ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
––––––––––––––––––––––
KHAM PHIÊN BUONCHINGMIXAY
NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG
ĐỊA PHƢƠNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
CHDCND LÀO QUA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOÀI LỚP HỌC
LUẬN VĂN THAC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
––––––––––––––––––––––
KHAM PHIÊN BUONCHINGMIXAY
NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG
ĐỊA PHƢƠNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
CHDCND LÀO QUA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOÀI LỚP HỌC
Chuyên ngành: LL&PPDH Bộ môn Sinh học
Mã số: 60140111
i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - PGS.TS Nguyễn Văn Hồng
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Thạc sỹ.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo thuộc bộ môn Phương pháp giảng
dạy Sinh học, khoa Sinh - KTNN trường ĐHSP - ĐH Thái Nguyên, các thầy cô
giáo và học sinh trường THPT SA LA KHAM, trường THPT BO Ố , trường
THPT SY THÁN huyện Hạt Xay Thoong ở thủ đô Viêng Chăn đã giúp đỡ tôi
trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận.
Học viên
KHAM PHIÊN BUONCHINGMIXAY
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan ......................................................................................................... i
Lời cảm ơn ............................................................................................................ ii
Mục lục ................................................................................................................iii
Danh mục các chữ viết tắt ................................................................................... iv
Danh mục các bảng............................................................................................... v
Danh mục các hình .............................................................................................. vi
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................... 5
3. Giả thuyết khoa học................................................................................................. 5
2.2.1. Tập xây dựng bộ tư liệu về môi trường địa phương ..................................... 37
2.2.2. Tổ chức điều tra tìm hiểu chất lượng nước uống cho học sinh trong trường
học .............................................................................................................................. 38
2.2.3. Tổ chức thảo luận xây dựng đạo đức môi trường ......................................... 40
2.2.4. Tổ chức chiến dịch truyền thông và hành động cải thiện vệ sinh môi
trường ........................................................................................................................ 41
2.2.5. Tổ chức thi viết tiểu phẩm, thi hát, viết luận, triển lãm tranh ảnh về bảo vệ
môi trường địa phương .............................................................................................. 43
Kết luận chương 2 ..................................................................................................... 45
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ............................................................ 46
3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm ........................................................................ 46
3.2. Nội dung thực nghiệm sư phạm ........................................................................ 46
3.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.................................................................. 46
3.3.1. Chọn trường thực nghiệm và đối tượng thực nghiệm................................... 46
3.3.2. Đánh giá hiệu quả thực nghiệm...................................................................... 47
3.4. Kết quả thực nghiệm sư phạm trước thực nghệm (TTN) và Sau thực nghiệm
(STN) .......................................................................................................................... 48
3.4.1. Phân tích định lượng ....................................................................................... 48
3.4.2. Kết quả phân tích định tính............................................................................. 51
Kết luận chương 3............................................................................................... 53
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .................................................................................... 55
1. Kết luận .................................................................................................................. 55
2. Đề nghị ................................................................................................................... 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 56
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
4
GDMT
Giáo dục môi trường
5
GV
Giáo viên
6
HS
Học sinh
7
MT
Môi trường
8
THPT
Trung học phổ thông
Hình 3.1. Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra TTN và STN ....................... 48
Hình 3.2. Đồ thị tần suất hội tụ tiến .................................................................. 49
vii
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xuất phát từ những lý do bản dưới đây :
1.1. Xuất phát từ chính sách và chiến lược thực hiện giáo dục môi trường
trong nhà trường phổ thông CHDCND Lào
Một trong những quan điểm chỉ đạo chiến lược đối với giáo dục và thể
thao ở CHDCND Lào là phát triển giáo dục và thể thao phải gắn với nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội, gắn tiến bộ khoa học, công nghệ với củng cố quốc
phòng, an ninh quốc gia, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Để hiện
thực hóa quan điểm này, trước tiên chúng ta phải ra sức tăng trưởng kinh tế,
nghĩa là phải thực hiện mục tiêu kinh tế. Cùng với sự phát triển kinh tế, Lào đã
và đang phải đối mặt không ít với vấn đề suy giảm môi trường nghiêm trọng
như: ô nhiễm môi trường; cạn kiệt các nguồn tài nguyên và suy giảm đa dạng
sinh học; nhiều loại động vật quý hiếm bị xóa sổ; sự gia tăng dân số quá nhanh
là nguy cơ dẫn đến nghèo đói và bệnh tật… Chính vì vậy, một trong những
nguyên tắc cơ bản là phải kết hợp mục tiêu phát trển kinh tế - xã hội với mục
tiêu sinh thái hay kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh
thái bền vững. Vần đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đã được xác
định không chỉ là vấn đề mang tính quốc gia mà còn là vấn đề toàn cầu hết sức
cấp bách [1; 2; 5; 6; 7].
