Giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh trung học phổ thông ở tỉnh Yên Bái hiện nay - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


NGUYỄN THỊ QUỲNH NGA

GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TỈNH YÊN BÁI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội - 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


NGUYỄN THỊ QUỲNH NGA

GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TỈNH YÊN BÁI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Chuyên ngành: Triết học
Mã số:

60 22 80

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Đình Tường

2.1.1. Khái lược điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và văn hóa tỉnh Yên Bái ....... 47
2.1.2. Thực trạng ý thức pháp luật của học sinh THPT ở tỉnh Yên Bái hiện nay ....... 49
2.2. Thực trạng của việc giáo dục ý thức pháp luật của học sinh trong nhà trường
trung học phổ thông ở Yên Bái hiện nay ...................................................... 63
2.2.1. Những thành tựu của việc giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh
THPT ở Yên Bái hiện nay ...................................................................................63
2.2.2. Những hạn chế của việc giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh THPT
ở Yên Bái hiện nay ....................................................................................... 70


2.3. Nguyên nhân của thực trạng trên ........................................................................... 75
2.3.1. Nguyên nhân của mặt tích cực .................................................................... 75
2.3.2. Nguyên nhân của mặt hạn chế .................................................................... 77
2.4. Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục ý thức
pháp luật cho học sinh trung học phổ thông tỉnh Yên Bái hiện nay............. 83
2.4.1. Phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội ở địa phương tạo cơ sở vật chất
cho việc giáo dục ý thức pháp luật cho người dân nói chung và cho học
sinh THPT nói riêng ..................................................................................... 83
2.4.2. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, chỉ đạo của chính quyền các cấp
đối với công tác giáo dục ý thức pháp luật .................................................. 85
2.4.3. Đổi mới nội dung, chương trình giáo dục ý thức pháp luật cho học
sinh THPT ở Yên Bái hiện nay .................................................................... 88
2.4.4. Đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục ý thức pháp luật cho học
sinh THPT ở Yên Bái hiện nay..................................................................... 91
2.4.5. Tăng cường giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh THPT ở Yên Bái
thông qua gia đình, nhà trường và các tổ chức chính trị - xã hội ................. 95
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................ 103
PHỤ LỤC .................................................................................................................... 107



THPT

:

Trung học phổ thông

THCS

:

Trung học cơ sở

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa

UB

:

Ủy ban

UBND

:

Ủy ban nhân dân

hoạt động tuyên truyền pháp luật được phổ biến rộng rãi hơn thì ý thức pháp luật sẽ
được nâng lên, sự định hướng hành vi cho mọi công dân cũng sẽ tốt hơn.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, tại Hội nghị Trung ương toàn
quốc giữa nhiệm kì khóa VII, Đảng ta đã xác định: Tăng cường giáo dục ý thức
pháp luật, nâng cao hiểu biết và ý thức thực hiện pháp luật, sống và làm việc theo
Hiến pháp và pháp luật, đảm bảo cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm
minh, thống nhất và công bằng. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã
khẳng định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán
bộ, công chức và mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật”.
“Phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế,
quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân nâng cao ý thức chấp
hành pháp luật”. [16, tr. 135].
Học sinh THPT là đối tượng tiếp cận và chịu ảnh hưởng nhiều đối với sự biến
động của cơ chế thị trường và xu thế hội nhập của đất nước. Các em là lứa tuổi đang

1


trưởng thành, chưa phải là các cá nhân hoàn thiện, chưa định hình về tính cách nên dễ
bị chi phối và tác động bởi yếu tố bên ngoài. Những thay đổi về sinh lý, xuất hiện nhu
cầu muốn thể hiện bản thân một cách độc lập. Các em muốn tự hoạt động, tự đưa ra
quyết định một cách phù hợp với nhận thức bản thân hơn là để thỏa mãn những đòi
hỏi của môi trường hay người khác. Nhưng chính những khó khăn trở ngại của sự
phát triển tâm sinh lý, thiếu kinh nghiệm sống và đặc biệt là sự thiếu hiểu biết về
pháp luật đã ảnh hưởng tới hành vi của các em. Các em chưa biết đánh giá, chưa biết
kìm hãm và hướng dẫn bản năng, ham muốn một cách đúng đắn. Vì vậy, nhiều em
hành động bột phát để thỏa mãn nhu cầu của mình mà không có sự nhìn nhận, suy xét
kỹ lưỡng, các em khó phân biệt được cái tốt, cái xấu. Trong khi gia đình, nhà trường
chưa kịp thời uấn nắn, giúp đỡ hoặc thiếu sự quan tâm nên các em dễ sa vào con
đường phạm pháp.

