Giỏo dc ý thc phỏp lut
cho hc sinh THPT qua bi 6- chng trỡnh GDCD 12
S GIO DC V O TO THANH HểA
TRNG THPT VNH LC
SNG KIN KINH NGHIM:
GIáO DụC ý THứC PHáP LUậT
CHO HọC SINH THPT QUA BàI 6
CHƯƠNG TRìNH GDCD 12 :
CÔNG DÂN VớI CáC QUYềN
Tự DO CƠ BảN
Trng Trung HcPh Thụng Vnh
Lc
T: S- a - Giỏo Dc Cụng Dõn
Mụn: Giỏo Dc Cụng Dõn
Giỏo Viờn: Nguyn Thanh Hi
Nm hc 2012-2013
CNG TI
Nguyn Thanh Hi- giỏo viờn THPT Vnh Lc
1
Giáo dục ý thức pháp luật
cho học sinh THPT qua bài 6- chương trình GDCD 12
A.ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lời mở đầu.
2. Mục đích nghiên cứucủa đề tài.
3.Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
4. Đối tượng ngiên cứu của đề tài.
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài.
6.Phạm vi nghiên cứu của đề tài.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Do nghành giáo dục có nhiệm vụ: nâng cao dân trí ,đào tạo nhân lực và đào
tạo nhân tài, vì thế giáo dục có nhiệm vụ quan trọng là sự phát triển toàn diện
con người Việt nam trong đó việc hình thành ý thức pháp luật, văn hóa chấp
hành pháp luật- văn hóa pháp lý trong nhân dân. Hoạt động giáo dục pháp luật là
một hoạt động giáo dục cụ thể gắn bó hữu cơ với hoạt động giáo dục nói
chung.Đây là hoạt động có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong chương trình giáo
dục của nền giáo dục Việt nam.
Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt nam lần thứ
VIII đã chỉ rõ: “ Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục lòng yêu nước, chủ
nghĩa Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đẩy mạnh giáo dục pháp luật, đạo
đức, thẩm mỹ, môi trường ,dân số, rèn luyện thể chất cho học sinh”.
Trong thời gian qua công tác giáo dục pháp luật trong hệ thống giáo dục
quốc dân đã có những chuyển biến tích cực cả về nội dung, phương pháp và
hình thức tiến hành.
Tuy nhiên trong một thời gian khá dài công tác tuyên truyền, phổ biến và
giáo dục pháp luật trong các nhà trường chưa thực sự được chú trọng đúng mức,
cho nên sự hiểu biết pháp luật của học sinh còn nhiều hạn chế, dẫn đến tình
trạng một số ít học sinh đã vi phạm pháp luật với mức độ ngày càng gia
tăng.Trong thời gian tiếp theo chúng ta cần có những biện pháp gì ,dặc biệt là
trong môn học GDCD 12 để năng cao chất lượng giáo dục pháp luật trong học
sinh THPT, từ đó năng cao ý tức chấp hành pháp luật cho học sinh, góp phần
giảm thiểu những vi phạm pháp luật của học sinh THPT trong gia đoạn mới.
Chính vì thế mà Luật số 14/2012/QH13 của Quốc hội (Luật này có hiệu lực
thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013 )
Điều 3. Chính sách của Nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật có đoạn viết:
“ 1. Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị,
trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt.
2. Nhà nước bảo đảm nguồn lực cần thiết cho công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật.
3. Thực hiện xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; khen thưởng
dục ý thức pháp luật cho học sinh THPT qua bài 6: Công dân với các quyền tự
do cơ bản”
Ý thức giáo dục pháp luật của một bộ phận học sinh chậm tiến đã có bước
chuyển biến đáng kể. Vì vậy thông qua đề tài này, bản thân chỉ ghi chép lại một
số kinh nghiệm đã làm trong năm học 2012-2013 để mọi người cùng bàn bạc và
góp ý thêm cho phù hợp.
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho
học sinh THPT qua bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản. nhằm cho học
sinh xác định được bản thân mình có những quyền cơ bản gì từ đó xác định
được ý thức pháp luật cho chính bản thân khi bước vào ngưỡng cửa cuộc đời.
