MỤC LỤC
Mục
Phần I
I
II
1
2
3
Phần II
Chương I.
A
I
1
a
b
2
II
1
a
b
C
d
2
A
b
Nội dung
Mục lục
Mở đầu
Lý do chọn đề tài
Mục đích, đối tượng, phương pháp và nhiệm vụ nghiên cứu
5
5
6
6
6
6
6
6
6
6
7
7
9
9
9
9
10
10
11
11
11
C
d
Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
a
c
d
ChươngII
I
1
2
3
4
II
Dạy học lấy học sinh làm trung tâm, tư duy phê phán, sự cộng
tác và hướng dẫn.
Dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Tư duy phê phán
Sự cộng tác
12
12
13
14
14
14
15
15
17
17
17
18
20
22
31
1
2
B
I
1
2
C
I
a
b
2
II
1
2
3
4
5
6
III
IV
1
2
3
V
Giai đoạn thứ nhất:
Giai đoạn thứ hai
Nhận thức của CBGV:
Việc vận dụng
Kết quả
Kết luận
37
37
37
3
Nguyễn Thị Ngọc Anh – PTDTNT –Bát Xát – Lào Cai
34
35
35
36
36
36
36
37
48
48
49
49
49
PHẦN I: MỞ ĐẦU
nghiệp. Dạy ngoại ngữ và tin học theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng
lực sử dụng của người học. Quan tâm dạy tiếng nói và chữ viết của các dân tộc
thiểu số; dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người Việt Nam ở nước
ngoài.
Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các
chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người.
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại;
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của
4
Nguyễn Thị Ngọc Anh – PTDTNT –Bát Xát – Lào Cai
người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung
dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật
và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp
sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa,
nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông
trong dạy và học.
Học sinh của Tỉnh Lào Cai là đa số ở vùng cao và là con em các đồng bào dân
tộc; việc nhận thức về vị trí, vai trò của giáo dục của cha mẹ học sinh và học sinh
còn hạn chế; nhận thức, ý thức học tập của học sinh không đồng đều giữa các vùng
miền. Để thực hiện nhiệm vụ và giải pháp trên đòi hỏi cán bộ quản lý chỉ đạo tuyên
truyền để nhân dân, học sinh, chính quyền địa phương quan tâm, phối kết hợp cùng
nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục đồng thời trong quá trình giảng dạy
chúng ta cần biết lựa chọn phương pháp dạy tối ưu nhất, phù hợp với đối tượng
học sinh, phù hợp với mục tiêu và nội dung của bài học. Song để đi đến thành công
đòi hỏi giáo viên phải biết và không ngừng nổ lực phấn đấu, sáng tạo, đổi mới
phương pháp dạy học, đầu tư thích đáng vào nghiên cứu và nắm chắc nội dung
kiến thức cần giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh. Đây là một công việc vừa
- Học sinh PTDTNT Bát Xát
3. Phương pháp và nhiệm vụ
*Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Tìm hiểu lý luận của các phương pháp dạy học sau đó tổng hợp thành lý luận
chung.
* Phương pháp thực tiễn:
- Tìm hiểu cách thức tổ chức dạy học của giáo viên về đổi mới phương pháp,
về tổ chức cho học sinh tiếp cận nội dung kiến thức sách giáo khoa, tính hiệu quả
đạt mục tiêu đề ra.
- Tổ chức chuyên đề về đổi mới sinh hoạt chuyên môn đảm bảo đổi mới
phương pháp dạy học, lựa chọn, tinh giảm kiến thức phù hợp với đối tượng học
sinh, thống nhất cách thức, nội dung trở thành tinh thần chung hoạt động chuyên
môn của trường.
PHẦN II: NỘI DUNG
A: CƠ SỞ LÝ LUẬN
CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRUYỀN
THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI
I. Phương pháp dạy học truyền thống.
1. Phương pháp dạy học truyền thống là gì ?
a. Khái niệm phương pháp dạy học?
Phương pháp dạy học (PPDH) là một hệ thống những hành động có mục đích
của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh,đảm
bảo học sinh lĩnh hội nội dung học vấn.
Trong quá trình dạy học, người giáo viên thường tập trung sự cố gắng của mình
vào việc biên soạn nội dung và PPDH.
