PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP HƯNG YÊN
TRƯỜNG TIỂU HỌC HIẾN NAM
- - - - - - o0o - - - - - - -
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP
“ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ VÀ GIẢNG DẠY”
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC.
Lĩnh vực : Quản lý
Tên tác giả : Cao Thị Hương
Chức vụ
: Hiệu trưởng
Năm học: 2013 - 2014
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề.....................................................................................................04
2. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 05
3. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 05
4. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 06
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 06
- GDĐT: Giáo dục đào tạo
- HĐH: Hiện đại hoá
- HĐND: Hội đồng nhân dân
- PPDH: Phương pháp dạy học
- QĐ-TTg: Quyết định thủ tướng
- TBDH: Thiết bị dạy học
- UBND: Uỷ ban nhân dân
3
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Ngày nay cùng với sự bùng nổ của CNTT, lượng tri thức của nhân loại tăng
nhanh như vũ bão. Chúng ta đã và đang bước vào kỷ nguyên của CNTT cùng với
nên kinh tế tri thức, trong xu thế toàn cầu hoá, điều đó ảnh hưởng sâu sắc đến mọi
hoạt động của đời sống xã hội ở tất cả các quốc gia trên thế giới đòi hỏi con người
phải có nhiều kỹ năng và thái độ tích cực để tiếp nhận và làm chủ tri thức, làm chủ
thông tin một cách sáng tạo. Vì vậy, đổi mới giáo dục và đào tạo đang diễn ra trên
quy mô toàn cầu, tạo nên những biến đổi sâu sắc trong nền giáo dục thế giới cũng
như ở Việt Nam theo hướng hiện đại hoá, công nghiệp hoá.
Đối với ngành giáo dục và đào tạo, năm học 2008-2009, Bộ giáo dục và đào
tạo đã xác định: “Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT”. CNTT là phương tiện để tiến
tới một “xã hội học tập” hiện đại. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng yêu cầu “đẩy mạnh
ứng dụng CNTT trong GD-ĐT ở tất cảc các cấp học, bậc học, ngành học. Coi CNTT
như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn.
Chỉ thị số 58- CT/TW của Bộ chính trị (khoá VIII) khẳng định: “Ứng dụng
và phát triển công nhệ thông tin là nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu rút ngắn khoảng cách
phát triển so với các nước đi trước. Mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hoá, xã
Vì vậy việc tổ chức triển khai ứng dụng CNTT vào giảng dạy trong nhà trường
là hết sức cần thiết và quan trọng. Xuất phát từ thực tiễn đó tôi đã mạnh dạn nghiên
cứu đề tài : “Một số biện pháp ứng dụng CNTT trong quản lí và giảng dạy” nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục trong trường tiểu học.
3.Tình hình nghiên cứu:
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và tính cấp thiết phải tổ chức triển khai
CNTT vào quản lí và giảng dạy. Tôi và các đồng chí lãnh đạo nhà trường đã tập
trung nghiên cứu lí luận. Phân tích các tài liệu có liên quan đến CNTT. Tìm hiểu
thực tiễn việc ứng dụng CNTT của nhà trường và một số trường bạn đã ứng dụng
CNTT. Tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm, tôi nhận thấy nếu thực hiện được các
5
biện pháp triển khai ứng dụng CNTT mà tôi đề xuất dưới đây, vào quản lí và
giảng dạy chắc chắn chất lượng giáo dục của nhà trường sẽ đạt hiệu quả cao hơn.
4. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của SKKN nghiên cứu nhằm đề xuất các biện pháp tổ chức triển khai
việc ứng dụng CNTT vào quản lí và giảng dạy ở trường tiểu học Hiến Nam nhằm
nâng cao chất lượng giảng dạy - học tập của giáo viên và học sinh nhà trường.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu:
1. Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về CNTT, ứng dụng CNTT vào
quản lí và giảng dạy trong nhà trường.
2. Khảo sát thực trạng việc tổ chức triển khai ứng dụng CNTT trong quản lí,
giảng dạy tại nhà trường và tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng đó.
3. Đề xuất một số biện pháp tổ chức triển khai ứng dụng CNTT vào quản lí và
giảng dạy tại nhà trường trong điều kiện hiện nay.
6. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là các biện pháp tổ chức triển khai việc ứng dụng CNTT
vào quản lí và giảng dạy tại nhà trường.