3.Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục ý thức pháp luật cho học sinhTHPT
qua bài 6:Công dân với các quyền tự do cơ bản. nhằm cho học sinh xác định
được bản thân mình có những quyền cơ bản gì từ đó xác định được ý thức pháp
luật cho chính bản thân khi bước vào ngưỡng cửa cuộc đời
4. Đối tượng ngiên cứu
Các đối tượng là học sinh THPT ở trường THPT Vĩnh Lộc năm học 2012-
2013 và các biện pháp giáo dục nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của
chính các em.
5 Phương pháp nghiên cứu
Nguyễn Thanh Hải- giáo viên THPT Vĩnh Lộc
4
Giỏo dc ý thc phỏp lut
cho hc sinh THPT qua bi 6- chng trỡnh GDCD 12
- Phng phỏp nghiờn cu lý lun ( thụng qua vic c v phõn tớch cỏc vn bn
cú liờn quan:
B lut dõn s
B lut hỡnh s
B lut t tng hỡnh s
học sinh nh phơng pháp thảo luận nhóm, phơng pháp động não, phơng pháp
đóng vai, phơng pháp nghiên cứu trờng hợp, phơng pháp tổ chức trò chơi, phơng
pháp dự án và các kỹ thuật dạy học tích cực nh kỹ thuật chúng em biết 3, kỹ
thuật đọc hợp tác, kỹ thuật phòng tranh, kỹ thuật KWL
Các phơng pháp kỹ thuật này có thể đợc học theo nhóm, theo lớp, cá nhân
có thể tổ chức học tập theo nhóm trong hoặc ngoài lớp.
Hiện nay do sự phát triển của công nghệ thông tin vào bài giảng đã cho các
em thấy những vấn đề trong thực tế mà không có giáo án nào bù lấp đợc khoảng
trống đó.
Một trong các phơng pháp dạy học mới thờng đợc giáo viên sử dụng đó là
phơng pháp thảo luận nhóm, phơng pháp động não , phơng pháp nghên cứu trờng
hợp điển hình là phù hợp với với khả năng của giáo viên và học sinh.
Tuy nhiên trong thực tiễn dạy học nói chung và dạy môn GDCD hiện nay
nói riêng, phơng pháp này cha đợc giáo viên áp dụng một cách khoa học, thờng
Nguyn Thanh Hi- giỏo viờn THPT Vnh Lc
5
Giỏo dc ý thc phỏp lut
cho hc sinh THPT qua bi 6- chng trỡnh GDCD 12
mang tính đối phó, chiếu lệ và đặc biệt cha có sự chuẩn bị chu đáo, vì thế phần
nào cha phát huy hết tác dụng và tính hiệu quả của nó.
Một trong những phơng pháp dạy học mới thờng đợc giáo viên sử dụng, đó là
phơng pháp thảo luận nhóm. Tuy nhiên trong thực tiễn dạy học nói chung và dạy
môn GDCD hiện nay nói riêng, phơng pháp này cha đợc giáo viên áp dụng một
cách khoa học, thờng mang tính đối phó, chiếu lệ và đặc biệt cha có sự chuẩn bị
chu đáo, vì thế phần nào cha phát huy hết tác dụng và tính hiệu quả của nó.
L mt giỏo viờn ging dy mụn GDCD trng THPT Vớnh Lc hin nay
tụi ó s dng cỏc phng phỏp ny vo nhiu bi ging di nhng hỡnh thc
khỏc nhau nh ch s dng n thun t chc hc sinh tho lun nhúm, phng
phỏp ng nóo , phng phỏp nghiờn cu trng hp in hỡnh, hoc tho lun
nhúm cú s dng phiu hc tp v s dng tranh nh tho lun nhúm.
đổi diễn ra mau lẹ, trên quy mô lớn khiến nhiều ngời không thể tởng tợng nổi :
Chỉ trong khoảng thời gian ngắn mà máy ghi âm, phim ảnh ,điện thoại,đã đợc
đa vào để phục vụ con ngời .Tiếp đó là hàng loạt những thành tựu KH&KT khác
đã lại ra đời trong đó có máy tính điện tử .
Nguyn Thanh Hi- giỏo viờn THPT Vnh Lc
6
Giỏo dc ý thc phỏp lut
cho hc sinh THPT qua bi 6- chng trỡnh GDCD 12
Trong một số thời gian gần đây xã hội loài ngời có sự bùng nổ thông tin , theo
quan điểm truyền thống áp dụng cho thời đại ngày nay thì ba nhân tố cơ bản của
nền kinh tế có ý nghĩa quyết định tới sự phát triển mọi mặt của nền kinh tế-xã
hội là đất đai (bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên ),lao động và t bản không còn
thực sự đúng nữa .