Trong lý luận dạy học người ta phân làm hai nhóm phương pháp: PPDH đại
cương và PPDH bộ môn.
b. Phương pháp dạy học truyền thống
PPDH này lấy hoạt động của người thầy là trung tâm. Theo Frire - nhà xã hội
đề và đến thế giới thực.
• Học sinh học thuộc lòng các sự kiện và đôi khi phân tích thông tin một cách
độc lập.
• Học sinh làm việc để tìm ra một câu trả lời đúng.
• Giáo viên chọn các hoạt động và cung cấp tài liệu ở cấp độ thích hợp.
Về cách dạy học:
• Giáo viên là người cung cấp thông tin- là vị thánh trên bục giảng- giúp học
sinh đạt được kĩ năng và kiến thức.
• Học sinh hoàn thành những hoạt động và bài học ngắn, tách rời nhau dựa trên
những mảng nội dung và kỹ năng cụ thể.
• Giáo viên là chuyên gia, chỉ ra những điểm yếu của học sinh.
7
Nguyễn Thị Ngọc Anh – PTDTNT –Bát Xát – Lào Cai
• Dạy học là một quá trình truyền đạt thông tin.
Về môi trường học tập:
• Học sinh học một cách thụ động trong một lớp học thường là yên lặng.
• Học sinh thường làm việc riêng lẻ, một cách độc lập, không có sự trao đổi hay
hoạt động theo nhóm nhiều để phát huy hết vai trò trao đổi kinh nghiệm và
học hỏi lẫn nhau...
Cách đánh giá:
• Học sinh thi bài thi dùng bút và giấy, một cách yên lặng và riêng lẻ. Câu hỏi
được giữ bí mật cho đến giờ thi, để học sinh sẽ phải học tất cả tài liệu mặc dù
chỉ kiểm tra một phần trong đó.
• Giáo viên chịu trách nhiệm chủ yếu cho việc học của học sinh.
• Học sinh bị kích thích một cách không thực chất bởi mong muốn đạt được
điểm tốt, làm hài lòng giáo viên và giành được phần thưởng.
a. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong
Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1 - 1993), Nghị quyết Trung ương 2
khóa VIII (12 - 1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12 - 1998),
được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là
chỉ thị số 15 (4 - 1999).
Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với
đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem
lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh".Có thể nói cốt lõi của đổi mới
dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học
tập thụ động.
b. Thế nào là tính tích cực học tập
Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người, bởi vì để tồn
tại và phát triển con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến môi trường
tự nhiên, cải tạo xã hội. Vì vậy, hình thành và phát triển TTC xã hội là một
trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục.
Tính tích cực học tập - về thực chất là TTC nhận thức. TTC học tập biểu
hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ
sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề
nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ;
chủ động vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tập
trung chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản
trước những tình huống khó khăn…
9
Nguyễn Thị Ngọc Anh – PTDTNT –Bát Xát – Lào Cai
gọi phải phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, thực hiện "dạy học
phân hóa" quan tâm đến nhu cầu, khả năng của mỗi cá nhân học sinh trong
tập thể lớp. Phương pháp dạy học tích cực, dạy học lấy học sinh làm trung
tâm ra đời từ bối cảnh đó.
Trên thực tế, trong quá trình dạy học người học vừa là đối tượng của hoạt
động dạy, lại vừa là chủ thể của hoạt động học. Thông qua hoạt động học,
10
Nguyễn Thị Ngọc Anh – PTDTNT –Bát Xát – Lào Cai
dưới sự chỉ đạo của thầy, người học phải tích cực chủ động, tự mình chiếm
lĩnh kiến thức, kỹ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách. Vì vậy, nếu người
học không tự giác chủ động, không chịu học, không có phương pháp học tốt
thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế.
Như vậy, việc coi trọng vị trí hoạt động và vai trò của người học cũng chính
là phát huy tính tích cực chủ động của người học. Tuy nhiên, dạy học lấy
học sinh làm trung tâm không phải là một phương pháp dạy học cụ thể. Đó
là một tư tưởng, quan điểm giáo dục, một cách tiếp cận quá trình dạy học chi
phối tất cả quá trình dạy học về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương
tiện, tổ chức, đánh giá… chứ không phải chỉ liên quan đến phương pháp dạy
và học.
2. Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực
a. Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn, lôi cuốn học sinh vào các hoạt động
thực tế. Học sinh là những chủ thể sáng tạo, từng chủ thể sáng tạo, có tiềm
năng sáng tạo vô tận, có khả năng tự mình khám phá kiến thức, kỹ năng,…,
qua đó bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo của mình nhờ sự hỗ trợ của
người bạn lớn là người thầy. Kết quả mà học sinh thu được có thể vượt cả
thầy, vượt cả sách.
cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình
lên một trình độ mới. Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm
sống của người thầy giáo.
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm,
tổ, lớp hoặc trường. Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp
tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học
tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự
nhu cầu phối hợp giữa các cá thể để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt
động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của
mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh
thần tương trợ.
d. Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định
thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều
kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. Đồng thời,
giáo viên cũng cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh
giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực
rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho
học sinh.
Có thể so sánh đặc trưng của dạy học cổ truyền và dạy học mới
như sau:
Dạy học cổ truyền
Các mô hình dạy học mới
12
Nguyễn Thị Ngọc Anh – PTDTNT –Bát Xát – Lào Cai
xảo. Học để đối phó với thi cử.phương pháp và kỹ thuật lao động khoa
Sau khi thi xong những điều đãhọc, dạy cách học. Học để đáp ứng những
học thường bị bỏ quên hoặc ítyêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương
dùng đến.
lai. Những điều đã học cần thiết, bổ ích
cho bản thân học sinh và cho sự phát triển
xã hội.
−
Từ sách giáo Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK, GV,
các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm,
khoa + giáo viên
bảo tàng, thực tế…: gắn với:
−
Vốn hiểu biết, kinh nghiệm
và nhu cầu của HS.
−
Tình huống thực tế, bối cảnh
và môi trường địa phương
−
Những vấn đề học sinh quan
tâm.
Phương
−
Các phương −
Các phương pháp tìm tòi,
pháp
pháp diễn giảng, truyền thụđiều tra, giải quyết vấn đề; dạy học tương
kiến thức một chiều.
tác.
dục và đào tạo.
Trong dạy học theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, học sinh vừa nắm
được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát triển tư
duy tích cực, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội,
phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh. Dạy và học phát hiện,
giải quyết vấn đề không chỉ giới hạn ở phạm trù phương pháp dạy học, nó đòi hỏi
cải tạo nội dung, đổi mới cách tổ chức quá trình dạy học trong mối quan hệ thống
nhất với phương pháp dạy học.
c. Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ
Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ là mới với đa số giáo viên. Ở
những trường từng tham gia Chương trình Dạy học cho tương lai (Intel Teach to
the Future), Chương trình Khoá Khởi đầu (Intel Gettingstart Course) hay các dự án
giáo dục dân số, giáo dục môi trường, phòng chống HIV/AIDS…giáo viên đã được
làm quen với phương pháp này do các chuyên gia quốc tế hướng dẫn.
Phương pháp dạy học hợp tác giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn
khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách
nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình
về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành quá trình
học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên.
Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành
viên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia. Trong hoạt
động nhóm, tư duy tích cực của học sinh phải được phát huy và ý quan trọng của
14
Nguyễn Thị Ngọc Anh – PTDTNT –Bát Xát – Lào Cai
phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức
lao động. Cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ
chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới PPDH và hoạt động
cũng đã có hiệu quả phát triển tư duy của học sinh. Để kích thích tư duy tích
15
Nguyễn Thị Ngọc Anh – PTDTNT –Bát Xát – Lào Cai
cực của học sinh cần tăng cường mối liên hệ ngược giữa học sinh và giáo
viên, xen kẽ vấn đáp, thảo luận giữa người nghe và người thuyết trình.
Trong quá trình thuyết trình bài giảng, giáo viên có thể thực hiện một số
hình thức thuyết trình thu hút sự chú ý của học sinh như sau:
− Trình bày kiểu nêu vấn đề: diễn đạt vấn đề dưới dạng nghi vấn, gợi mở để gây
tình huống lôi cuốn sự chú ý của học sinh.
−Thuyết trình kiểu thuật chuyện: dùng những sự kiện kinh tế- xã hội, tác phẩm
văn học, phim ảnh… làm tư liệu để phân tích, minh họa, nhằm khắc sâu nội dung
kiến thức của bài học.
