Nghiên cứu chiết tách và xác định thành phần hóa học tinh dầu cây sả chanh ở quận cẩm lệ đà nẵng - Pdf 18

1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
KHOA HÓA
   Nghiên cứu chiết tách và xác định thành
phần hóa học tinh dầu cây sả chanh
ở quận cẩm lệ - Đà Nẵng
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN KHOA HỌC

GVHD: Ths TRẦN ĐỨC MẠNH
SVTH : PHÙNG THỊ ÁI HỮU
LỚP : 08CHD
2

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài:
Xã hội ngày càng phát triển ngoài những mặt tích cực của nó thì nó còn kéo
theo vô số hậu quả khôn lường trong đó đặc biệt số những người mắc bệnh ngày
càng tăng lên với biến chứng khó lường và nguy hiểm hơn. Việc tìm và sử dụng
nguồn nguyên liệu từ thực vật để làm tăng hệ thống miễn dịch, giúp điều trị bệnh là
một vấn đề thiết yếu mà xã hội đặt ra cho khoa học chúng ta với phương châm
“Thực phẩm của chúng ta chính là thuốc của chúng ta”
Trong số những cây xung quanh trong cuộc sống thường ngày thì sả là một

- Phạm vi nghiên cứu: Quá trình chiết tách, xác định chỉ số vật lý xác định
thành phần và cấu trúc một số hợp chất trong tinh dầu củ sả chanh. Quá trình thực
nghiệm được tiến hành ở phòng thí nghiệm Hóa học, trường Đại học Sư pham Đà
Nẵng.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu:
4.1. Nghiên cứu lý thuyết:
- Tổng quan tài liệu, tìm hiểu thực tế về cây sả chanh
4.2. Nghiên cứu thực nghiệm:
 Phương pháp vật lý:
- Thu gom và xử lý mẫu cây sả chanh
- Xác định độ ẩm toàn phần
 Phương pháp hóa học
- Khảo sát thời gian chiết tối ưu và ảnh hưởng của thời gian sau thu hoạch
đến lượng tinh dầu
- Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước
- Xác định thành phần hóa học của tinh dầu sả chanh dựa vào phương pháp
sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS)
4

- Xác định các chỉ số hóa lí: độ ẩm; tỉ trọng; chỉ số khúc xạ, khả năng hòa
tan trong cồn ở các cấp độ khác nhau; chỉ số axit, chỉ số este, chỉ số xà phòng hóa

Ở nước ta sả chanh được trồng trên khắp cả nước trên các vùng đồn điền
trang trại, vườn nhà gia đình, mỗi nhà một vài khóm để sử dụng hàng ngày.
1.1.3. Giá trị sử dụng của cây sả chanh :
- Cây sả chanh là loại cây có tinh dầu với tỉ lệ 1,5 – 2,5 % trong lá, được
dùng làm gia vị và làm thuốc. Người ta sử dụng bẹ lá, lá, thân, rể dùng để ướp nấu
thực phẩm (cá, thịt…). Lá sả chanh thường dùng để nấu nước gội đầu cho sạch gàu,
trơn tóc, tạo mùi thơm.
- Ngoài ra khi trồng sả chanh với hệ rể phong phú, sả chanh là cây giữ đất,
phù đất, chống xói mòn ở nơi đất dốc, đất khô.
- Được dùng làm rau ăn, gia vị (nhân dân thường dùng ăn sống hoặc tẩm
ướp cho thơm các món ăn), nước chấm.
- Trong vườn chỗ có bụi sả, rắn thường phải tránh xa, người ta cho rằng vì
sả có mùi thơm mà rắn rất kỵ.
- Theo tài liệu nước ngoài, ở Ấn Độ, sả chanh được dùng để làm thơm thức
ăn, nước hãm lá sả để giải khát.
- Sả chanh còn được dùng để sản xuất tinh dầu
1.1.4. Giá trị dƣợc học :
- Theo Đông y, sả chanh vị the, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng làm ra mồ
hôi, thông tiểu tiện và tiêu thực. Sả chanh được dùng chủ yếu làm thuốc chữa cảm
sốt, đầy bụng, tiêu chảy.
- Ở Campuchia, lá sả chanh phối hợp với các vị thuốc khác để điều trị bệnh
ho và làm thuốc xông. Rễ cây lợi tiểu và hạ nhiệt cũng được dùng làm các chế phẩm
7