1. Đề tài cấp Bộ, cấp Nhà nước:
- Cơ sở khoa học cho việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật, chương
trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX - 07, đề tài KX - 07 - 17 (1995), Viện
nghiên cứu Nhà nước và pháp luật thuộc trung tâm KHXH và Nhân văn quốc gia.
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc
đổi mới, Đề tài khoa học cấp Bộ năm 1995 của Bộ Tư pháp.
- Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật của Đào Trí Úc (Chương trình
khoa học công nghệ cấp nhà nước KX- 07). Trên đây là những đề tài khoa học có tính
thực tiễn cao. Vấn đề này là hoàn toàn cấp thiết đối với Đảng và nhà nước ta hiện nay.
2. Luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ
- Sự hình thành và phát triển ý thức pháp luật của nhân dân đồng bằng sông
Cửu Long trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học
của Hồ Đình Hiệp, năm 2000.
- Những đặc điểm của quá trình hình thành ý thức pháp luật ở Việt Nam hiện
nay, Luận án tiến sĩ Triết học của Đào Duy Tấn năm 2001.
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa với việc xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện
nay, Luận án tiến sĩ Triết học của Đỗ Trung Hiếu, năm 2002.
- Nâng cao ý thức pháp luật cho sinh viên các trường cao đẳng, đại học ở
Thành phố Hải Phòng hiện nay, Luận văn thạc sĩ Triết học của Hoàng Bích Thủy.
Trung tâm Đào tạo, Vồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà
Nội, năm 2009.
- Giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh phổ thông ở Thành phố Pleiku, tỉnh
Gia Lai hiện nay, Luận văn thạc sĩ Triết học của Lê Thị Tuyết Thu, Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội, 2011.

3


Qua một số luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ, vấn đề về ý thức pháp luật ở
nước ta hiện nay được nhiều tác giả quan tâm. Ở mỗi một góc độ tiếp cận khác nhau

4


người dân nói chung và học sinh nói riêng, hình thành thái độ, ý thức sống và làm
việc theo Hiến pháp và pháp luật.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Phân tích và làm rõ thực trạng giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh THPT
ở tỉnh Yên Bái hiện nay. Trên cơ sở đó nêu lên một số giải pháp cơ bản nhằm nâng
cao hiệu quả của quá trình giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh THPT ở Yên Bái
hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm, kết cấu của ý thức pháp luật và vai trò của
việc giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh THPT ở tỉnh Yên Bái hiện nay.
- Phân tích và làm rõ thực trạng giáo dục ý thức pháp luật của học sinh
THPT ở tỉnh Yên Bái hiện nay và nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giáo
dục ý thức pháp luật cho học sinh THPT ở tỉnh Yên Bái hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh
ở tỉnh Yên Bái.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh
THPT ở tỉnh Yên Bái hiện nay thông qua khảo sát các trường THPT trên địa bàn
tỉnh Yên Bái. Thời gian nghiên cứu từ năm 2011 đến 2013.
5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
- Luận văn vận dụng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, những quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
về các vấn đề liên quan đến đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
2 chương, 6 tiết.
Chương 1: Ý thức pháp luật và vai trò của việc giáo dục ý thức pháp luật cho
học sinh trung học phổ thông hiện nay.
Chương 2: Giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông ở
tỉnh Yên Bái hiện nay - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp.