−Thuyết trình kiểu mô tả, phân tích: dùng công thức, sơ đồ, biểu mẫu… để mô
tả phân tích nhằm làm rõ bản chất của vấn đề.
−Thuyết trình kiểu nêu vấn đề có tính giả thuyết: đưa ra một số giả thuyết hoặc
quan điểm có tính chất mâu thuẫn với vấn đề đang nghiên cứu đòi hỏi học sinh
phải lựa chọn quan điểm đúng, sai và có lập luận vững chắc về sự lựa chọn
của mình.
−Thuyết trình kiểu so sánh, tổng hợp: sử dụng số liệu thống kê để phân tích, so
sánh rút ra kết luận nhằm góp phần làm tăng tính chính xác và tính thuyết phục của
vấn đề.
Trước đây, để minh họa nội dung bài giảng, giáo viên chỉ có thể sử dụng lời
nói giàu hình tượng và gợi cảm kèm theo những cử chỉ, điệu bộ diễn tả nội
tâm hoặc có thêm bộ tranh giáo khoa hỗ trợ. Hiện nay, bài giảng hiện đại
đang có khuynh hướng sử dụng ngày càng nhiều các phương tiện công nghệ
thông tin, làm tăng sức hấp dẫn và hiệu quả, như: máy chiếu, băng ghi âm,
băng ghi hình, đĩa CD, phần mềm máy vi tính... Tiến tới mọi giáo viên phải
Dạy học là một quá trình tự kiến tạo.
Học sinh thực hiện các hoạt động và các dự án liên quan đến những
mục tiêu lâu dài nhằm xây dựng sự hiểu biết khái niệm sâu sắc và việc sử dụng
phương pháp thành thạo.
Môi trường lớp học
Môi trường lớp học giống một nơi làm việc năng động với nhiều loại
hoạt động và mức độ ồn ào khác nhau.
Học sinh thường cộng tác với bạn học, chuyên gia, các thành viên
cộng đồng và giáo viên.
Cách đánh giá
Học sinh biết rõ họ sẽ được đánh giá như thế nào, hiểu được các tiêu
chí theo đó họ sẽ được đánh giá, nhận ý kiến phản hồi từ giáo viên và bạn học của
họ trong suốt bài học và có nhiều cơ hội để đánh giá cách học của riêng mình.
Giáo viên và học sinh chia sẻ trách nhiệm đối với thành tích học tập
đạt được.
Sự quan tâm và đam mê của học sinh thúc đẩy sự kích thích và nỗ lực
có giá trị bản chất.
Công nghệ
17
Nguyễn Thị Ngọc Anh – PTDTNT –Bát Xát – Lào Cai
Học sinh sử dụng các loại công nghệ khác nhau để làm nghiên cứu,
trao đổi thông tin và tạo ra kiến thức.
b. Tư duy phê phán
Tư duy phê phán là một kỹ năng trọng tâm của thế kỷ 21.Có nhiều mô hình
giúp giáo viên nhận biết và phân loại các kỹ năng tư duy. Mô hình quen thuộc nhất
là bảng phân loại những kỹ năng tư duy của Bloom:
- Biết
Nhận biết và nhớ lại thông tin
Kể, cho xem, hướng dẫn
sinh
Hấp thu, nhớ, nhận biết
Học thuộc lòng, liệt kê, nói tên
viên
Hiểu thông tin được cung cấp
Chỉ ra, so sánh, đối chiếu
sinh
Giải thích, dịch, chứng minh
Xác định, kể, thảo luận
Những kỹ năng tư duy bậc cao
Vận dụng
Định nghĩa
Những điều giáo viên
làm
Sử dụng các khái niệm trong các tình huống mới
Quan sát, hướng dẫn, phê bình
18
Đánh giá
Sắp xếp thông tin để tạo ra một tổng thể mới
Mở rộng, đánh giá, phản ánh
Định nghĩa
Những điều giáo viên
làm
Những điều học sinh
làm
Động từ yêu cầu
Định giá trị dựa trên các tiêu chí
Làm rõ, chấp nhận, dung hoà
Khái quát hoá, tạo dựng, lập kế hoạch
Đưa ra đề nghị, tổ chức, tạo ra
Tranh luận, đánh giá, lựa chọn
Chọn, ước tính, tiên đoán
Cách dạy học của thế kỷ 21 khuyến khích giáo viên đi xa hơn những hoạt động
tư duy bậc thấp gồm biết và hiểu để rèn luyện những cấp tư duy bậc cao hơn như
phân tích, tổng hợp, đánh giá.