để điều trị bệnh ho, đau gan và sốt rét. Lá có khi được hãm làm thuốc uống lợi tiêu
hoá được dùng sau các bữa ăn.
- Ở Thái Lan, thân rễ dùng trị bạch đới; thân rễ và chồi lá dùng diệt muỗi. Ở
Vân Nam (Trung Quốc), cây được dùng làm thuốc khử trùng, dùng trong các loại
thuốc trị giun.
- Ở Indonesia, rễ sả chanh phối hợp với nhiều vị thuốc khác chữa bệnh vàng

dùng làm hương liệu. Lá và thân dùng làm thuốc như sả chanh. Ở Quảng Châu-
Trung Quốc toàn cây dùng trị bệnh liệt dương.
1.2.2. Sả màu, sả lùn (Cympobogon coloratus):
Cây cỏ sống lâu năm, nhỏ bé, thấp, mọc thành bụi, màu lục nhạt, lá hẹ, thuôn
dài, mọc tập trung ở góc thân, bẹ lá rất hẹp.
Phân bố ở Ấn Độ, cũng được trồng ở nước ta bằng các đoạn thân rể, ít khi
gặp cây có hoa.
Cây rất thơm, cũng cho tinh dầu. Thành phần chính của tinh dầu này là :
citronellal và geranniol.
1.2.3. Sả hoa dày (Cympobogon confrertiflorus)
Cây cỏ cao 1,5-1,8m, có mùi thơm của sả chanh. Lá rất dài, bẹ khá rộng và
có màu đo đỏ ở trong, không rụng, mo hình ngọn giác rộng, khá lớn, cỡ 1-2 cm,
màu tím nâu hoặc đen đen, dài hơn cuốn hoa chung, dài bằng các chùm dạng bông
Phân bố ở Xrilanca, Lào và Việt Nam. Ở nước ta, có gặp ở núi Ninh Bình,
núi Sam tỉnh An Giang. Cây được trồng ở độ cao 1200m.
Cây cho tinh dầu với hàm lượng thấp và phẩm chất kém hơn các loại sả, gần
với tinh dầu sả Xrilanca. Lá của sả này thường dùng làm tranh lợp nhà.
1.2.4. Sả dịu (Cympobogon Flexuosus)
Cây cỏ cao 2-2,5m. lông dài 30cm, rộng 7-8mm, lá dài 70-90cm, rộng 1cm,
lưỡi bẹ cao 6-7mm. Mo nhỏ 1,2-1,5cm, dài gấp ba lần cuống hoa chung, chùy hoa
thưa ở 1/3 thân, màu xám có nhánh và nhánh nhỏ kéo dài, mảnh thường thong
9

xuống, có khớp ở góc ngọn, với các mắt có lông mịn, chùm hoa ngắn 8-10mm, có 3
đốt, cuống riêng dưới hơi dài hơn so với cái trên, đốt có lông.
Phân bố ở Ấn Độ, Myanma, Thái Lan hoặc được trồng thuần hóa hoặc ở hầu
hết các khu vực trong vùng nhiệt đới, những nước được trồng nhiều là: Ấn Độ,
Mandagaxca, Indonexia. Ở nước ta, cây mọc hoang và cũng được trồng nhiều.
Sả dịu được trồng để làm nguyên liệu lấy tinh dầu trong chế biến thực phẩm,
làm hương liệu và làm thuốc như sả chanh. Tinh dầu có mùi thơm sả chanh, rất