6


Chương 1
Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC
PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY
1.1. Ý thức pháp luật và thực chất của việc giáo dục ý thức pháp luật cho
học sinh trung học phổ thông hiện nay
1.1.1. Khái niệm ý thức pháp luật
Theo quan điểm của triết học Mác-Lênin ý thức xã hội là toàn bộ đời sống
tinh thần của xã hội, nó phản ánh tồn tại xã hội, nhưng nó không phản ánh giản đơn,
máy móc thụ động mà có tính độc lập tương đối. Ý thức xã hội phản ánh nhiều mặt
khác nhau của đời sống xã hội do đó biểu hiện thành nhiều hình thái ý thức. Trong
đó ý thức pháp quyền là một trong những hình thái ý thức quan trọng và chi phối
mọi mặt của đời sống xã hội.
Tiếp cận dưới góc độ triết học về ý thức pháp luật cho thấy:
Ý thức pháp luật là một hình thái của ý thức xã hội, có nguồn gốc từ thực tiễn
đời sống xã hội và phản ánh tồn tại xã hội từ phương diện pháp luật. Do đó, mỗi một
chế độ xã hội khác nhau tương ứng với nó là một hình thức pháp luật khác nhau.
Chính vì thế ý thức pháp luật trong xã hội chiếm hữu nô lệ khác hẳn với xã hội phong
kiến và đặc biệt là ý thức pháp luật trong xã hội với nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa của chúng ta ngày nay. Điều này được thể hiện rất rõ về quyền con
người trong quan hệ xã hội. Với một nền pháp luật tiến bộ quyền con người ngày

thái ý thức chính trị và ý thức đạo đức xã hội. Tuy nhiên, sự tác động này luôn có tính
độc lập tương đối, bởi mỗi hình thái ý thức xã hội phản ánh một mặt cơ bản khác
nhau của đời sống kinh tế xã hội. Trong mối liên hệ đó ý thức pháp luật chịu ảnh
hưởng trực tiếp của ý thức chính trị, bởi ý thức chính trị là ý thức của giai cấp cầm
quyền, đây là một quy luật tất yếu vì đường lối chính trị được cụ thể hóa thông qua
luật pháp. Trong mối quan hệ giữa ý thức pháp luật và ý thức đạo đức, thì ý thức đạo
đức hình thành trước ý thức pháp luật, cả hai hình thái ý thức này đều nhằm điều
chỉnh hành vi của con người đối với xã hội. Ý thức đạo đức chi phối mọi hành vi của
đời sống xã hội với quy tắc điều chỉnh bằng lương tâm cá nhân và dư luận xã hội, tính
tự nguyện của hành vi được đặt lên hàng đầu. Với ý thức pháp luật dù muốn hay
không muốn mỗi cá nhân đều phải tuân thủ và thi hành theo quy định đã được ban
hành. Khi bàn về khái niệm ý thức pháp luật có nhiều quan điểm khác nhau.
Quan điểm một: ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan
điểm và quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ thông qua sự hiểu
biết của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải
có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự

8


của con người cũng như trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội.
Quan điểm trên chỉ nhấn mạnh mặt tri thức pháp luật.
Quan điểm hai: ý thức pháp luật là trình độ hiểu biết của các tầng lớp nhân
dân về pháp luật... ý thức pháp luật còn là thái độ đối với pháp luật, ý thức tôn trọng
hay coi thường pháp luật, đó là thái độ đối với hành vi vi phạm pháp luật và phạm
tội. Quan điểm này chỉ tập trung nhấn mạnh ý thức của chủ thể pháp luật.
Từ những quan điểm trên, với nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn, tác giả đưa
ra quan niệm về ý thức pháp luật như sau:
Khái niệm Ý thức pháp luật: Là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh
những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội thông qua những quan điểm, tư tưởng,