c. Sự cộng tác
• Để đạt được mục đích học tập
Những nỗ lực để đạt được mục đích học tập có thể được sắp xếp thành ba cách:
•
Cạnh tranh: học sinh thi đua với nhau để xem ai giỏi nhất hoặc nhanh
nhất để giành được phần thắng mà chỉ một hoặc một số ít người có thể giành được.
thích, làm mẫu, hướng dẫn trực tiếp và quá trình thực hành. Khi học sinh cộng tác
và cùng nhau làm việc, giáo viên cần làm rõ:
• Tất cả thành viên trong nhóm đều tham gia và thấy được vai trò của mình.
• Tất cả thành viên trong nhóm đều đồng ý với các mục tiêu và kế hoạch làm
ra sản phẩm của mình.
• Tất cả thành viên trong nhóm đều thực hiện các nhiệm vụ được phân công
để hoàn thành sản phẩm.
• Tất cả thành viên trong nhóm cùng nhau xem lại công việc để tìm cách làm
tốt hơn.
• Tất cả thành viên trong nhóm thảo luận về công việc của mình và giúp đỡ
nhau khi triển khai thực hiện.
Khi học sinh làm việc với nhóm sẻ sinh nên mâu thuẫn có thể nảy sinh. Giáo
viên cần tìm ra các giải pháp khả thi để giải quyết. Chẳng hạn:
1. Một học sinh từ chối làm việc với một bạn hoặc nhóm bạn.
- Tìm hiểu nguyên nhân
- Chia nhóm lại
- Chọn cách chia theo sở thích.
2. Không ai muốn làm việc với một số học sinh nào đó
20
Nguyễn Thị Ngọc Anh – PTDTNT –Bát Xát – Lào Cai
- Tìm hiểu nhóm và cá nhân
- Động viên, khuyến khích.
3. Học sinh nhút nhát và không cởi mở
- Quan tâm, động viên, khuyến khích
- Dùng phương pháp phù hợp: dùng giấy ghi, dựa vào giấy để trả lời
- Phân các em năng động, cởi mở giúp đỡ, hướng dẫn, cho em học sinh
này trình bày sau.
các kỹ năng nghe tốt.
Các em sẽ dễ dàng nghe được những gì các
bạn ấy nói nếu như các em nhìn vào các bạn
ấy.
Hướng dẫn học sinh những điều
Hãy giơ tay để bạn ấy biết rằng em không
cần làm nếu như họ không thể nghe. thể nghe được những gì bạn ấy nói.
Nhắc lại những điều học sinh nói
Duy à, em nói là Microsoft Paint sẽ là
21
Nguyễn Thị Ngọc Anh – PTDTNT –Bát Xát – Lào Cai
cho rõ ràng khi cần thiết.
công cụ tốt nhất. Thuận muốn biết tại sao em
nghĩ vậy.
Phản hồi trung dung
Thuỷ đã chia sẻ cho chúng ta một ý kiến.
Có ai muốn chia sẻ một ý kiến khác không?
Động viên học sinh nói thêm chi
Em muốn bổ sung thêm gì nữa?
tiết.
Bao quát tất cả các học sinh.
Còn ai khác muốn hỏi thêm?
Báo cho học sinh biết khi chuyển
Chúng ta hãy tìm hiểu một giải pháp khác
hướng.
các em nhé.
Nguyễn Thị Ngọc Anh – PTDTNT –Bát Xát – Lào Cai
• Hỏi các câu hỏi nhiều hơn một câu trả lời đúng
• Thay thế các câu hỏi được trả lời bằng Có/Không hay chỉ với một từ
bằng cách hỏi Như thế nào?.... Tại sao?...hoặc Cái nào?...
• Khuyến khích việc chia sẻ câu trả lời với bạn học hay nhóm nhỏ trước
khi chia sẻ với nhóm lớn hơn.