phòng thơm và dùng trong kỹ nghệ hương liệu.
1.2.7. Sả Xrilanca (Cympobogon Nardus):
Cây cỏ sống dại, mọc thành bụi, cao 0,8-1,2m. Thân rễ to, lát cắt ngang có
màu đỏ, lá phẳng hình dài, dài tới 1m, rộng 0,5-1,5cm, có mép sắc, lưỡi bẹ mỏng
cao 1-2mm.
Chùy hoa cao 80cm, xòe rộng mang nhiều chùm mọc đứng, có là bắc cho
từng cặp chùm. Bông chét dài 3-5mm, có cuống và không cuống, cuống màu tím
hay đỏ. Bông chét lưỡng tính không cuống dài 4-4,5mm, hình ngọn giáo nhọn, mày
1 dài 4-4,5mm, mỏng, có lườn với cánh hẹp, nguyên hay chia 2 ren nhỏ ở đỉnh, 2-4
gân giữa ở đỉnh, 2-4 gân giữa các lườn, mày nhỏ 1 ngắn hơn, hình dải, chia hai rất
ngắn. Bông chét có cuốn là bông đực, dài 3,8-4,3 mm, hình ngọn giáo nhọn.
Phân bố ở Ấn Độ, Xrilanca, Indonexia. Loài sả này cũng được trồng ở nhiều
nước khác trong đó có Việt Nam.
Được dùng chiết tinh dầu có mùi chanh, nhưng hàm lượng không cao và
phẩm chất kém hơn sả thường
Ở Campuchia người ta dùng sả này phối hợp với các vị thuốc khác để điều trị
bệnh ho và thuốc xông. Rễ có tác dụng chữa lợi tiểu, hạ nhiệt, cũng được dùng làm
thuốc trị họ, đau gan, sốt rét. Lá hãm uống làm thuốc lợi tiêu hóa, lợi trung tiện, tinh
dầu làm thuốc kích thích, toát mồ hôi gây xung huyết da. Ở Vân Nam - Trung Quốc
dùng làm thuốc sát trùng trị giun.
11

1.2.8. Sả tía (Cympobogon Pendulu)
Sả này gần giống với sả Xrilanca nhưng khác ở những điểm sau: thân rất cao
tới 2.5m, lá dài 1m, gân giữa rất dầy ở gốc, mo dài đến 2cm, dài hơn cuốn chung
của hoa.
Cụm hoa dài 30-50 cm, thuôn, thưa, phân nhánh đến 3 bậc, nhánh nhỏ hơi
cong có khi lượn sóng khá ngoằn ngoèo, các nhánh sơ cấp dài, mảnh, có đốt xa
nhau
Phân bố ở Ấn Độ, Indonexia, Austrailia. Ở nước ta gặp ở Uông Bí- Ninh

Nguyên Sau năm 1975 đã được đưa trồng tại nhiều nơi ở Tây Nguyên và miền
Đông Nam. Sả Java đã được trồng trên diện tích lớn tại Trung Quốc, lndonesia, Ấn
Độ, Ghana, Brazil, Guatemala, Haiti và Honduras.
Đặc điểm sinh học: Sả Java sinh trưởng thuận lợi ở những khu vực có khí
hậu nhiệt đới và á nhiệt đới ẩm, có độ cao dưới 500m (so với mặt biển). Nhiệt độ
trung bình tối thích cho sinh trưởng phát triển của sả Java nằm trong khoảng 22-27
Tinh dầu sả này có từ 20-40% geraniol và citronellol, 40-60% citronellal.
Vị cay, mùi thơm, tính ấm; lá có tác dụng trừ ho; thân rễ có tác dụng lợi tiểu,
hạ sốt, điều kinh, trợ đẻ.
Ở Campuchia, lá Sả Java phối hợp với các vị thuốc khác để điều trị bệnh ho
và làm thuốc xông. Rễ cây lợi tiểu và hạ nhiệt cũng được dùng làm các chế phẩm để
điều trị bệnh ho, đau gan và sốt rét. Lá có khi được hãm làm thuốc uống lợi tiêu hoá
được dùng sau các bữa ăn. Ở Thái Lan, thân rễ dùng trị bạch đới; thân rễ và chồi lá
dùng diệt muỗi. Ở Vân Nam (Trung Quốc), cây được dùng làm thuốc khử trùng,
dùng trong các loại thuốc trị giun.
1.3. Tổng quan về tinh dầu:
1.3.1. Khái quát chung:
Tinh dầu là hỗn hợp của nhiều cấu tử dễ bay hơi, có mùi thơm hay mùi hắc
khó chịu được tách ra từ các bộ phận của thực vật, là sản phẩm của quá trình chiết
và chưng cất nguyên liệu.
13

Tinh dầu là sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất và không được sử
dụng trở lại trong hoạt động sống của cây. Mỗi loài tinh dầu lấy từ các nguồn
nguyên liệu khác nhau thì có mùi vị khác nhau, phụ thuộc vào thành phần của các
hợp chất chứa trong đó
Hệ thực vật có tinh dầu gồm khoảng 3000 loài, trong đó có 150-200 loài có ý
nghĩa công nghiệp như kỹ nghệ xà phòng thơm, nước hoa, bánh kẹo, nước giải
khát…
1.3.2. Thành phần cấu tạo:

H
24
Sesquitecpen
4
C
20
H
32
Ditecpen
5
C
25
H
40
Sestectecpen
6
C
30
H
48
Tritecpen
8
C
40
H
64
Tetratecpen
n
(C
5

- Độ tươi: Nguyên liệu bị khô, dập, úng cũng ảnh hưởng đến hàm lượng và chất
lượng tinh dầu. Nên tránh để dồn đống nguyên liệu đưa đến sự phát nhiệt bên trong
làm thối rữa nguyên liệu. Cần phơi héo nguyên liệu thích hợp, tốt nhất phơi héo
trong bóng mát vì nếu nhiệt độ lên quá 40
0
C một số cấu phần trong tinh dầu sẽ bay
hơi. Nhưng độ héo cũng ảnh hưởng đến hàm lượng và chất lượng tinh dầu. Do đó,
nếu để nguyên liệu héo trong một thời gian dài sẽ đưa đến giảm khối lượng tinh dầu
chứa trong nguyên liệu. Mặt khác, việc này cũng sẽ dẫn đến một số cấu phần không
bền trong tinh dầu bị phân hủy làm cho tinh dầu thu được không còn chất lượng tự
nhiên. Do đó, trước khi ly trích tinh dầu, nguyên liệu cần được phơi héo, cần phải
15

khảo sát hiệu suất và thành phần hóa học của tinh dầu theo thời gian để héo để biết
cần để héo trong thời gian bao nhiêu lâu là thích hợp nhất.
- Độ sạch: Nguyên liệu càng sạch thì chất lượng tinh dầu thu được càng cao. Do
đó khi ly trích cần phải làm sạch, loại bỏ bẩn, các đối tượng không phải nguyên liệu
cần ly trích ra khỏi nguyên liệu, không được để lẫn vào.
1.3.5. Tinh dầu sả:
Ở nhiệt độ thường là chất lỏng, màu vàng, có mùi thơm đặc biệt, không tan
trong nước và nhẹ hơn nước. Thành phần chính của tinh dầu sả là citral (32-35%) và
geraniol (23%)
1.3.5.1. Geraniol:
 Có công thức phân tử là C
10
H
18
O.
 Hợp chất thuộc loại ancol không no có hai nối trong phân tử mạch không
vòng:

2
OH
CH
3
CH
3
E

 Chất lỏng không màu, t
s
= 229
0
C, khối lượng riêng d= 0,881g/cm
3
, không tan
trong nước, tan trong etanol hoặc ete.
 Geraniol còn có trong tinh dầu các loại hoa hồng, khuynh diệp, cải hương
16

1.3.5.2. Citral:
 Công thức phân tử : C
9
H
15
CHO (2,6-octadienaol,3,7-dimethyl, (Z))
 Citral là hỗn hợp của hai đồng phân hình học: dạng Z geranial (citral b), dạng
E là neral (citral b)
CH
3
CHO

lượng riêng ở 20
0
C là 0,8888g/cm
3
; chiết xuất với tia D ở 20
0
C là 1,48982.
 Neral (citral a) có mùi chanh nhưng dịu hơn, không mạnh bằng geranial; t
s

2,6 mmHg là 91-92
0
C ; khối lượng riêng ở 20
0
C là 0,8869 g/cm
3
; chiết xuất
với tia D ở 20
0
C là 1,48690.
1.3.5.3. Công dụng :
- Geraniol được dùng rộng rãi trong công nghiệp hương liệu và mỹ phẩm
- Geraniol phối hương dùng trong công nghiệp thực phẩm và mỹ phẩm
- Geraniol giúp điều chỉnh cho các lô tinh dầu thô xuất khẩu có hàm lượng
geraniol đồng đều
- Geraniol nguyên liệu để sản xuất chất thơm (xitronelal )
17

- Geraniol dùng làm chất sát trùng, hạ huyết áp
- Citral được dùng trong công nghiệp mỹ phẩm, thực phẩm, trong y học.

