BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HÀ THỊ KIM UYÊN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC KHMER Ở TỈNH TRÀ VINH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Đồng Tháp, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
………. ∞ ………
HÀ THỊ KIM UYÊN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ý THỨC
PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER Ở
TỈNH TRÀ VINH HIỆN NAY
Chuyên ngành
: Chính trị học
Mã số
: 06.31.02.01
Hà Thị Kim Uyên
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
CHƯƠNG 1:GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC KHMER VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY...................................................................................................... 9
1.1. Ý thức pháp luật và giáo dục ý thức pháp luật...........................................9
1.2.Vai trò của việc giáo dục ý thức pháp luật trong giai đoạn hiện nay........36
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER Ở TRÀ VINH ......................................43
2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác giáo dục ý thức pháp luật cho đồng
bào dân tộc Khmer ở Trà Vinh........................................................................43
2.2. Thực trạng công tác giáo dục ý thức pháp luật cho đồng bào dân tộc
Khmer ở tỉnh Trà Vinh trong những năm gần đây..........................................69
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ý
THỨC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER TỈNH TRÀ
VINH HIỆN NAY..........................................................................................92
3.1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng, chính quyền đối với công
tác giáo dục ý thức pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer................................92
3.2. Thường xuyên tuyên truyền pháp luật bằng các phương tiện truyền thông
để nâng cao chất lượng giáo dục ý thức pháp luật cho đồng bào dân tộc
Khmer..............................................................................................................95
3.3. Nâng cao phẩm chất năng lực của đội ngũ cán bộ tuyên truyền giáo dục
pháp luật, đồng thời coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên truyền, giáo dục
pháp luật là người dân tộc Khmer.................................................................106
sống, bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm minh, thống
nhất và công bằng. Một trong những biện pháp có tầm quan trọng đặc biệt đó
là tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Đây là một biện pháp không thể
thiếu được trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật, nhằm hình thành
một cách bền vững ý thức tôn trọng pháp luật, thực hiện “Sống và làm việc
theo Hiến pháp và pháp luật” của người dân.
Quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng ta luôn luôn khẳng định: Đoàn kết các
dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Các
dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn
trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Xuất phát từ yêu cầu của công cuộc đổi
mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng một Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự của dân, do dân, vì dân. Không
ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa, nâng cao dân trí và trình độ hiểu biết pháp luật cho mọi thành viên
trong xã hội.
Hiện nay, mặc dù nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bộ mặt
của đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi, nhưng đời sống của
một số đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số vẫn còn gặp
2
nhiều khó khăn, việc xóa đói giảm nghèo chưa bền vững, tình trạng tái nghèo
cao và tình trạng vi phạm pháp luật đặc biệt vẫn còn diễn biến phức tạp...
Những khó khăn trên là mối quan tâm hàng đầu trong các chủ trương, chính
sách của Đảng và nước ta hiện nay, trong đó, chính sách đối với đồng bào
Khmer được thể hiện qua các chính sách dân tộc trong thời gian qua của Đảng
và Nhà nước, các cấp, các ban ngành đoàn thể đã tạo điều kiện hỗ trợ đồng
Thời gian qua, để thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo vùng
Khmer Nam Bộ, Tỉnh ủy Trà Vinh ra Nghị quyết 01 về công tác trong vùng
dân tộc Khmer, nhằm giúp đồng bào nâng cao trình độ dân trí, giải quyết việc
làm, xóa đói giảm nghèo và từng bước làm giàu, sau 10 năm thực hiện Nghị
quyết, tỉnh cơ bản đạt mục tiêu đề ra, rút ngắn khoảng cách chênh lệc về mức
sống giữa các vùng. Tiếp đó, năm 2003, Tỉnh ủy ra Nghị quyết 06 của (khóa
VII) "về phát triển toàn diện vùng đồng bào Khmer" và năm 2011 ban hành
Nghị quyết số 03 "về tiếp tục phát triển toàn diện vùng đồng bào Khmer giai
đoạn 2011 – 2015”.