Ngày nay,ngời ta khẳng định rằng : phải là 4 yếu tố then chốt là động lực thúc
đẩy sự phát triển kinh tế một nớc -đất đất đai,lao động,t bản và thông tin,trong
đó thông tin đợc xem là một dạng tài nguyên mới.
Cùng với việc sáng tạo ra hệ thống công cụ mới ,con ngòi từng bớc xây dựng
ngành tin học tơng ứng đáp ứng nhiều cho việc khai thác tài nguyên thông tin với
các nội dung, mục tiêu, phơng pháp riêng ngày càng đa dạng và ứng dụng trong
hầu hét các lĩnh vực của đời sống xã hội.Điểm đặc thù của môn khoa học này là
trong quá trình nghiên cứu và triển khai không tách rời với việc sử dụng máy
tính .
Vậy ta hãy cùng nhau tìm hiểu về việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào giảng dạy bộ môn GD CD ở trơng TH PT trong giai đoạn hiện nay,thực
trạng và những kiến giải của bản thân về vấn đề này .
Sự phát triển mạnh mẽ của KH-KT cung với xu thế quốc tế hoá nền kinh tế
thế giới,xu thế hội nhập quốc tế, đặc biệt khi Việt nam gia nhập WTO ,trở thành
thành viên thứ 150 của tổ chức thơng mại thế giới , ngành GD&ĐT không thể
đứng ngoài cuộc . Đó là sự nghiệp của toàn nhân loại ,.nó kéo theo sự tụt hậu rất
nhanh của cả một quốc gia,một dân tộc .Có thể nói đây vừa là thời cơ vừa là
cho học sinh THPT qua bài 6- chương trình GDCD 12
Hàng loạt các khái niệm pháp luật mà học sinh phải biết, phải tìm hiểu vì chỉ
có 45 phút/ 1 tiết giảng giáo viên không thể chuyển tải hết thông điệp cần thiết
cho học sinh.
Khái niệm: quyền bất khả xâm phạm về thân thể: đó là quyền không ai bị bắt
nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm
sát trừ trường hợp phạm tội quả tang.
Pháp luật cũng quy định cụ thể có 3 trường hợp bắt, giam giữ người:
Trường hợp 1: Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi thẩm quyền mà pháp
luật cho phép có quyền quyết định bắt bị can , bị cáo để tạm giam, khi có căn cứ
xác đáng chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điểu tra , truy tố và
xét xử hoặc tiếp tục phạm tội.
Trường hợp 2: Bắt người trong trường hợp khẩn cấp theo Điều 81 Bộ luật Tố
tụng Hình sự năm 2003.
“ 1. Trong những trường hợp sau đây thì được bắt khẩn cấp:
a.Khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm
trọng hoặc tội phạm cực kỳ nghiêm trọng.
b. Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông
thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện hành vi tội phạm mà xét thấy cần
ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn.
c. Khi thấy có đấ vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của bị nghi thực hiện
tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn hoặc tiêu hủy
chưng cứ.
4. Trong mọi trường hợp việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho Viện
kiểm sát cùng câp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn
cấp để xét phê chuẩn.
Trong thời hạn 12 giờ , kể từ khi nhận được đề nghị phê chuẩn và tài liệu liên
quan đến việc bắt khẩn cấp , Viện kiểm sát phải ra ngay quyết định phê chuẩn
hoặc quyết định không phê chuẩn.
Trường hợp 3:Bắt người đang phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã. Điều
sau:
- Các quyền và nghĩa vụ của ông dân không tự phát sinh hay chấm dứt nếu
không có một văn bản, quyết định áp đụng pháp luật của các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền
- Cơ quan nhà nước ra quyết định xử lý người vi phạm pháp luật hoặc giải
quyết tranh chấp giữa các cá nhân tổ chức. Căn cứ vào các quyết định của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền, người vi phạm pháp luật hoặc các bên tranh
chấp phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Ngành luật : Là tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội.
Bộ luật tố tụng là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định trình tự thủ tục
giải quyết các vụ án dân sự , hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình.
Quy định các quyền tự do cơ bản của công dân thuộc phạm vi điều chỉnh của
bộ luật dân sự, nhưng giải quyết các vụ án hình sự lại thuộc phạm vi điều chỉnh
của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bộ luật hình sự chỉ quy định thế nào là tội phạm và các hình phạt tương ứng
với loại hình tội phạm đó.