Tháng 6 năm 1991, Chính phủ nước CHDCND Lào đã thông qua kế
hoạch Quốc gia về môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991 – 2000
[10]. Đây là văn bản có tính chiến lược đầu tiên đề cập đến tất cả các lĩnh vực
môi trường và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước, góp
vực thủ đô Viêng Chăn
Bước vào thiên niên kỉ mới – thế kỉ XXI, nhờ những thành tựu của cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới, cùng với sự phát triển công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, CHDCND Lào đang đúng trước những triển
vọng tốt đẹp, đồng thời CHDCND Lào cũng đang phải đối mặt với những
thách thức rất lớn lao, đặc biệt là những thách thức về môi trường. Những vấn
2
đề bức bách về môi trường như là: sự biến đổi khí hậu; suy giảm lượng và chất
tài nguyên nước; suy thoái đất; nạn phá rừng và sa mạc hóa bên cạnh những
vấn đề nổi cộm khác như tình trạng ô nhiễm, suy giảm đa dạng sinh học.v.v.
Những vấn đề nổi cộm và bức xúc đó không chỉ thể hiện ở tầm thế giới, tầm quốc
gia mà còn thể hiện rất rõ nét ở ngay từng địa phương thôn, xóm của đất nước.
Là một bộ phận của cộng đồng dân cư - xã hội, địa phương huyện Hạt
Xay Thoong ở thủ đô Viêng Chăn cũng đang đối mặt với những thách thức cơ
bản. Cụ thể là:
Một là: Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang thức đẩy
sự đô thị hóa, mở rộng các khu công nghiệp, dịch vụ, các hoạt động sản xuất
khác và do đó đã làm tăng nhu cầu về năng lượng, nguyên nhiên và vật liệu, tức
là làm tăng thêm nguy cơ cạn kiệt tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường.
Hai là: Qúa trình toàn cầu hóa và ảnh hưởng của các vấn đề môi trường
thế giới như: biển đổi khí hậu, an toàn và vệ sinh thực phẩm, các bệnh lây
nhiễm…sẽ có tác động mạnh đến vấn đề môi trường và phát triển bền vững ở
địa phương và của đất nước.
Ba là: Công tác quản lí môi trường vẫn còn yếu kém và còn nhiều bất
cập, nguồn đầu tư còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của việc
bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Những vấn đề cơ bản nêu trên có liên quan trực tiếp đến mọi người dân,
Bảo vệ môi trường hiện nay là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước
Lào, ngày 31/01/2005, Bộ trưởng Bộ Giaó dục và Thể thao Lào đã ra chỉ thị về
việc “ Tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường” và
coi đó là nhiệm vụ trọng tâm nhằm trang bị cho học sinh các cấp học những
kiến thức, kĩ năng cơ bản về môi trường và bảo vệ môi trường bằng cách tổ
chức các hoạt động ngoài giờ, ngoài lớp học, tích hợp giáo dục bảo vệ môi
trường thông qua các môn học như: vật lí, hóa học, sinh học, ngữ văn, lịch sử,
địa lí” [9]. Từ những điều đó, chúng ta có thể nhận thấy rằng: giáo dục bảo vệ
môi trường cho HS trong trường học là một trong những vấn đề rất cần được
chú ý và trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.