Do đặc tính dân tộc và sinh hoạt văn hóa của người Khmer chủ yếu
sống ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên
điều kiện để tiếp nhận thông tin, nhất là thông tin pháp lý, văn bản pháp luật rất
hạn chế nên ý thức pháp luật không cao, dẫn đến còn nhiều vi phạm pháp luật,
với tính chất và mức độ ngày càng nghiêm trọng. Đây là thách thức không nhỏ,
đặc biệt, hiện nay một số phần tử xấu lợi dụng nhận thức yếu kém về chính trị
của một số đồng bào dân tộc khmer để tuyên truyền, xuyên tạc lịch sử gây chia
rẽ đoàn kết dân tộc, lợi dụng chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước
4
để chống phá cách mạng …, điều đó đã có những tác động ảnh hưởng trực tiếp
đến vùng đồng bào dân tộc; trật tự xã hội từng lúc, từng nơi còn diễn biến phức
tạp làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh…Mặc
khác, do ảnh hưởng của cơ chế thị trường, nhiều thanh niên ở nông thôn trong đó
có thanh niên dân tộc Khmer có tư tưởng và lối sống thực dụng, thường xuyên đi
làm ăn xa, có một số người Khmer bỏ địa phương đi sang Campuchia và nhiều
nơi khác sinh sống nên ảnh hưởng rất lớn đến công tác giáo dục pháp luật. Công
tác giáo dục pháp luật của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể chưa được quan tâm
đúng mức, phương pháp giáo dục chưa phù hợp với đặc điểm, tình hình và đối
tượng cụ thể, từ đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả công tác
đoàn kết các dân tộc tạo ra động lực của sự phát triển xã hội.Th.s Bùi Thiết
Côn – Giám đốc Sở Nội vụ Trà Vinh: Phát triển xã hội bền vững vùng đồng
bào dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh: quan điểm và giải pháp, triết học, số
10(281) T10-2014, tác giả đã đưa ra 04 quan điểm trong tâm về phát triển xã
hội bền vững vùng đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh và đề xuất một số
giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát triển xã hội bền vững vùng đồng bào
dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh.
Công trình nghiên cứu:“Một số điểm nóng chính trị - xã hội điển hình
tại các vùng đa dân tộc ở miền núi trong những năm gần đây - hiện trạng,
vấn đề các bài học kinh nghiệm trong xử lý tình huống”, của GS.TS. Lưu Văn
Sùng, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tác giả đã khái quát hoàn cảnh
phát sinh, diễn biến và tính chất các điểm nóng chính trị xã hội ở một số
vùng, như đồng bằng sông Hồng, miền núi Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây
Nam Bộ...đồng thời tìm ra các giải pháp để ngăn ngừa, khắc phục.
6
Không chỉ Tạp chí Lý luận Chính trị, Tạp chí Xây dựng Đảng, Tạp chí
Khoa học Chính trị cũng đăng một số công trình quan tâm, nghiên cứu đến
việc nâng cao chất lượng, số lượng cán bộ công tác ở vùng dân tộc ít người và
đời sống của bà con dân tộc thiểu số, như bài “Công tác xóa đói giảm nghèo
ở vùng dân tộc Khmer đồng bằng sông Cửu Long” của ThS.Nguyễn Hoàng
Sơn, số 6, 2006;
Các công trình khoa học đã đề cập các các vấn đề về ý thức pháp luật,
tính tất yếu, nội dung, phương thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức
pháp luật cho nhiều đối tượng khác nhau. Tuy nhiên chưa có công trình
chuyên biệt nào nghiên cứu, tìm hiểu một cách toàn diện và hệ thống vấn đề
“Nâng cao chất lượng giáo dục ý thức pháp luật cho đồng bào dân tộc
Khmer ở tỉnh Trà Vinh hiện nay” Do vậy, tác giả lựa chọn vấn đề này làm
Luận văn tốt nghiệp Cao học ngành Chính trị học.
nhau của đời sống xã hội nên ngoài các phương pháp nghiên cứu cơ bản, tác
giả còn trực tiếp đi thực tế các sự kiện, lễ hội để trực tiếp tìm hiểu từ đó tổng
kết, khái quát những vấn đề mang tính lý luận để nâng cao chất lượng giáo
dục ý thức pháp luật cho đồng bào Khmer ở Trà Vinh.
6. Cái mới của đề tài
- Luận văn góp phần vào việc nhận thức ra tính đặc thù và đánh giá
đúng thực trạng giáo dục pháp luật và ý thức pháp luật của đồng bào dân tộc
8
Khmer ở tỉnh Trà Vinh hiện nay, từ đó nâng cao nhận thức trách nhiệm chỉ
đạo, tổ chức hoạt động thực tiễn của các cấp uỷ Đảng, chính quyền trong việc
giáo dục ý thức pháp luật đối với đồng bào dân tộc Khmer ở Trà Vinh.
- Các giải pháp đề ra trong Luận văn có thể được áp dụng trong việc xây
dựng chương trình giáo dục pháp luật cho đồng bào Khmer ở tỉnh Trà Vinh.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, Luận văn được kết cấu thành 3 chương, 9 tiết.
9
Chương1
GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC VÀ
VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1. Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT
1.1.1. Ý thức pháp luật
1.1.1.1. Khái niệm
Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội có những quy luật và
đặc điểm chung của ý thức xã hội. Ý thức pháp luật lại có tính độc lập tương
không đúng tồn tại xã hội thì sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội.