sinh một vấn đề, những điều này diễn ra với tốc độ nhanh mà ý thức pháp luật sẽ
không thể phản ánh kịp và trở lên lạc hậu. Song cũng giống như ý thức chính trị khi
có sự thay đổi của một chế độ xã hội thì ngay lập tức ý thức chính trị và ý thức pháp
luật cũng thay đổi theo. Khác với hình thái ý thức đạo đức, thẩm mỹ... sự thay đổi
của nó chậm chạp hơn rất nhiều. Những ý thức pháp luật lạc hậu, tiêu cực không
mất đi một cách dễ dàng. Đặc trưng này thể hiện rất rõ trong văn hóa làng xã Việt
Nam đó là “phép vua thua lệ làng”, “một bồ cái lý không bằng một tý cái tình”.
Thứ hai, Ý thức pháp luật có tính độc lập tương đối so với tồn tại xã hội. Tính
độc lập tương đối của ý thức pháp luật còn được thể hiện ở một số khía cạnh.
Ý thức pháp luật thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội. Nhiều khi tồn tại
xã hội cũ mất đi, nhưng ý thức pháp luật cũ vẫn còn tồn tại dai dẳng trong một thời
gian dài, nhất là tâm lý pháp luật, ý thức pháp luật còn lạc hậu hơn so với tồn tại
pháp luật hệ thống pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật. Thông
thường một văn bản pháp luật mới ra đời hoặc thực tiễn áp dụng pháp luật đã thay
đổi nhưng nhiều người vẫn chưa nắm bắt được với nhiều lý do khác nhau, nên ý
thức pháp luật của họ chậm đáp ứng nhu cầu thực tế cuộc sống.
Tuy nhiên, tư tưởng pháp luật đặc biệt là tư tưởng pháp luật khoa học có thể
vươn lên trên sự phát triển của tồn tại xã hội, nghĩa là ý thức pháp luật cũng có tính tiên
phong. nếu là tư tưởng của lực lượng cầm quyền tiến bộ thì nó sẽ có cơ hội thuận lợi để
thể hiện thành pháp luật và tạo ra những biến đổi nhanh hơn trong đời sống.
Ý thức pháp luật phản ánh tồn tại xã hội của một thời đại nào đó, song nó
cũng kế thừa những yếu tố nhất định của ý thức pháp luật thời đại trước đó. Những
yếu tố được kế thừa có thể tiến bộ hoặc không tiến bộ, sự kế thừa này còn phụ thuộc
vào trình độ nhận thức pháp luật nói chung, phụ thuộc vào truyền thống, phong tục
tập quán, tâm lý...

10


Ý thức pháp luật tác động trở lại đối với tồn tại xã hội với ý thức chính trị,


11


Quan điểm trên của chủ nghĩa Mác-Lênin đúng với mọi kiểu pháp luật vì
pháp luật nào cũng tồn tại trong một xã hội có giai cấp, tuy tính giai cấp thể hiện
trong mỗi pháp luật có mức độ khác nhau. Những ý chí của giai cấp thống trị được
thể chế hóa trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban
hành, đây là con đường để hợp thức hóa ý chí của giai cấp thống trị thành ý chí nhà
nước dưới dạng quy tắc xử sự chung bắt buộc toàn xã hội phải thực hiện. Đồng thời,
đây còn là vũ khí để giai cấp thống trị chống lại các giai cấp khác, duy trì sự thống
trị của giai cấp mình. Do đó, pháp luật không chỉ là công cụ thống trị của giai cấp
mà còn là công cụ thống trị về chính trị trong xã hội có giai cấp. Trên thực tế, pháp
luật của những Nhà nước gắn với giai cấp tiên tiến của thời đại thì thường phù hợp
với xu hướng phát triển tiến bộ, vì nó bao hàm những chuẩn mực, những quy định
nhằm bảo vệ lợi ích chân chính và phẩm giá con người. Ngược lại, nếu pháp luật
của nhà nước gắn với giai cấp đang suy tàn, không còn vai trò lịch sử thì thường
chứa đựng yếu tố trì trệ, bảo thủ, đi ngược lại lợi ích chân chính. Trong trường hợp
như vậy, pháp luật sẽ không phản ánh được những yêu cầu đạo đức tiến bộ, phù hợp
với xu hướng phát triển khách quan của thời đại.
Trong xã hội không còn đối kháng giai cấp, nhà nước là người đại điện cho
nhân dân lao động, cho nên hoạt động của nhà nước và hệ thống pháp luật tự thân
đã bao hàm trong đó ý nghĩa đạo đức. Trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn,
pháp luật luôn có vai trò bảo vệ các giá trị chân chính, bảo vệ các quyền lợi chính
đáng của con người, đồng thời tạo điều kiện cho con người phát huy những năng
lực thực tiễn của mình. Việc thực thi pháp luật cũng đồng nghĩa với việc đảm bảo
trên thực tế các quyền thiêng liêng của con người, sự tôn trọng các giá trị xã hội.
Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thể hiện đúng đắn ý chí và nguyện vọng của số
đông, phù hợp với xu thế vận động của lịch sử sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển và
tiến bộ xã hội, pháp luật cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ nền