Bộ luật hình sự quy định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy
định trong Bộ luật hình sự, do người có đủ năng lực pháp luật hình sự thực hiện,
xâm hại đến các quan hệ xã hội do pháp luật hình sự bảo vệ ( đó là tính mạng ,
tài sản ,danh dự và nhân phẩm của cá nhân, tổ chức, hay của nhà nước.)
Như vậy khái niệm tội phạm phải được cấu thành bởi 4 yếu tố theo quy định
của Bộ luật Hình sự Việt nam đã sủa đổi bổ sung ngày 19/6/2009 chứ không
phải bằng 3 yếu tố như trong sách giáo khoa đã viết: trong đó đã thiếu hẳn yếu
tố khách quan của tội phạm. tội phạm ở đây được hiểu là động từ. khái niệm
trong sách giáo khoa chỉ nói tới một phía là kẻ phạm tội thế họ phạm tội gì ? với
ai ? Nếu học sinh có suy nghĩ sẽ nhìn thấy điều này. Ví dụ :Khái niệm tội phạm
với tội danh giết người nếu chỉ là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định
trong Bộ luật Hình sự, do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện.
Vậy kẻ giết người đó chưa có đối tượng để giết sao trở thành tội phạm.Trong
Hội nghị lần thứ 2 BCH TW khóa VIII tháng 12/ 1996 đã nhấn mạnh “Đặc
biệt đáng lo ngại là trong một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái
về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập
thân”.
Đặc biệt tháng 1/2013 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật đã ra đời và có hiệu
lực thi hành ngày 1/1/2013.
Điều 2 Luật giáo dục khẳng định : “ Mục tiêu giáo dục là đào tạo Việt nam
phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp,
trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi
dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
“ Nhằm định hướng cho việc triển khai thực hiện nhiệm vụ phổ biến giáo dục
pháp luật cho học sinh phổ thông, Bộ giáo dục và đào tạo đã xây dựng cuốn tài
liệu : Phổ biến giáo dục pháp luật trong môn học giáo dục công dân cấp THPT”
và đã đưa vào giảng dạy lồng ghép đúng vào năm học 2012-2013 ở các trường
THPT.Yêu cầu là phải lồng ghép được kiến thức pháp luật trong tất cả các bài
học và các đề kiểm tra ở các khối lớp phần các vấn đề xã hội của khối 10 và 11.
Có thể nói đây là yêu cầu mới và cũng rất khó khi giáo viên phải dạy ở các khối
lớp 10 và 11 THPT.
C. Cơ sở thực tiễn và pháp lý của đề tài nghiên cứu
Nguyễn Thanh Hải- giáo viên THPT Vĩnh Lộc
10
Giáo dục ý thức pháp luật
cho học sinh THPT qua bài 6- chương trình GDCD 12
Trường THPT Vĩnh lộc là ngôi trường nằm cạnh quốc lộ 45 và quốc lộ 217,
lại gần với khu di tích thành nhà Hồ - là di sản văn hóa thế giới vừa được thế
giới công nhận, là điểm đến của nhiều du khác trong và ngoài nước là điều kiện
để giao lưu văn hóa đễ dàng, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của bên ngoài
nhưng cũng bị ảnh hưởng không nhỏ của các mặt trái của cơ chế thị trường với
muôn mặt biểu hiện.
chương trình giáo dục pháp luật tới các em, mong sao các em có được những
hành vi ứng xử đúng pháp luật khi bước vào cuộc sống xã hội đầy rẫy cạm bẫy
và ảnh hưởng mặt trái của cơ chế thị trường thông qua bài 6: Công dân với các
quyền tự do cơ bản chương trình GDCD lớp 12.
III Giải pháp thực hiện
1. Giải pháp thứ nhất: Thiết kế các phương pháp dạy học và kỹ thuật dạy
học sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh.
Nguyễn Thanh Hải- giáo viên THPT Vĩnh Lộc
11
Giáo dục ý thức pháp luật
cho học sinh THPT qua bài 6- chương trình GDCD 12
Trường THPT Vĩnh lộc có tổng số học sinh lớp 12 là 450 học sinh/ 1120 em
toàn trường rải khắp các địa bàn trong huyện.chia thành 9 lớp từ 12a1- 12a9
thành các lớp ban tự nhiên và các lớp ban cơ bản. Các lớp ban tự nhiên các em
có nhận thức tốt hơn vì thế các em biết tự kiềm chế bản thân và có mục đích học
tập đúng đắn hơn, ý thức lập thân lập nghiệp của các em cao hơn so với các em
học sinh ban cơ bản. Vì thế khi tiếp thu các kiến thức pháp luật thì các em có ý
thức cao hơn trong học tập và thực hiện các kỹ thuật dạy học tốt hơn.