2.1.1. Nguyên liệu:
Nguyên liệu là củ sả chanh được lấy ở quận Cẩm lệ, thành phố Đà Nẵng

Hình 2.1
2.1.2.Xử lý nguyên liệu:
Cây sả chanh được thu mua về, dùng phần củ sả chanh (tính từ gốc trở lên
khoảng 10cm) sau đó phơi héo, rửa sạch, xắt mỏng ( xem hình 2.2, 2.3)


19 Hình 2.3: N
2.1.3. Thiết bị - dụng cụ và hóa chất.
2.1.3.1. Thiết bị - dụng cụ:
 Bộ chưng cất lôi cuốn hơi nước (bộ nhẹ hơn nước)
 Máy GC-MS ( trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 2)
 Tủ sấy, cân phân tích, cốc thủy tinh, bình tam giác, ống nghiệm, bếp điện,
các loại pipet, bình định mức, bình hút ẩm, phễu chiết
2.1.3.2. Hóa chất:
 KOH, HCl chuẩn 0.1N, phenolphthalein, Na
2
SO
4
khan, axeton, etanol tuyệt
đối


20


Hóa lý
Xác định thành
phần hóa học
21

Trước khi làm cần kiểm tra thật cẩn thận thiết bị chưng cất, chú ý xem nút nhám
có nứt, mẻ hay không, phần ngưng tụ có bị tắc, rò rỉ không, sau đó đem vệ sinh thiết
bị.
Ba công đoạn cơ bản của quá trình chưng cất tinh dầu (chưng cất gián đoạn)
gồm: nạp liệu, chưng cất và tháo bả.
- Nạp liệu:
Nguyên liệu đã được xử lý được nạp vào thiết bị. Nguyên liệu nạp vào thiết bị
không được chặt quá làm cho nước khó phân phối đều trong toàn bộ khối nguyên
liệu và chiếm 2/3 thể tích thiết bị. Sau đó cho nước vào trong thiết bị chứa nguyên
liệu, lượng nước cho vào phải ngập đầy nguyên liệu. Khi đã xong, dùng vazơlin bôi
đều trên miệng nút nhám ở cả miệng thiết bị trên ống sinh hàn và ống gạn tinh dầu,
sau đó lắp khít vào.
- Chưng cất :
Trong quá trình chưng cất, cần điều chỉnh nhiệt độ dịch ngưng sao cho nằm
trong khoảng 100
0
C, vì nếu dịch ngưng quá nóng sẽ làm tăng độ hòa tan của tinh
dầu vào nước và làm bay hơi tinh dầu. Tiến hành chưng cất trong khoảng 3 giờ
- Tháo bả:
Sau khi chưng cất xong cần để thiết bị nguội hẳn sau đó mới tiến hành lấy bả ra
khỏi thiết bị và làm sạch thiết bị, sấy khô, chuẩn bị cho mẻ kế tiếp. Do tinh dầu dễ
hấp thụ mùi lạ nên thiết bị chưng cất phải được làm vệ sinh sạch sẽ, đặc biệt khi
thay đổi nguyên liệu cần phải làm vệ sinh thiết bị thật kỹ lưỡng để không còn mùi
của nguyên liệu trước, thường thì dùng hơi để xông vào thiết bị để đuổi hết mùi lạ.
 Sau khi chưng cất hoàn tất hỗn hợp tinh dầu và nước sẽ được tách ra bằng

 Phương pháp cơ học: dùng các quá trình cơ học để khai thác tinh dầu như ép,
bào nạo.
 Phương pháp kết hợp: khai thác tinh dầu bằng cách kết hợp giữa quá trình
hóa lý và quá trình cơ học, hoặc sinh hóa (lên men) và cơ học, hoặc sinh hóa
và hóa lý. Ví dụ, trong quả vani, tinh dầu ở dạng liên kết glucozit nên dùng
enzym để thủy phân, phá hủy liên kết này rồi sau đó dùng phương pháp
chưng cất (hóa lý) để lấy tinh dầu.
2.3.1. Chiết tinh dầu bằng phƣơng pháp chƣng cất lôi cuốn hơi nƣớc:
Tinh dầu là một hỗn hợp gồm nhiều cấu tử tan lẫn vào nhau. Trong quá trình
chưng cất, cùng với sự thay đổi thành phần của hỗn hợp lỏng có thể làm thay đổi
thành phần của hỗn hợp hơi. Trong điều kiện áp suất không đổi, dung dịch lỏng mà
23