luật còn thể hiện ý chí và quan tâm đến lợi ích của các giai cấp và các tầng lớp khác
trong xã hội. Ngoài bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, pháp luật còn là phương
tiện để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, đấu tranh chống lại sự xâm hại từ bên ngoài
đối với lợi ích đất nước, đây chính là bản chất xã hội không thể thiếu của pháp luật,
là nhân tố cấu thành nên nội dung pháp luật. Tính nhân văn và tiến bộ của pháp luật
được thể hiện rất rõ thông qua bản chất xã hội này, đặc biệt là pháp luật XHCN.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa hiện nay,
yêu cầu đặt ra đối với pháp luật là phải tác động tích cực đến nền đạo đức của xã
hội. Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường đòi hỏi mỗi cá nhân trong hoạt
động của mình phải tính toán chặt chẽ những điều kiện khách quan và hiệu quả kinh
tế. Khi đời sống kinh tế - xã hội đã và đang có những chuyển biến lớn, thì quan hệ

13


giữa con người với con người không thể chỉ là mối quan hệ trực tiếp, cảm tính, chủ
yếu vẫn bị chi phối bởi những nguyên tắc và chuẩn mực của sự phát triển ưu trội về
đạo đức, như trước đây, mà nó cần được bổ xung những chuẩn mực, những giá trị
mới, như tính kinh tế, tính hiệu quả. Những yêu cầu mới này phải được quy định và
phổ biến thông qua pháp luật. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng như xã
hội dân sự... đòi hỏi phải tích cực hơn nữa trong việc đưa pháp luật vào đời sống,
hình thành và phát triển ý thức pháp luật, đồng thời, xã hội hóa tri thức, nâng cao
trình độ dân trí, tạo cơ sở nâng cao đạo đức lên trình độ duy lý pháp lý và khoa học,
chuyển thói quen điều chỉnh xã hội theo “lệ”, chủ yếu là sự cảm thông sang điều
chỉnh xã hội bằng pháp luật trên nguyên tắc công bằng và bình đẳng xã hội. Trong
quan niệm về chuẩn giá trị và đánh giá đạo đức, tính khách quan, khoa học và duy
lý thay cho sự tuỳ tiện vấn dựa trên cơ sở kinh nghiệm, duy cảm, duy tình. Sự điều
chỉnh xã hội bằng pháp luật (với nguyên tắc tất cả mọi người đều bình đẳng trước
pháp luật) làm cho mọi thành viên trong xã hội có thể tự do phát huy khả năng sáng
tạo của mình trong môi trường lành mạnh - môi trường vận hành có trật tự, nền nếp,

quyền bí mật đời tư, quyền tự do ngôn luận... đáp ứng ngày càng nhiều hơn, tốt hơn
những nhu cầu về đời sống vật chất cũng như tinh thần trong xã hội, mang lại tự do
thực sự cho con người và toàn thể cộng đồng, là cơ sở xây dựng nền dân chủ và
phát triển toàn diện mỗi cá nhân.
Ba là: Nội dung pháp luật XHCN của mỗi quốc gia là do điều kiện kinh tế xã hội của nhà nước đó quy định.
Nội dung và phương hướng phát triển của pháp luật XHCN còn chịu sự chỉ
đạo, định hướng của đường lối chính sách của Đảng cộng sản, lực lượng lãnh đạo
nhà nước và xã hội trong các nước XHCN.
Ở Việt Nam, trong những năm qua một bộ phận trong đội ngũ cán bộ trực
tiếp thực thi pháp luật không những còn thiếu và yếu về năng lực, thiếu ý thức trách
nhiệm, mà còn thiếu cả cái tâm của con người. Đã có không ít trường hợp cán bộ lợi
dụng chức vụ, quyền hạn làm những việc trái với chính sách và pháp luật, xử lý
không nghiêm những trường hợp vi phạm, thậm chí chính bản thân họ cũng vi
phạm pháp luật. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng, hiệu lực của
pháp luật chỉ có được khi mọi người nghiêm chỉnh chấp hành. Trong thực thi pháp
luật, về phía nhà nước, việc tổ chức thực hiện phải nghiêm minh, thưởng phạt phải
rõ ràng, về phía công dân, tất cả mọi người không loại trừ ai đều có nghĩa vụ, trách
nhiệm thực hiện đúng pháp luật, có ý thức tôn trọng pháp luật.
Việc giáo dục pháp luật là một trong những công đoạn hết sức quan trọng.
Nó không chỉ giúp nâng cao ý thức pháp luật cho người dân, mà còn tạo ra khả năng