7. Phạm vi nghiên cứu:
dục. Họ coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, là chìa
khoá để xây dựng và phát triển CNH-HĐH đất nước, tăng trưởng nền kinh tế để
xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực và
trên thế giới. Vì vậy họ đã thu được những thành tựu rất đáng kể trên các lĩnh vực
như: Điện tử, sinh học, y tế, giáo dục…
Ở Việt Nam cũng đã có chương trình quốc gia về công nghệ thông
tin(1996-2000) và đề án thực hiện CNTT tại các cơ quan Đảng (2003-2005) ban
hành kèm theo Quyết định số 47 của Ban Bí thư trung ương Đảng. Mặt khác tại
các cơ quan quản lý nhà nước đã có đề án Tin học quản lý hành chính nhà nước
(2001-2005) ban hành kèm theo Quyết định số 112/2001/QĐ - TTg ngày
25/7/2001 của Thủ tướng Chính phủ về giáo dục….
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã rất quan tâm đến ứng dụng CNTT trong các nhà
trường thông qua Chỉ thị, nhiệm vụ các năm học với chủ đề “Năm học ứng dụng
7
CNTT và đổi mới quản lý…” Những năm học tiếp theo Bộ Giáo dục và Đào tạo vẫn
tiếp tục chỉ đạo: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục, thống nhất quản
lý Nhà nước về ứng dụng CNTT trong Giáo dục Đào tạo…”
Như vậy ứng dụng CNTT trong các nhà trường nói chung và trong giảng dạy
nói riêng là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước và Bộ Giáo dục Đào tạo, định
hướng hoạt động cho các nhà trường nhằm từng bước Chuẩn hoá- hiện đại hoá.
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: (Cơ sở thực tiễn)
Trường Tiểu học Hiến Nam là ngôi trường đặt tại trung tâm của phường
Hiến Nam trên đường Hải Thượng Lãn Ông, cơ sở vật chất của trường hai năm gần
đây tương đối tốt. Trường được xây kiên cố 3 tầng với diện tích 10.000 m2, khuôn
viên thoáng mát đi lại rất thuận tiện, bước đầu đáp ứng được nhu cầu cho việc dạy
và học 2 buổi/ngày. Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của các cấp lãnh
đạo, đặc biệt là sự quan tâm của Đảng uỷ, HĐND, UBND phường, UBND thành
Trường tiểu học Hiến Nam là trường tiểu học duy nhất đóng trên địa bàn
phường Hiến Nam thành phố Hưng Yên. Là đơn vị trường học đầu tiên của phường
đạt chuẩn quốc gia (mức độ 1 năm 2005 và mức độ 2 năm 2013) được UBND thành
phố khen thưởng đơn vị có thành tích xuất sắc trong ngành giáo dục giai đoạn 20052010, nhiều năm liền trường liên tục đạt danh hiệu Tập thể lao động Tiên Tiến và
Tiên tiến xuất sắc, là địa chỉ tin cậy thu hút nhiều học sinh đến trường học tập.
*Thuận lợi: -Tập thể giáo viên đoàn kết, nhiệt tình, trách nhiệm có kinh nghiệm
trong giảng dạy luôn luôn có ý thức phấn đấu học hỏi và đổi mới phương pháp dạy
học và có ứng dụng CNTT trong soạn giảng.
- CSVC có đủ phòng học, bàn ghế, bảng lớp hệ thống điện, ánh sáng.
- Có sự chỉ đạo trong việc ứng dụng CNTT của các cấp.
- Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của phòng Giáo dục đào tạo thành phố.
*Khó khăn:
- Nhận thức về CNTT của CBGV, nhân viên chưa sâu sắc, chưa đồng đều.
- Một số giáo viên năng lực còn hạn chế do tuổi cao khó tiếp cận với phương pháp
mới đặc biệc là việc ứng dụng CNTT còn nhiều hạn chế.
- Số giáo viên có máy tính chưa đồng đều.
- Số lượng học sinh chủ yếu là con em nông dân, điều kiện kinh tế còn thấp sự quan
tâm tới việc học tập nói chung cũng như học tin học nói riêng còn hạn chế.
9
- CSVC chưa có phòng máy tính, cả trường có 2 máy tính cây, 1 máy tính xách tay, 1
đèn chiếu, 1 màn chiếu. Máy tính chưa được nối mạng, chưa có hệ thống mạng
LAN. Cán bộ, giáo viên mới bước đầu làm quen với việc ứng dụng CNTT trong
quản lí và giảng dạy.