4
1.4. Xuất phát từ tính ưu việt của hoạt động ngoài lớp học
Hoạt động ngoài lóp học là một hình thức hoạt động giáo dục mang tính
tự nguyện và mang tính xã hội hóa cao, được thực hiện một cách có mục đích,
có kế hoạch, có tổ chức nhằm góp phần nâng cao nhận thức, kĩ năng và nhân
cách học sinh [16; 17].
Hoạt động ngoài lớp học với nội dung, hình thức đa dạng và phong phú
sẽ là phương thức để thực hiện nguyên lí giáo dục: “ Học đi đôi với hành, giáo
dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội”. Qua hoạt động
này, kiến thức môn học vừa được cùng cố, vừa được khơi sâu. Ngoài ra, đây
còn là môi trường rèn luyện phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người HS. Hoạt
động ngoài lớp học tạo ra sự liên hệ chặt chẽ giữa nhà trường với xã hội. Thông
qua đó phát huy sức mạnh của cộng đồng tham gia vào hoạt động giáo dục thể
thao của nhà trường.
Xuất phát từ những lý do cơ bản trên đây, tôi lựa chọn đề tài “ Nâng cao
chất lƣợng giáo dục môi trƣờng địa phƣơng cho học sinh trung học phổ
thông Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào qua các hoạt động ngoài lớp học”.
6.2. Các PPNC thực tiễn
6.2.1. Phương pháp điều tra: trao đổi trực tiếp với đội ngũ giáo viên và
các bộ quản lí ở các trường THPT, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hạt
Xay Phoong thuộc thủ đô Viêng Chăn.
6.2.2. Thực nghiệm sư phạm.
6.2.3. Hỏi ý kiến chuyên gia
Gặp gỡ trao đổi và xin ý kiến tư vấn của một số nhà khoa học, các cán bộ
quản lí thuộc sở tài nguyên và môi trường và ở một số trường THPT, một số
giáo viên giàu kinh nghiệm trong công tác GDMT.
6.3. Phương pháp phân tích số liệu
Sử dụng phần mềm Excel phân tích các số liệu thực nghiệm
7. Điểm mới của đề tài nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lí luận và thực tiễn về tổ chức các hoạt động ngoài lớp học
6
- Xây dựng được những hoạt động ngoài lớp học cụ thể về GDMT địa
phương phù hợp với HS THPT huyện Hạt Xay Thoong thuộc thủ đô Viêng Chăn.
- Xây dựng được quy trình tổ chức các hoạt động ngoài lớp học về
GDMT địa phương cho HS THPT.
8. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
- Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu các hình thức tổ chức hoạt động
ngoài lớp học nhằm nâng cao chất lượng GDMT địa phương cho HS THPT
huyện Hạt Xay thong thuộc thủ đô Viêng Chăn.
- Thực nghiệm sư phạm được thực hiện tại trường THPT SA LA
KHAM, trường THPT BO Ố, trường THPT SY THÁN huyện Hạt Xay Thoong
ở thủ đô Viêng Chăn của CHDCND Lào.
7
8
Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lê Nin đã coi tự nhiên không chỉ là một vật
cung cấp và con người không chỉ có biết khai thác nó, mà ngược lại con người
cần phải có những biện pháp bảo vệ và bổ sung cho tự nhiên, đảm bảo sự phát
triển bền vững của tự nhiên và con người. Tư tưởng đó từ lâu đã được coi là cơ
sở lí luận trong sự nghiệp GDMT.
1.1.2. Một số khái niệm cơ bản
Để cụ thể hóa tư tưởng của Mác - Ăng Ghen và Lê Nin về tính thống
nhất của con người và tự nhiên và sự cần thiết phải tiến hành GDMT và phát triển
bền vững, chúng ta cần phải làm rõ một số khái niệm cốt lõi liên quan đến MT,
GDMT và phát triển bền vững cũng như khái niệm về hoạt động ngoài lớp học.
1.1.2.1. Khái niệm về môi trường
Môi trường (environment) được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy theo
từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, văn hóa, xã hội và tùy theo mục đích, đối
tượng nghiên cứu khác nhau cũng như theo quan niệm của các tác giả khác nhau.