• Gọi học sinh một cách ngẫu nhiên và cho phép học sinh đó yêu cầu
những học sinh khác trả lời
• Hướng dẫn lại những câu trả lời sai
• Yêu cầu một học sinh tóm tắt ý của học sinh khác
• Hỏi những câu hỏi tiếp nối như: Tại sao? Em có thể nói rõ hơn được
chứ? Và một ví dụ khác là gì?
• Đề nghị học sinh “cởi mở những suy nghĩ của các em” và chia sẻ cách
các em tìm ra câu trả lời
• Để học sinh tự phát triển những câu hỏi của riêng các em để hỏi những
người khác.
• Tránh xu hướng muốn ngắt lời và sửa lỗi ngay tức thì
• Tránh đưa ra phán xét và nêu phản hồi ý kiến nhưng không đưa ra đánh
giá.
Một trong những bí quyết của kỹ năng đưa ra câu hỏi hay chính là việc
giáo viên dành thời gian suy nghĩ hoặc chờ một thời gian. Thời gian suy
nghĩ hợp lý nhất là từ ba đến năm giây. Lợi ích mà khoảng thời gian suy
nghĩ này đem lại chính là sự gia tăng:
• Các câu trả lời từ nhiều học sinh hơn
• Việc theo dõi lắng nghe giữa các học sinh
• Các câu trả lời chính xác và tự tin.
Kỹ năng khuyến khích
Những học sinh có năng khiếu đặc biệt thường được giáo viên khen ngợi.
câu Em xử lý vấn đề đó rất hay
Nuôi dưỡng mối quan tâm của cá nhân
Khuyến khích sự chấp nhận là mình chưa
hoàn hảo
Dẫn đến sự tự hoàn thiện
Không kềm theo lời đánh giá phê bình
nào
Một số phương pháp khuyến khích học sinh bao gồm:
• Tỏ ra tích cực: Em đã dành nhiều thì giờ cho vấn đề đó
• Tập trung vào các điểm mạnh: Em đã sử dụng được nhiều chi tiết trong
các bản vẽ của mình
• Khuyến khích học sinh phấn đấu cho sự tiến bộ: Em tỏ ra chưa được hài
lòng lắm, vậy thì em sẽ làm điều gì khác nào?
• Phải cụ thể trong việc nhận xét hành vi mong muốn: Cám ơn em vì sự
nhẫn nại!
• Khuyến khích nỗ lực: Hãy nhìn vào sự tiến bộ mà em đã đạt được!
Kỹ năng can thiệp
Những giáo viên hướng dẫn có hiệu quả thường theo dõi học sinh một cách
cẩn thận và quyết định thời điểm can thiệp thích hợp.
Giáo viên can thiệp để :
• Cung cấp thông tin phản hồi trong suốt quá trình dạy học
• Cung cấp sự xác nhận với lý lẽ hợp lý
• Đảm bảo sự trao đổi thông tin hai chiều
• Tạo điều kiện để phát triển mối quan hệ tương đồng
• Cải tiến quá trình
• Đảm bảo sự công bằng
• Giúp làm sáng tỏ vấn đề
• Định hướng lại
• Giúp học sinh giải quyết khi có mâu thuẫn
Tại sao chúng ta lại cần các kế hoạch hành động?
Nghiên cứu cho thấy kế hoạch hành động đáp ứng ba mục đích trong việc thực
hiện những thay đổi:
• Lập kế hoạch hành động buộc giáo viên phải trình bày được những gì họ
đang nỗ lực đạt được.
• Kế hoạch hành động dự đoán các vấn đề và xác định các nguồn tài nguyên.
• Việc liệt kê các bước thực hiện sẽ khích lệ giáo viên tiếp tục công việc bởi
họ nhìn thấy các thành quả sẽ đạt được ở các bước tiếp theo.
Lập kế hoạch hành động như thế nào.
Các bước lập kế hoạch hành động bao gồm:
Bước 1- Áp dụng hiểu biết công nghệ thông tin cùng các kỷ năng và phương
pháp giảng dạy của thế kỷ 21
Bước 2- Xây dựng kế hoạch, như sau:
Xác định các mục tiêu chính của bạn là?
25
Nguyễn Thị Ngọc Anh – PTDTNT –Bát Xát – Lào Cai