Các lớp 12a1, 12a3, 12a5, 12a7 là các lớp có sụ nhận thức cao hơn vì thế
không bao giờ các em biết vi phạm kỷ luật, không bao giờ biết vi phạm nội quy
của nhà trường.
Các lớp 12a2, 12a4. 12a6,12a8, 12a9 hay có học sinh vi phạm nội quy của nhà
trường vì các em luôn muốn khám phá, đua đòi theo cái mới lạ bên ngoài mà
không cần biết hậu quả tiếp theo sẽ là gì? Lại là những lớp có nhiều em bỏ học
đi chơi, đua đòi an chơi, tập làm người lớn , cá tính và hay bắt chước bên
ngoài.
Đây chính là mầm mống dễ làm các em sa đà vào các tệ nạn xã hội, dễ vi
phạm pháp luật. Nội dung giáo dục pháp luật là một phần trong nội dung chương
trình giáo dục các cấp học, đặc biệt là trong cấp học THPT.Giáo dục pháp luật
phải làm thường xuyên trong các trường THPT.
Trang phục,đầu tóc dày dép không cần theo
nội quy vì nó hết sức gò bó và không đẹp,
không mốt.
48/407 359/407
Nguyễn Thanh Hải- giáo viên THPT Vĩnh Lộc
12
Giáo dục ý thức pháp luật
cho học sinh THPT qua bài 6- chương trình GDCD 12
Thích thì đi học mà không thích thì thôi, vì
không có ai làm gì được mình.
27/407 196/407
Cần thiết phải chấp hành đúng nội quy nhà
trường vì nó thực sự giúp cho việc học tập của
học sinh.
359/407 12/407
Chỉ cần đi học và học giỏi còn không cần
tham gia bất kỳ công việc gì của trường.
120/407 287/407
Theo phiếu tổng hợp trên ta thấy số phiếu có ý kiến chấp hành đúng nội quy
và thực hiện tốt các hành vi đạo đức, có xu hướng và mục tiêu học tập đúng đắn
vẫn chiếm sô lượng lớn hơn số học sinh chậm tiến.
Vì thế việc sử dụng các phương pháp dạy học để giáo dục ý thức pháp luật
phải làm sao cực kỳ tế nhị và khéo léo nếu không các em sẽ có sức ép và không
có hứng thú tiêp thu bài học.
Thông qua biểu hiện của các hành vi, ngôn ngữ ứng xử, trang phục của học
sinh, tôi bước đầu đã phân biệt được khả năng của học sinh trong việc tiết chế
hành vi, thực hiện việc chấp hành pháp luật thực sự là gò bó hay coi việc chấp
hành pháp luật là thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Trên đây chỉ là số học
sinh trực tiếp bày tỏ ý kiến còn lại số mà không có trong số liệu điều tra trên
đây là số học sinh không có ý kiến gì và vì thế các em không bày tỏ ý kiến bản
Giáo dục ý thức pháp luật
cho học sinh THPT qua bài 6- chương trình GDCD 12
Các phương pháp mới đã được thực hiện như phương pháp thảo luận lớp,
phương pháp thảo luận nhóm, các kỹ thuật dạy học tích cực như kỹ thuật khăn
trải bàn, kỹ thuật hỏi chun gia,
Chúng ta lần lượt tìm hiểu các phương pháp đó phù hợp như thế nào đối với
học sinh THPT Vĩnh lộc qua bài 6 chương trình GDCD 12:
Tác dụng của các phương pháp mới là có thể phát huy tốt các hoạt động của
học sinh, với phương pháp thảo luận lớp thì khơng cần tốn thời gian thực hiện
phương pháp trong bài 6.
Cách thức tiến hành: Giáo viên nêu vấn đề cần thảo luận.
Học sinh thảo luận ( nêu ý kiến, có thể tranh luận những điều mình chưa rõ,
phản hồi kiến thức.
Giáo viên hoặc đại diện học sinh ghi ý kiến tóm tắt ý kiến thảo luận.