- Triết học phương Đông coi con người và môi trường xung quanh có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến đời
sống con người.
- Chủ nghĩa Mác - Lê Nin đã khẳng định con người không chỉ chịu ảnh
hưởng tác động trực tiếp của môi trường mà còn gây ảnh hưởng trở lại đến môi
trường và con người cần phải tìm ra các giải pháp để giữ gìn và BVMT.
- Ngày nay, đã có nhiều định nghĩa về môi trường, đặc biệt sau ngày
5/6/1972, tức là sau ngày kết thúc Hội nghị thế giới về “Môi trường và con
người” tại Stockholm (Thụy Điển), khái niệm môi trường đã được các tác giả
định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:
+ Các học giả phương Tây định nghĩa môi trường theo không gian sống,
họ coi môi trường là nơi ở và nơi làm việc, không gian và cảnh quan, cung cấp
tài nguyên, là nơi diễn ra các hoạt động và là nơi thu nhận các chất thải của
- Hệ thống sinh thái tự nhiên. Bao gồm:
10
+ Đất
+ Nước
+ Không khí
+ Động vật, thực vật, vi sinh vật
+ Các hệ sinh thái
+ Các trường vật lí (nhiệt, điện, từ, phóng xạ...)
- Hệ thống xã hội – nhân văn. Bao gồm:
+ Dân số và các động lực dân cư
+ Giới tính
+ Dân tộc, phong tục, tập quán, văn hóa, thói quen, lối sống,...
+ Luật, chính sách, hương ước, lệ làng,...
+ Tổ chức, cộng đồng,...
- Hệ thống các điều kiện tác động. Bao gồm:
+ Các chương trình, dự án phát triển kinh tế
+ Các hoạt động quân sự, chiến tranh
+ Các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, ngư nghiệp
+ Các hoạt động du lịch, vui chơi giải trí
+ Các hoạt động xây dựng, phát triển đô thị
Khoa học môi trường xem xét các hệ thống trên một cách tổng thể trong
mối quan hệ tương tác ảnh hưởng lẫn nhau (Hình 1.1). Nói cách khác là: vấn đề
môi trường chỉ được xem xét một cách đầy đủ trong tính hệ thống toàn vẹn của
nó, bởi lẽ môi trường là một hệ thống mở. Do vậy, nghiên cứu và quản lí môi
trường đòi hỏi những kiến thức đa ngành và liên ngành. Các khoa học chuyên
ngành sẽ xem xét các hệ trên một cách riêng rẽ. Những quyết định về môi
trường chỉ dựa trên một lĩnh vực nói trên là không hoàn hảo và chuẩn xác, mà
Giáo dục môi trường đã có một lịch sử phát triển lâu dài. Đặc biệt trong
khoảng 10 năm gần đây kể từ khi Uỷ ban Thế giới về “Môi trường và phát
triển” công bố báo cáo “Tương lai của chúng ta” thì GDMT được nhắc đến một
cách thường xuyên trong các diễn đàn Quốc tế, Quốc gia cũng như tại địa
phương, cơ sở giáo dục, nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh và cơ quan quản lý.
12
Tuy nhiên, GDMT được hiểu theo những quan niệm khác nhau và dẫn tới
những vấn đề phức tạp trong thực thi GDMT.
Định nghĩa GDMT thường được gắn với mục tiêu của GDMT. Định nghĩa
được chấp nhận một cách phổ biến nhất do Hội nghị Quốc tế về GDMT của
liên hợp Quốc tổ chức tại Tbilisi năm 1977 đưa ra. Theo Hội nghị này thì
GDMT có mục tiêu: “Làm cho các cá nhân và các cộng đồng hiểu được bản
chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương
tác của nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh tế và văn hóa; đem lại cho
họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để họ tham gia
một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề
MT và quản lý chất lượng môi trường” [18].
GDMT cũng được xem như là: “Một quá trình thường xuyên qua đó con
người nhận thức được MT của họ và thu được kiến thức, giá trị, kỹ năng, kinh
nghiệm cùng quyết tâm hành động giúp họ giải quyết các vấn đề MT hiện tại và
tương lai, để đáp ứng các yêu cầu của các thế hệ hiện nay mà không vi phạm
khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai”.