ta thu được bằng cách ngưng tụ hỗn hợp hơi bay ra sẽ có thành phần cấu tử dễ bay
hơi cao hơn so với chất lỏng ban đầu, nếu tiếp tục chưng cất thì thành phần dễ bay
hơi trong chất lỏng ban đầu càng ít và trong chất lỏng sau ngưng tụ càng nhiều. Nếu
ngưng tụ theo thời gian thì ta có thể thay đổi thành phần của tinh dầu sau ngưng tụ
so với thành phần của tinh dầu có trong nguyên liệu. Việc làm này nhằm mục đích
nâng cao chất lượng tinh dầu. Ví dụ, yêu cầu của tinh dầu sả là hàm lượng
xitronenlal phải >35% nhưng tinh dầu của ta thường chỉ đạt 32 %, do đó có thể
dùng phương pháp chưng cất ngưng tụ theo thời gian để nâng cao hàm lượng
xitronenlal trong tinh dầu sả.
Phương pháp này dựa trên sự thẩm thấu, hòa tan, khuếch tán và lôi cuốn theo
hơi nước của những hợp chất hữu cơ trong tinh dầu chứa trong các mô khi tiếp xúc
với hơi nước ở nhiệt độ cao. Sự khuếch tán sẽ dễ dàng khi tế bào chứa tinh dầu
trương phồng do nguyên liệu tiếp xúc với hơi nước bão hòa trong một thời gian nhất
định.
Trường hợp mô thực vật có chứa sáp, nhựa, acid béo thì khi chưng cất phải
được thực hiện trong một thời gian dài vì những hợp chất này làm giảm áp suất hơi
chung của hệ thống và làm cho sự khuếch tán trở nên khó khăn.

Chính vì đặc tính làm giảm nhiệt độ sôi này mà từ lâu phương pháp chưng
cất hơi nước là phương pháp đầu tiên dùng để tách tinh dầu ra khỏi nguyên liệu thực
vật.
2.3.1.2. Những ảnh hưởng chính trong sự chưng cất hơi nước:
 Sự khuếch tán:
Ngay khi nguyên liệu được làm vỡ vụn thì chỉ có một số mô chứa tinh dầu bị
vỡ và cho tinh dầu thoát tự do ra ngoài theo hơi nước lôi cuốn đi. Phần lớn tinh dầu
còn lại trong các mô thực vật sẽ tiến dần ra ngoài bề mặt nguyên liệu bằng sự hòa
tan và thẩm thấu. Von Rechenberg đã mô tả quá trình chưng cất hơi nước như sau:
“Ở nhiệt độ nước sôi, một phần tinh dầu hòa tan vào trong nước có sẵn trong tế bào
thực vật. Dung dịch này sẽ thẩm thấu dần ra bề mặt nguyên liệu và bị hơi nước cuốn
đi. Còn nước đi vào nguyên liệu theo chiều ngược lại và tinh dầu lại tiếp tục bị hòa
tan vào lượng nước này. Quy trình này lặp đi lặp lại cho đến khi tinh dầu trong các
mô thoát ra ngoài hết.
Như vậy, sự hiện diện của nước rất cần thiết, cho nên trong trường hợp
chưng cất sử dụng hơi nước quá nhiệt, chú ý tránh đừng để nguyên liệu bị khô.
Nhưng nếu lượng nước sử dụng thừa quá thì cũng không có lợi, nhất là trong trường
hợp tinh dầu có chứa những cấu phần tan dễ trong nước.
Ngoài ra, vì nguyên liệu được làm vỡ vụn ra càng nhiều càng tốt, cần làm
cho lớp nguyên liệu có một độ xốp nhất định để hơi nước có thể đi xuyên ngang lớp
này đồng đều và dễ dàng.
Vì các cấu phần trong tinh dầu được chưng cất hơi nước theo nguyên tắc nói
trên cho nên thông thường những hợp chất nào dễ hòa tan trong nước sẽ được lôi
cuốn trước.
25

 Sự thủy giải:
Những cấu phần este trong tinh dầu thường dễ bị thủy giải cho ra acid và
alcol khi đun nóng trong một thời gian dài với nước. Do đó, để hạn chế hiện tượng
này, sự chưng cất hơi nước phải được thực hiện trong một thời gian càng ngắn càng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status