- Kinh phí đầu tư chi phí cho hoạt động CNTT trong nhà trường rất hạn chế.
*Khảo sát thực tế tại nhà trường:
Nội dung
TT
- Máy in
1
- Số máy phục vụ công tác quản lí và các bộ phận
2
- Số máy phục vụ công tác học tập
0
- Số phòng máy được nối mạng
0
- Số máy được nối mạng
2
- Trang web cá nhân
0
- Số lớp được học Tin học
0
- Số học sinh được học Tin học
- Số gia đình học sinh được lập số liên lạc điện tử
0
Chất lượng: HSG: 37%, HSTT: 43%. HSY: 0,3%, còn lại là học sinh trung bình.
Số học sinh lên lớp thẳng: 602/604=99,7%. Học sinh lưu ban: 2/604=0,3%.
- Số lượng học sinh tham gia thi giải toán trên mạng: 5 học sinh.
- Số học sinh đạt giải cấp thành phố và cấp tỉnh: 0
*Nguyên nhân của thực trạng trên:
- Nhận thức về việc ứng dụng CNTT trong quản lý và giảng dạy của CBQL và đội
ngũ giáo viên, phụ huynh học sinh chưa sâu sắc, thiếu quan tâm, chưa thấy được tầm
quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong nhà trường.
- CSVC thiếu, điều kiện kinh tế của cán bộ giáo viên, nhân viên còn khó khăn.
- Trường chưa có giáo viên Tin học, học sinh không được học môn Tin học.
2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN ỨNG DỤNG CNTT TẠI TRƯỜNG
TIỂU HỌC HIẾN NAM TP HƯNG YÊN.
Trên cơ sở phân tích các điều kiện, những thuận lợi và khó khăn, tìm hiểu
nguyên nhân của thực trạng nhà trường, từ năm học 2012-2013, trường tiểu học Hiến
Nam đã từng bước tổ chức triển khai việc ứng dụng CNTT vào công tác quản lí và
giảng dạy bằng các giải pháp sau:
A. TUYÊN TRUYỀN, NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ TIN HỌC VÀ ỨNG DỤNG CNTT
CHO CÁN BỘ, GIÁO VIÊN.
- Để đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lí giáo dục và công tác giảng dạy,
trường tiểu học Hiến Nam đã tổ chức tuyên truyền về ích lợi và tác dụng của việc ứng
dụng CNTT trong hoạt động quản lí và dạy học cho toàn thể cán bộ, giáo viên, học sinh.
- Phổ biến và quán triệt đầy đủ theo tinh thần, nội dung các văn bản chỉ đạo về CNTT
của Chính phủ của ngành về ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lí và giảng dạy.
với các cơ quan quản lý cấp trên.
CBQL cần phải có kiến thức kĩ năng ứng dụng CNTT trong công tác quản lí giáo dục.
b.Đối với đội ngũ giáo viên:
Giáo viên cần phải có kiến thức và kĩ năng cơ bản về CNTT: Nắm được các kiến
thức cơ bản về cấu tạo máy tính, hệ điều hành thông dụng, biết sử dụng Internet để tìm
12
kiếm và khai thác thông tin phục vụ cho hoạt động giảng dạy - giáo dục để liên lạc với
học sinh, cha mẹ học sinh và các đối tượng khác. Đặc biệt có kiến thức và kĩ năng ứng
dụng CNTT trong việc tổ chức hoạt động học tập cho học sinh.
c.Có cán bộ kĩ thuật về CNTT:
Lập trang web bảo trì, cài đặt các thiết bị phần cứng và phần mềm cơ bản. Cán bộ
kĩ thuật có thể là giáo viên kiêm nhiệm nhưng phải có kiến thức, kĩ năng để xử lí các
công việc thường xuyên như: quản trị trang web, cài đặt các phần mềm mới, diệt vi
rút, sửa chữa một số lỗi nhỏ thông thường của máy tính, thông thạo các thao tác trên
máy tính.
3.Những yêu cầu về công tác quản lí của trường:
- Có kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lí và dạy học.
- Từng bước đầu tư mua sắm, nâng cấp trang thiết bị CNTT.