Qua các định nghĩa nêu trên, có thể rút ra nhận xét tổng quát rằng, GDMT
nói chung (không phân biệt giáo dục cho đông đảo nhân dân giáo dục trong các
trường phổ thông, giáo dục đại học, giáo dục chuyên nghiệp) có mục tiêu đem
lại cho đối tượng các vấn đề sau:
- Hiểu biết bản chất các vấn đề MT: Tính phức tạp, quan hệ nhiều mặt
thuật viên, kỹ sư, cán bộ nghiên cứu giảng dạy. Như vậy, GDMT không phải là
việc học một lần trong đời, mà là học suốt đời. GDMT phải được tiến hành
giáo dục sâu rộng ngay từ tuổi ấu thơ tới tuổi trưởng thành. Đối với lứa tuổi
nhỏ, GDMT có mục đích tạo nên “con người giác ngộ về MT”. Với lứa tuổi
trưởng thành, mục đích này là “Người công dân có trách nhiệm về MT”. Với
người đang hoạt động sản xuất, giảng dạy, dịch vụ, quản lý, mục đích này lại là
hình thành “nhà chuyên môn thấu hiểu về MT”. Mục đích cuối cùng của
GDMT là tiến tới xã hội hóa các vấn đề MT, nghĩa là tạo ra những công dân có
nhận thức, có trách nhiệm về MT và biết sống vì MT.
14
Một khi các vấn đề MT đã được xã hội hóa thì những lợi ích kinh tế cho
cộng đồng ngày càng một gia tăng và đặc biệt hiệu lực quản lý nhà nước tăng
nhưng gánh nặng chi phí giảm hẳn. Từ những kết quả nghiên cứu về các
phương pháp khắc phục MT ở nhiều quốc gia trên thế giới, chúng ta đi đến kết
luận chung là: Không có giải pháp nào kinh tế và hiệu quả bằng việc đầu tư vào
con người thông qua công tác GDMT.
Như vậy, GDMT dựa trên những tri thức về môi trường mà hình thành thái
độ, ý thức, trách nhiệm và kĩ năng hành động thực tiễn của HS. Chúng tôi coi
đây là quan điểm chỉ đạo trong suốt quá trình nghiên cứu của mình và theo
chúng tôi có thể đưa ra định nghĩa GDMT như sau: GDMT là hoạt động giáo
dục góp phần hình thành ý thức đúng đắn của con người đối với MT nhằm mục
đích bảo vệ, khai thác hợp lí tài nguyên thiên nhiên và chống ô nhiễm MT.
1.1.2.3. Khái niệm về phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một khái niệm đã được đưa ra trong Hội nghị
thượng đỉnh họp tại Rio de Janero (Brazil) vào tháng 12/ năm 1992 của thế giới
bàn về “Môi trường và Phát triển” [18].
Phát triển bền vững là một sự phát triển sử dụng tài nguyên thiên nhiên,
thấp thì chưa đạt tới mức bền vững.
* Có cơ cấu GDP lành mạnh đảm bảo tăng trưởng GDP bền vững lâu dài
(đóng góp của công nghiệp và dịch vụ phải cao hơn nông nghiệp).
Trong phạm vi quốc gia đánh giá tính bền vững về kinh tế của một địa
phương cũng có thể dựa vào các chỉ tiêu trên.
+ Bền vững xã hội
Tính bền vững và phát triển xã hội của các quốc gia cũng thường được đánh
giá qua một số chỉ tiêu: sự phát triển của con người, hệ số bình đẳng, thu nhập,
giáo dục, y tế, văn hoá…
+ Bền vững về môi trường
Môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện vật lí, hoá học,
sinh học và xã hội bao quanh có ảnh hưởng đến sự sống và phát triển của cá nhân
và cộng đồng con người. Môi trường sống có 4 chức năng cơ bản [18]:
* Cung cấp nơi sống cho con người (nơi ở và nơi làm việc)
16