Giáo viên chính xác hóa đáp án. Trong mục c của phần 1.Các quyền tự do
cơ bản, giáo viên nên bổ sung thêm mỗi phần một ví cụ tình huống thảo
luận cho học sinh. Học sinh phải thảo luận trong vòng 5 phút tìm hiểu thêm về
khái niệm cơng dân vói các quyền tự do cơ bản.
Trong đề tài này tơi muốn thực hiện việc sử dụng các phương pháp giảng
dạy cả phương pháp hiện đại và phương pháp truyền thơng để làm sáng tỏ hơn
quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, quyền được bảo đảm an tồn và bí mật về
thư tín, điện thoại điện tín
Tùy theo khối lớp và nhận thức của từng lớp mà có phương pháp giảng dạy
hợp lý.
Khối lớp 12 năm học 2012-2013 gồm 9 lớp,nhận thức của từng khác nhau.
Vì thế sự nhận biết về pháp luật cũng khơng hồn tồn giống nhau. Bản thân
cũng đã thự hiện các phương pháp và các kỹ thuật dạy học cho phù hợp . Các
lớp 12a1,12a3,12a5 là các lớp có sự nhận thức cao hơn trong hành vi, cách ứng
xử với người khác nên nhận thức của các em về các vấn đề pháp luật, các em
cũng có ý thức học hơn. Các em học sinh lớp 12a2,12a4,12a7, 12a6,12a8,12a9 ý
- Biết phê phán các hành vi xâm phạm tới các quyền tự do cơ bản của công
dân.
II. Nội dung:
1. Trọng tâm:
- Khái niệm, nội dung, ý nghóa các quyền tự do cơ bản của công dân, bao
gồm: + Quyền bất khả xâm phạm về thân thể.
- Khái niệm quyền bất khả xâm phạm về thân thể.
- Trách nhiệm của Nhà nước và công dân trong việc bảo đảm và thực hiện
các quyền tự do cơ bản của công dân.
2. Một số kiến thức cần lưu ý:
Quyền tự do cơ bản của công dân là giá trò nhân văn to lớn của xã hội loài
người và mang tính lòch sử đối với mỗi quốc gia – dân tộc .
Đây là thành quả đấu tranh lâu dài của nhân loại tiến bộ , mà bước ngoặt
được đánh dấu bằng cuộc Cách mạng tư sản dân quyền ở Pháp năm 1789.
Ở nước ta, Nhà nước thừa nhận công dân có các quyền tự do cơ bản về
thân thể , tinh thần, tự do lao động và sáng tạo, tự do kinh doanh , học tập và
tự do nghiên cứu khoa học…
Các quyền này được gọi là các quyền tự do cơ bản của công dân, vì nó quy
đònh mối quan hệ cơ bản giữa Nhà nước và công dân và vì nó được ghi nhận
trong Hiến pháp – luật cơ bản của Nhà nùc .
Bài học không đặt ra mục đích tìm hiểu tất cả các quyền tự do cơ bản của
công dân , mà chỉ tìm hiểu một số quyền tự do cơ bản quan trọng đầu tiên đối
với mỗi công dân.
Đây là kiến thức mở rộng, chung, bao quát, cần thiết đối với GV, nhưng
không nhất thiết phải giảng hết cho HS. GV cần hiểu những nội dung sau:
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân được hiểu là:
Nguyễn Thanh Hải- giáo viên THPT Vĩnh Lộc
15
Giáo dục ý thức pháp luật
Kiểm sát không phê chuẩn thì người đã ra lệnh bắt phải trả tự do ngay cho
người bò bắt.
Bắt người đúng pháp luật có nghóa là bắt người theo đúng quy đònh của
pháp luật về thẩm quyền, trình tự và thủ tục.
Ï Mối quan hệ giữa quyền bất khả xâm phạm về thân thể với quyền được
pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.
Giữa quyền bất khả xâm phạm về thân thể và quyền được pháp luật bảo
hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm có mối quan hệ mật thiết
với nhau, và trong một số trường hợp cụ thể, có thể còn có sự giao thoa với
nhau. Vì thế, cần có sự phân biệt các quyền này theo các dấu hiệu:
Nguyễn Thanh Hải- giáo viên THPT Vĩnh Lộc
16
Giáo dục ý thức pháp luật
cho học sinh THPT qua bài 6- chương trình GDCD 12
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể đề cập tới quyền tự do của công
dân, trong đó không ai có thể bò bắt, bò giam cầm một cách tuỳ tiện, vô căn
cứ từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền và từ phía người khác. Mọi hành
vi bắt người, giam giữ người trái pháp luật đều bò xử lí theo quy đònh của
pháp luật hình sự.