Thứ tư, ý thức pháp luật có mối quan hệ tác động qua lại với các hình
thái ý thức xã hội khác, nhất là đối với ý thức chính trị và ý thức đạo đức.
Nếu ý thức chính trị phản ánh những mối quan hệ giữa các tập đoàn
người trong xã hội đối với quyền lực nhà nước, thì ý thức pháp luật phản
ánh mối quan hệ của con người đối với những quy tắc được chấp nhận
trong xã hội nhất định, với tính cách là một yếu tố áp đặt từ bên ngoài. Yếu
tố này được phục tùng vô điều kiện, nhưng đồng thời cũng nhận sự đánh
giá nhất định. Khác với ý thức đạo đức phản ánh mối quan hệ giữa các cá
nhân theo những quan điểm riêng mà con người đánh giá chính “cái tôi”
của mình, nghĩa vụ và công bằng theo ý thức đạo đức mang tính nội tâm và
tự nguyện, ý thức pháp luật là thể hiện sự tuân thủ, công nhận nghĩa vụ và
công bằng do Nhà nước quy định, nên nó mang tính áp đặt và cưỡng chế.
11
Giữa ý thức pháp luật, ý thức chính trị, ý thức đạo đức có mối quan hệ
tác động lẫn nhau, vì chúng cùng phản ánh và chịu sự quy định của tồn tại xã
hội, nhất là sự quy định của chế độ kinh tế. Quan hệ giữa ý thức pháp luật, ý
thức chính trị, ý thức đạo đức là mối quan hệ hữu cơ, làm tiền đề cho nhau.
Nếu ý thức chính trị tác động chi phối ý thức pháp luật, nhất là thông qua hệ
tư tưởng chính trị thì ngược lại ý thức pháp luật phản ánh những yêu cầu
chính trị dưới góc độ pháp luật. Chính mối quan hệ chặt chẽ này làm cho một
số người lầm tưởng ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức chính trị. Ý
thức pháp luật và ý thức đạo đức đều cùng hướng vào việc điều chỉnh hành vi
con người nên chúng chịu ảnh hưởng và hỗ trợ nhau rất lớn.
Trong lịch sử loài người có những thời kỳ luật lệ được coi là truyền
thống đạo đức. Cùng với sự phân chia xã hội thành giai cấp và sự hình thành
Nhà nước, ý thức pháp luật ra đời và phát triển song song cùng với ý thức đạo
đức. Đây là sự phát triển có tính chất “cộng hưởng” rất cao; bởi lẽ, một ý thức
tr.235]. Về mặt bản chất giai cấp có tác giả cho rằng: ý thức pháp luật xã hội
chủ nghĩa là tổng hoà những quan điểm, quan niệm, tình cảm về mặt pháp
luật thể hiện thái độ của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động do giai
cấp công nhân lãnh đạo, đối với pháp luật, đối với những yêu cầu khác của
pháp luật, đối với các quyền và nghĩa vụ của công dân. Một số ý kiến khác lại
thu hẹp cơ cấu của ý thức pháp luật, chỉ nhấn mạnh một mặt của tri thức pháp
luật mà không đề cập đến tâm lý pháp luật như:
13
Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm và
quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ thông qua sự hiểu
biết của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật cần phải có thể hiện
sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con
người cũng như trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội
[27, tr.20].
Có quan niệm đề cập tới ý thức pháp luật một cách đầy đủ hơn, khi nêu
lên được cả tính chất, cơ cấu và nội dung của ý thức pháp luật:
Ý thức pháp luật - một hình thái ý thức xã hội, là tổng thể những quan
điểm, khái niệm, học thuyết pháp lý, tình cảm của con người (cá nhân, giai
cấp, tầng lớp) thể hiện thái độ của họ đối với pháp luật hiện hành, trật tự pháp
luật, sự đánh giá về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay
không đúng đắn của pháp luật hiện hành, pháp luật đó qua và pháp luật trong
tương lai, về hành vi hợp pháp, hành vi không hợp pháp của cá nhân, các cơ
quan nhà nước, tổ chức [20, tr.90].
Trên cơ sở kế thừa các yếu tố hợp lý của các quan niệm nêu trên, có
thể rút ra định nghĩa ý thức pháp luật như sau: Ý thức pháp luật là một hình
thái ý thức xã hội phản ánh trực tiếp đời sống pháp luật thông qua những
quan điểm, tư tưởng, tình cảm của con người (cá nhân, giai cấp, tầng lớp)
đối với pháp luật, thể hiện sự hiểu biết, thái độ và sự đánh giá về pháp
thông qua nghiên cứu và tổng hợp kiến thức pháp luật.