15


hình thành những nhu cầu, tình cảm, những chuẩn mực mới, đồng thời, góp phần
củng cố ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm đạo đức, ngăn chặn các biểu hiện xâm
phạm lợi ích chính đáng của người khác, khuyến khích những hành vi hợp pháp và
hợp đạo lý.
1.1.2.2. Kết cấu của ý thức pháp luật
Có thể coi ý thức xã hội là cầu nối giữa pháp luật và các quy phạm xã hội

của đảng cầm quyền, trong các chính sách nhà nước, các bài nói, bài viết của các lãnh
tụ đảng và nhà nước, trong nội dung và các văn bản pháp luật.
Hệ tư tưởng pháp luật là tổng hợp các tư tưởng, quan điểm, quan niệm có
tính chất lý luận và khoa học về pháp luật, phản ánh về pháp luật và các hiện tượng
pháp luật một cách sâu sắc, tự giác dưới dạng các khái niệm, các phạm trù khoa
học. Hệ tư tưởng pháp luật phản ánh trình độ nhận thức cao, có tính hệ thống về các
vấn đề mang tính bản chất của pháp luật và các hiện tượng pháp luật trên lập trường
của một giai cấp nhất định. Nó là cơ sở để sáng tạo các giá trị pháp luật, phổ biến
các tư tưởng, quan điểm pháp luật tiến bộ, nhân văn trong xã hội.
Hệ tư tưởng pháp luật phản ánh hiện thực một cách không trực tiếp, trực diện
mà phản ánh một cách gián tiếp dưới dạng các khái niệm, phạm trù, quan điểm, tư
tưởng… Hệ tư tưởng pháp luật là sự nhận thức ở trình độ lý luận, có tính hệ thống
về các vấn đề có tính bản chất của pháp luật và các hiện tượng pháp luật.
Nội dung của hệ tư tưởng pháp luật chủ yếu là những tri thức về vai trò, chức
năng, bản chất giai cấp của pháp luật, về mối quan hệ giữa pháp luật với dân chủ,
bình đẳng, công bằng tự do của con người, mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ
pháp chế trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước về sáng tạo pháp luật và
thực hiện pháp luật.
Hệ tư tưởng pháp luật chính thống của một quốc gia bao giờ cũng là hệ tư
tưởng của giai cấp thống trị (trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp thống trị là giai
cấp tư sản, trong xã hội XHCN giai cấp thống trị là giai cấp công nhân và nhân dân
lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Khi giai cấp thống trị là lực lượng
tiến bộ của xã hội, có lợi ích phù hợp với lợi ích căn bản của đông đảo các lực
lượng khác trong xã hội thì tính khoa học, tính dân chủ và tính xã hội của hệ tư
tưởng pháp luật sẽ thể hiện nổi bật, rõ nét. Ngược lại, nó sẽ trở thành hệ tư tưởng
pháp luật lạc hậu, thậm chí phản động. Song, dù có tiến bộ hay lạc hậu thì trong quá
trình tồn tại và phát triển, các hệ tư tưởng này luôn có ý thức chuyển hóa mạnh mẽ
thành ý thức pháp luật của toàn xã hội.
Hiện nay tư tưởng về pháp luật của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh được cụ thể hóa trong đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Một