ï Trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm các quyền tự do cơ bản của
công dân.
Quyền tự do cơ bản của công dân không chỉ được quy đònh trong các văn
bản pháp luật mà điều quan trọng là phải được bảo đảm thực hiện một cách
hữu hiệu đúng quy đònh của pháp luật.
III.Phương pháp lên lớp :
Thuyết trình, đàm thoại, thảo luận nhóm, tạo tình huống, trực quan,
Học sinh thực hiện các phương pháp:
Thuyết trình, vấn đáp, thảo luận nhóm, tạo tình huống, trực quan,…
Thực hiện một số kỹ thuật dạy học tích cực:
Kỹ thuật KWL, kỹ thuật khăn trải bản, kỹ thuật hợp tác, Kỹ thuật sơ đồ tư
dân:
- Các quyền tự do cơ bản của cơng dân là
các quyền được quy định trong Hiến pháp
và luật.
- Quy định mối quan hệ cơ bản giữa Nhà
Nguyễn Thanh Hải- giáo viên THPT Vĩnh Lộc
17
Giáo dục ý thức pháp luật
cho học sinh THPT qua bài 6- chương trình GDCD 12
Cách thức tiến hành
Thuyết trình, vấn đáp
Thảo luận nhóm.
Kỹ thuật khăn trải bàn.
Kỹ thuật hỏi chuyên gia.
Giáo viên bằng phương pháp thuyết
trình, nhanh chóng làm rõ cho học sinh
hiểu khái niệm quyền tự do cơ bản của
công dân là gì ? ( thời gian 3 phút)
Giáo viên tổ chức thành lập một
nhóm chuyên gia làm các “ Luật sư|”.
Chọn các em cần cù , học giỏi hơn các
bạn khác trong lớp.
Giáo viên yêu cầu học sinh trong lớp
chuẩn bị 1 đến 2 câu hỏi tình huống
liên quan đến quyền bất khả xâm phạm
về thân thể của công dân để hỏi các
“Luật sư”.
Cho học sinh thảo luận bài tập tình
huống số 9 trang 66 sách giáo khoa
GDCD 12.
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Các em theo sự chỉ dẫn của giáo viên,
thành lập ra nhóm các ban học sinh
giỏi hơn trong học tập để hình thành
Hội “ Luật sư” nhằm thảo luận để trả
lời tình huống 9 của sách giáo khoa
trang 66.
Học sinh sẽ thảo luận trả lời => phải
bám được nội dung:
Không ai được tự ý bắt giam giữ người
khi chưa có đủ bằng chứng phạm tội.
Nếu học sinh nào nêu thêm được ý: Nếu
bắt người phải có lệnh bắt thì có thể khen
học sinh đó có nắm được một số ý trong Bộ
luật Tố tụng Hình sự.
Học sinh chú ý nghe giáo viên trình
bày kết luận đáp án tình huống trên.
Học sinh sau khi thảo luận xong
thông qua kỹ thuật khăn trải bàn phải
nêu được :
- Khái niệm quyền bất khả xâm phạm
về thân thể là gì ?
Không ai bị bắt nếu không có quyết định
của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của
Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả
tang
b. Nội dung cơ bản của quyền bất
khả xâm phạm về thân thể của công
dân:
Học sinh sau khi thảo luận xong
bào chữa cho bị cáo hoặc đề nghị Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành
viên của Mặt trận cử người bào chữa cho
thành viên của tổ chức mình (khoản 2 Điều
57 Bộ luật tố tụng hình sự);
- Khơng ai bị coi là có tội khi chưa có bản
án kết tội của Tồ án đã có hiệu lực pháp
luật (Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự);
- Xác định sự thật của vụ án (Điều 10 Bộ
luật tố tụng hình sự). Khi xét xử Tồ án
phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để
xác định sự thật của vụ án một cách khách
quan, tồn diện và đầy đủ, làm rõ những
chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác
định vơ tội, những tình tiết tăng nặng và
những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự của bị cáo;
- Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc
về người tiến hành tố tụng, trong đó có
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân. Bị cáo có
quyền nhưng khơng buộc phải chứng minh
là mình vơ tội.
