngẫu nhiên của mô hình.
Các thành phần chính của mô hình Local Regression:
- Hệ số băng thông (Bandwidth)
các nước Đông Nam Á: Malaysia, Indonesia, Singapore, Thailand, Philippines, Brunei,
Laos, Cambodia, Việt Nam, cùng hai định chế tài chính lớn khác ở khu vực Châu Á là
Hồng Kông và Nhật Bản, mẫu quan sát được lựa chọn trong suốt thời kỳ từ năm 2000 –
2013. Mẫu dữ liệu bao gồm một số ngân hàng đã bị sáp nhập hoặc ngưng hoạt động từ
sau năm 2008 - 2009, để bao gồm cả tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
năm 2008 lên hệ thống các định chế tài chính trung gian. Thông tin về các biến ở cấp độ
ngân hàng đều là những thông tin thu thập được trên báo cáo tài chính, thu thập được từ
trang web chia sẻ dữ liệu ngân hàng Bankscope. Tất cả đều được thu thập từ báo cáo tài
chính hợp nhất đã kiểm toán. Nhóm nghiên cứu đã trải qua nhiều lần chạy thử và chọn
lọc, loại bớt một số quan sát gây ra lỗi trong ước lượng. Bảng sau mô tả số ngân hàng
và số quan sát tìm được từ mỗi nước:
17
17 Bảng 1: Số lượng quan sát và số lượng ngân hàng trong từng quốc gia
Quốc gia
Số lượng ngân hàng
Số lượng quan sát
Malaysia
Indonesia
Singapore
Thailand
Philippines
Brunei
Laos
Cambodia
Việt Nam
18
1 2 3it t it t it
r a R a B a M e
3.3. Mô hình hồi quy:
Nhìn chung, để đạt được mục tiêu chính của bài nghiên cứu này, nhóm đã sử dụng 2 mô
hình hồi quy chính:
Mô hình hồi quy thứ nhất:
(1)
Trong đó
it
r
là biến phụ thuộc đo lường khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng i
trong thời gian t,
it
R
là biến độc lập thứ nhất đại diện cho chính sách quản lý vốn của
ngân hàng bao gồm Capitalization, Efficiency, Market Power và Bank size;
it
B
là biến
độc lập thể hiện những đặc trưng của ngân hàng, được đo lường bởi 2 chỉ số chính là
capital regulation và minimum capital requirements; và
t
M
là biến điều khiển những
nhân tố kinh tế vĩ mô, được đặc trưng bởi các thước đo GDP growth và CPI inflation.
Đây là mô hình được xây dựng dựa trên mô hình hồi quy gốc của phương pháp LGMM
()
ln ln ln
it it it it
c b b q b w e
(2)
Với
c
là tổng chi phí của ngân hàng i tại thời điểm t (đo lường bằng chi phí thực), q là
doanh thu ngân hàng (đo lường bằng giá trị tài sản thực),
it
w
là giá của 3 biến đầu vào
(tài trợ quỹ, tính bằng tỷ lệ chi phí lãi vay đối với tổng tiền gửi; chi phí vốn, tính bằng tỷ
lệ chi phí hoạt động đối với tổng chi phí cố định ; và chi phí lao động, tính bằng tỷ số
chi tiêu cho người lao động trên tổng tài sản) và
it
e
là sai số ngẫu nhiên.
Định nghĩa và phương pháp đo lường các biến trong mô hình sẽ được trình bày trong
phần tiếp theo
3.4. Phương pháp đo lường các biến:
3.5. Mô tả các biến:
a. Biến phụ thuộc
it
r
:
Bài nghiên cứu này xem xét yếu tố “khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng”, hay
khẩu vị rủi ro của ngân hàng, thay đổi như thế nào đối với các nhân tố thay đổi trong
chính sách quản lý vốn, cùng các điều kiện ở cấp độ ngân hàng và cấp độ vĩ mô. Do đó
Trong đó, ROA là tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản, EA là tỷ lệ vốn cổ phần trên tổng tài
sản và
()ROA
là độ lệch chuẩn ROA được tính trên tổng thời gian quan sát 14 năm từ
2000-2013. Lưu ý rằng đề tài của Delis, Kien Tran và Tsionas năm 2011 đã sử dụng
()ROA
trên cơ sở 3 năm gần nhất, điều này là chính xác hơn khi đo lường những ngân
hàng lớn và tỷ suất sinh lợi ít biến động như các ngân hàng ở Mỹ, Châu Âu và Úc. Bài
nghiên cứu của nhóm tập trung vào các ngân hàng ở khu vực Đông Nam Á cùng Hồng
Kông và Nhật Bản, đa phần là những ngân hàng mới thành lập và đang trên đà phát
triển, vì vậy việc sử dụng
()ROA
được tính dựa trên số năm quan sát lớn sẽ bao hàm
được quá trình hoạt động của các ngân hàng hơn. Do biểu đồ phân phối của Z khá nhọn
ở đỉnh, nhóm nghiên cứu sử dụng logarithm tự nhiên để bảo đảm phân phối chuẩn của
biến này. Chỉ số Z càng cao cho thấy ngân hàng càng khó mất thanh khoản. Vì tính phổ
biến vốn có, chỉ số Z được dùng trong khá nhiều nghiên cứu thực tiễn như nghiên cứu
của Boyd năm 2006, Laeven và Levine năm 2009.