Tâm lý pháp luật là một hiện tượng tương đối bền vững, nó hình thành và biến
đổi chậm chạp cùng với truyền thống và thói quen của con người. Với tính chất của
nền kinh tế nước ta cho thấy, hiện nay ý thức pháp luật của nhiều dân cư còn thấp,
trong đó vẫn tồn tại một bộ phận dân cư chưa có thói quen sống và làm việc theo
pháp luật, thậm chí có bộ phận dân cư xem pháp luật như là sự trói buộc, thường tìm

18


cách trốn tránh, không tuân thủ pháp luật. Nhìn lại lịch sử Việt Nam cho thấy, thái độ
bất tuân pháp luật là hình thành và phát triển từ rất lâu, nó có những nguồn gốc căn
bản của nó, song đến thời điểm hiện tại đã không còn phù hợp. Cũng do việc định
hướng tình cảm chưa tốt, nên trong xã hội tâm lý ác cảm với người đại diện chính
quyền còn tồn tại, thậm chí còn sãn sàng tiếp tay cho kẻ xấu. Việc tác động để hình
thành những tình cảm, tâm lý đúng đắn đối với pháp luật, đối với hành vi của người
thừa hành pháp luật có ý nghĩa rất lớn trong việc phòng ngừa những hành vi lệch
chuẩn đối với cả pháp luật và xã hội. Do người dân không hiểu biết đầy đủ về pháp
luật, dẫn tới tâm lý thiếu tự tin trong các công việc liên quan đến pháp luật, làm giảm
khả năng tự bảo vệ quyền lợi của mình khi bị xâm hại, góp phần làm tăng khiếu kiện
bừa bãi, không đủ căn cứ, không đúng thủ tục... dẫn tới bất ổn xã hội.
Trình độ nhận thức cảm tính trong tâm lý pháp luật thể hiện ở thái độ của
nhân dân đối với pháp luật hiện hành và việc chấp hành các quy định của pháp luật.
Thái độ này có thể biểu hiện khi chưa có hiểu biết pháp luật và có thể khi đã có kiến
thức pháp luật thông thường nhưng về thái độ lại xem thường pháp luật. Chính vì thế,
quá trình hình thành ý thức pháp luật, trước tiên cần cho mọi người hiểu biết pháp
luật và xây dựng thái độ tôn trọng pháp luật. Trình độ hiểu biết pháp luật, văn hóa
pháp lý luôn là cơ sở cho sự nhận thức để hình thành ý thức pháp luật và củng cố
thái độ, niềm tin đối với pháp luật.
Trong những trạng thái của tâm lý pháp luật thì tình cảm pháp luật, pháp luật
là yếu tố năng động. Nếu chủ thể nhận thức được giá trị của pháp luật và cơ chế

- Căn cứ vào trình độ nhận thức
Pháp luật của đảng và nhà nước có mối quan hệ mật thiết đối với ý thức chấp
hành pháp luật của cán bộ, nhân dân. Ý thức pháp luật là thước đo để đánh giá nhận
thức của con người đối với các vấn đề ý thức của con người đối với các vấn đề ý
thức lập pháp, là năng lực trong việc giải thích pháp luật, ý thức chấp hành pháp
luật. ý thức pháp luật có mối quan hệ mật thiết với chính sách pháp luật và giáo dục
pháp luật. Ý thức pháp luật là sản phẩm của quá trình phát triển xã hội chịu ảnh
hưởng sâu sắc của các hệ tư tưởng và quan niệm xã hội, cũng như chịu sự ảnh
hưởng trực tiếp của chính sách pháp luật.
Ý thức pháp luật thông thường: Ý thức pháp luật thông thường phản ánh
nhận thức đời sống pháp luật ở trình độ cảm tính, thông qua thực tiễn đời sống pháp
luật ở trình độ cảm tính, thông qua đời sống hàng ngày, chưa được khái quát hóa hệ
thống hóa.
Ý thức pháp luật thông thường là ý thức pháp luật ở mức độ phổ biến, nhận
thức còn hạn chế, thông qua sự phản ánh trực tiếp, giản đơn về các sự kiện, hiện

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status