Giáo viên thuyết trình tiếp: Điều 82 Bộ
luật Tố tung Hình sự ghi rõ:
Đối với trường hợp bắt người trong trường
hợp khẩn cấp thì đòi hỏi phải có lệnh bắt khẩn
cấp của người có thẩm quyền, đó là Thủ
trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các
cấp; người chỉ huy đơn vò quân đội độc lập cấp
trung ương và tương đương; người chỉ huy đồn
- Khi có căn cư cho rằng người đó đnag thực
hiên hành vi tội phạm nghiêm trọng hoặc tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng.
- Khi người bị hại và người có mặt tại nơi xẩy
ra tội phạm chính mắt trơng thấy và xác nhận
đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét
thấy cần phải ngăn chặn ngay việc người đó bỏ
trốn.
- Khi thấy đấu vết của tội phạm ở người hoặc
tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm
và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó
bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
§ Trường hợp 3: Bắt người đang bò truy nã.
Học sinh sau khi thảo luận xong thơng qua
kỹ thuật khăn trải bàn phải nêu được :
C. Ý nghĩa của quyền bất khả xâm
Nguyễn Thanh Hải- giáo viên THPT Vĩnh Lộc
19
Giáo dục ý thức pháp luật
cho học sinh THPT qua bài 6- chương trình GDCD 12
khoûi saân bay, beán caûng.
Đối với người đang bị truy nãvà bị bắt quả
tang thì ai cũng có quyền bắt người và phải áp
giải đến cơ quan công an hoặc UBND nơi gần
nhất.
Sau khi cho học sinh thảo luận
nhóm và kỹ thuật khăn trải bàn,, cử đại
diện trả lời theo ý chung nhất mà mỗi
nhóm đã tổng kết thì giáo viên kết luận
cuối cùng về ý nghĩa của quyền bất
khả xâm phạm vè thân thể của công dân trong bảng dưới đây:
I II
a. Xâm phạm tính mạng của người khác 1. Đánh đập người đó đến chết
b. Xâm phạm sức khỏe của người khác 2. Đánh nhau với người khác gây thương tích
c. Xâm phạm thân thể của người khác 3. Bắt người giải đến cơ quan công an do nghi
nghờ lấy cắp xe đạp.
d. Xâm phạm thân thể của người khác 4. Bắt , giam giữ người, đe dọa đánh đập
người đó.
Giáo viên nên giới thiệu cho học sinh quyền tự do cơ bản là quyền cơ bản nhất
mà con người đã giành được. Pháp luật đã ghi nhận thì bản thân mỗi học sinh
cần giữ gìn nó bằng cách không vi phạm pháp luật để bảo vệ tự do cho chính
mình.
5.Hoạt động tiếp nối:
Dặn dò học sinh về nhà làm bài tập trong SGK và bài tập tình huống mà giáo
viên đưa ra trong tiết trước.
Học sinh biết tôn trọng và thực hiện các quy định của pháp luật về quyền bất
khả xâm phạm về thân thể của công dân.
Nguyễn Thanh Hải- giáo viên THPT Vĩnh Lộc
20
Giáo dục ý thức pháp luật
cho học sinh THPT qua bài 6- chương trình GDCD 12
VI. Hướng dẫn và kiểm tra đánh giá
Dựa vào hệ thống các câu hỏi trong sách giáo khoa để kiểm tra đánh giá.
Rút kinh nghiệm:
III. KẾT LUẬN
1. Kết quả thực hiện:
càng vững mạnh.
Nguyễn Thanh Hải- giáo viên THPT Vĩnh Lộc
21
Giáo dục ý thức pháp luật
cho học sinh THPT qua bài 6- chương trình GDCD 12
Vĩnh lộc ngày 4/5/2013
Người làm SKKN
Nguyễn Thanh Hải
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Tài liệu phổ biến giáo dục pháp luật trong môn GDCD cấp THPT.
2. Sách giáo khoa GDCD 12 THPT.
3. Sách giáo viên Môn GDCD 12 THPT.
4. Luật Giáo dục
Nguyễn Thanh Hải- giáo viên THPT Vĩnh Lộc
22
Giáo dục ý thức pháp luật
cho học sinh THPT qua bài 6- chương trình GDCD 12
NHẬN XÉT
CỦA TỔ NHÓM CHUYÊN MÔN
NHẬN XÉT
CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NHÀ TRƯỜNG