Hai là, căn cứ vào chủ thể phản ánh ý thức pháp luật, có thể chia ý thức
pháp luật thành: ý thức pháp luật cá nhân, ý thức pháp luật nhóm và ý thức
15
pháp luật xã hội. Ý thức pháp luật cá nhân là những tư tưởng và tâm lý pháp
luật của một con người cụ thể. Do sự khác biệt về điều kiện sống, hoàn cảnh
gia đình, môi trường giáo dục, trình độ học vấn, sự từng trải của mỗi người
nên ý thức pháp luật của mỗi cá nhân cũng khác nhau, đa dạng và phong phú.
Ý thức pháp luật của nhóm phản ánh những đặc điểm của từng nhóm xã
hội tương ứng. Trong xã hội thường có nhiều nhóm khác nhau, do điều kiện
sống, nhu cầu lợi ích riêng của mỗi nhóm mà những thành viên trong nhóm
có những nhận thức, suy nghĩ, tình cảm, thái độ tương đối giống nhau đối với
pháp luật.
Ý thức pháp luật xã hội là tổng thể những tư tưởng và tâm lý pháp luật
phản ánh đời sống pháp luật của một xã hội. Ý thức pháp luật xã hội xuất phát
từ ý thức pháp luật cá nhân, nhưng không phải là tổng số giản đơn hay trung
bình cộng sự phản ánh của các cá nhân mà là một “nguyên thể” mới về chất
những ý thức pháp luật cá nhân, là một hệ thống hoàn chỉnh hình thành từ sự
tác động lẫn nhau giữa ý thức pháp luật cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập
thể… và chịu sự qui định bởi ý thức pháp luật của bộ phận tiên tiến đại diện
cho xã hội (giai cấp thống trị).
Ba là, căn cứ vào nội dung và tính chất của sự hình thành ý thức pháp
luật, thì có thể chia ý thức pháp luật thành: tri thức pháp luật và thái độ pháp
luật. Tri thức pháp luật là bao gồm những tư tưởng, quan điểm của con người
về đời sống pháp luật hợp thành hệ thống thống nhất. Tri thức pháp luật là kết
quả của sự phản ánh tri giác, có mục đích, có tổ chức của hoạt động tư duy;
cho nên sự phản ánh này rất sâu sắc, là cơ sở hình thành lý luận, học thuyết về
Nhà nước và pháp luật của một giai cấp nhất định.
17
Bởi lẽ, quá trình hình thành tri thức về pháp luật ở con người chịu sự tác động
của những nhu cầu và lợi ích khác nhau, theo đuổi mục đích và trải qua những
xúc cảm khác nhau. Nói cách khác, tri thức với những mức độ khác nhau phải
được kết hợp với nhân tố tình cảm thì mới phát huy tác dụng. “Không có cảm
xúc của con người thì không bao giờ có thể tìm tới chân lý” [45,tr.72]. Điều đó
cho thấy, nếu tri thức pháp luật không chuyển thành tình cảm đối với pháp luật,
nghĩa là có thái độ tôn trọng, tin tưởng vào luật pháp để từ đó hình thành động
cơ đúng đắn trong việc chấp hành pháp luật, thì không thể có những hành vi
đúng đắn trong hành động thực tiễn của con người. Chính vì vậy, tri thức, thái
độ, tình cảm pháp luật là những yếu tố cơ bản cấu thành ý thức pháp luật của
con người.
Việc tìm hiểu cơ cấu của ý thức pháp luật, tức là nghiên cứu mối quan
hệ bên trong của các yếu tố cấu thành ý thức pháp luật, giúp chúng ta tìm hiểu
con đường hình thành ý thức pháp luật, sự đánh giá về ý thức pháp luật, cũng
như phương thức tác động giáo dục để hình thành và nâng cao ý thức pháp
luật cho nhân dân.
1.1.2. Giáo dục ý thức pháp luật
1.1.2.1. Khái niệmgiáo dục
Qua nghiên cứu các công trình khoa học đó được công bố, các giáo
trình lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật của các cơ sở đào tạo đại học và
sau đại học trên phạm vi cả nước cho thấy cho đến nay chưa có những quan
niệm thật sự rõ ràng về giáo dục ý thức pháp luật.
Vậy làm thế nào để có quan niệm đúng đắn về giáo dục ý thức pháp
luật? Để hiểu đúng đắn, khoa học khái niệm giáo dục ý thức pháp luật thì
trước hết chúng ta cần hiểu thế nào là giáo dục.
18
Theo nghĩa hẹp: giáo dục là quá trình tác động định hướng của chủ