21
21
Độ lệch chuẩn của ROA: Một chỉ tiêu nữa được nhóm nghiên cứu sử dụng là
()ROA
22
22
quản lý vốn của hàng chục hệ thống ngân hàng trên thế giới qua những thông tin mình
thu thập được, trong đó 2 chỉ số minimum capital requirements và capital regulation
index được bài nghiên cứu này mạn phép sử dụng làm biến đo lường mức độ quản lý
vốn. Dữ liệu của biến được lấy từ paper gốc xuất bản năm 2001 và các paper cập nhật
vào năm 2003 và 2008.
Tỷ suất vốn hóa thị trường (Capitalization): được đo lường bằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu
cổ đông thường trên tổng tài sản. Đây là một chỉ tiêu khá phổ biến trong phân tích tài
chính. Nhóm nghiên cứu không đi quá sâu vào việc giải thích ý nghĩa biến này.
Hiệu quả hoạt động (Efficiency): là chỉ tiêu được đo lường bằng tỷ lệ thu nhập hoạt
động trên tổng chi phí hoạt động. Tỷ số này cho thấy rõ với một đồng chi phí hoạt động
bỏ ra thì ngân hàng tạo được bao nhiêu đồng doanh thu
Quy mô ngân hàng (Bank size): được đo lường bằng cách lấy logarith tự nhiên của của
tổng tài sản. Lưu ý rằng, muốn việc so sánh quy mô khác nhau của các ngân hàng từ
nhiều quốc gia khác nhau có ý nghĩa thì phải quy đổi các biến định lượng theo cùng một
đơn vị nhất định
Tiềm lực tài chính (Market power): Tiềm lực tài chính là nhân tố ảnh hưởng đến mối
quan hệ giữa chính sách quản lý vốn và khẩu vị rủi ro ngân hàng, lần đầu tiên được nhắc
đến trong nghiên cứu của Agoraki năm 2011 - Regulations, competition and bank risk-
taking in transition countries. Đây là biến thể hiện mức độ ảnh hưởng của các ngân
hàng vay lên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Agoraki đã tin rằng những ngân hàng với
tiềm lực tài chính lớn sẽ ít phải gánh chịu rủi ro thanh khoản và rủi ro vỡ nợ. Nhóm
nghiên cứu đo lường tiềm lực tài chính trong bài nghiên cứu này bằng một phương pháp
được phát triển bởi 2 tác giả Delis và Tsionas: Lerner index. Chỉ số Lerner này được
tính bằng công thức:
( ) /
qq
của mô hình không đáng kể. Vì vậy, nhóm quyết định chỉ sử dụng 2 nhân tố này như
một công cụ gọi là biến kiểm soát (control variables), là những biến được đưa vào mô
hình nhằm làm giảm bất cứ tác động nào có thể gây nhiễu cho các biến tố khác hoặc cho
việc diễn giải kết quả của nghiên cứu.
Tính thanh khoản được đo lường bằng tỷ lệ tài sản có tính lỏng trên tổng tài sản.
Tăng trưởng doanh thu là tỷ lệ tăng trưởng doanh thu hằng năm, được tính theo công
thức
1
1
tt
t
PP
P
với
t
P
là doanh thu năm t.
24
24
Bảng 2: Tổng hợp các biến trong mô hình
Loại biến
Tên biến
Ký hiệu biến
Cách đo lường
Nguồn
Bankscope
Mức độ quản lý
vốn
Capital regulation
Thu thập từ paper của Barth
Bankscope
Tỷ suất vốn hóa
Capitalization
Bankscope
Hiệu quả hoạt
động
Efficiency
Bankscope
Quy mô ngân
hàng
Bank size
Ln(tổng tài sản)
Bankscope
Tiềm lực tài
chính
Market power
( )/
qq
it it it it
1
tt
t
PP
P
Bankscope
25
25 Một trong những khó khăn lớn nhất mà nhóm nghiên cứu gặp phải là sự nội sinh của
các biến quy định. Trong phạm vi của mối quan hệ phức hợp này, các dữ liệu lịch sử
cho thấy rằng nếu một ngân hàng có rủi ro cao trong quá khứ sẽ tạo áp lực cho những cơ
quan chức năng nhanh chóng điều chỉnh lại khuôn mẫu chính sách quản lý và môi
trường áp dụng. Chiều ngược lại cũng có thể đúng: chính sách quản lý của nhà làm luật
có thể trở nên lỏng lẻo hơn khi nền kinh tế bước vào thời kỳ tăng trưởng, vì vậy sẽ thúc
đẩy ngân hàng tăng cường hoạt động đầu tư và kinh doanh dưới chuẩn, tạo ra nhiều rủi
ro hơn.
Các bước được thực hiện trong chương tiếp theo của nhóm nghiên cứu gồm:
Bước 1: Thống kê mô tả dữ liệu:
- Thống kê mô tả dữ liệu hồi quy được.
Bước 2: Trình bày kết quả hồi quy:
- Trình bày các kết quả hồi quy của các biến giải thích, nhằm mục đích xác định
các nhân tố ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa chính sách quản lý vốn và rủi ro
ngân hàng.