- Triển khai công việc hàng tuần qua lịch làm việc, qua thời khoá biểu (các giờ dạy có
ứng dụng CNTT, kế hoạch sử dụng máy chiếu đa năng, phân công sử dụng, quản lý
phòng máy của trường....). Các hoạt động được thể hiện trên trang web, hệ thống thư điện
tử (Email nội bộ).
- Phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc ứng dụng CNTT.
4.Yêu cầu về hoạt động triển khai tích hợp CNTT trong giảng dạy, đổi mới
phương pháp dạy học:
- Sử dụng phần mềm dạy học một cách thích hợp trong một hoặc nhiều môn học.
- Bảo đảm tỷ lệ thời lượng dạy học có ứng dụng CNTT 10% trở lên.
- Đảm bảo hiệu quả cao trong việc ứng dụng CNTT trong quản lí và dạy học.
phòng mạng 30 máy phục vụ cho việc học tập và khai thác thông tin của giáo viên và
học sinh.
b.Đối với cán bộ giáo viên:
Trên cơ sở lợi ích của CNTT, nhà trường đã tuyên truyền, phát động phong trào mua
mua máy tính cá nhân và nối mạng Internet trong toàn cán bộ giáo viên. Ngoài ra nhà
trường cũng tuyên truyền vận động những phụ huynh có điều kiện mua máy vi tính
phục vụ cho con em mình học tập. Toàn trường có 29 cán bộ giáo viên đã có máy vi
14
tính và kết nối mạng Internet . Đồng thời có nhiều phụ huynh có máy vi tính nối mạng
để cho con em học tập và tham gia các cuộc thi trên mạng như Olimpic Tiếng anh,
Giải toán trên mạng Internet, Tin học trẻ không chuyên....
2. Bồi dưỡng kiến thức kỹ năng tin học và sử dụng các trang TBDH hiện đại
cho cán bộ, giáo viên, nhân viên.
Nhận thức sâu sắc tác dụng to lớn của việc ứng dụng CNTT, trên cơ sở thực tế
chất lượng tin học của đội ngũ quản lý và giáo viên, ngay từ cuối mỗi năm học trước,
nhà trường đã tiến hành họp, bàn xây dựng kế hoạch tổ chức học tập nâng cao trình
độ tin học cho cán bộ, giáo viên của năm học tới.
Trường đã phối hợp với trường trung cấp nghề mở lớp dạy tin học văn phòng
(Word, Powerpoint, Excel,...) cho giáo viên. Do điều kiện trường học 2 buổi/ngày,
nên nhà trường bố trí lịch học vào các ngày thứ 7 hàng tuần và một số thời gian trong
hè...Ngoài ra giáo viên thực hành vào các tiết trống và sau mỗi buổi dạy tại phòng
máy của trường. Khi thực hành tại trường, với tinh thần giáo viên học tập lẫn nhau,
người đã biết dạy cho người chưa biết, người biết nhiều dạy cho người biết ít...
Bên cạnh đó trường còn mở các buổi tập huấn sử dụng thư điện tử (Email) và
cách khai thác tìm kiếm thông tin trên mạng Internet cho cán bộ giáo viên. Giáo viên
tự lập hòm thư điện tử của mình.
Trường cũng đã xây dựng và quán triệt quy chế sử dụng hộp thư điện tử trong
toàn thể giáo viên. Trước tiên yêu cầu các đồng chí trong ban lãnh đạo, tổ trưởng tổ
+Xây dựng nguồn tư liệu dạy học, giáo dục (bài giảng điện tử, giáo án, đề thi,
SKKN...) phục vụ cho việc dạy học, giáo dục và tự bồi dưỡng của giáo viên.
+Là diễn đàn trao đổi cho cán bộ, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh và
những người quan tâm đến công tác giáo dục của nhà trường.
+Quảng bá hình ảnh và kết quả nhà trường đã đạt được.
Tuỳ theo điều kiện của đơn vị mà mỗi nhà trường có thể lựa chọn cho mình hình
thức và cách lập web riêng.
Không chỉ của đơn vị, mà mỗi giáo viên cũng có thể tạo lập một trang web của
riêng mình để chia sẻ những tài nguyên và kinh nghiệm giảng dạy với các đồng
16
nghiệp khác. Đây là một hình thức ứng dụng CNTT mới và hiệu quả trong việc nâng
cao chất lượng giảng dạy, phù hợp với xu thế chung của xã hội và nâng tầm giáo viên
để trở thành các giáo viên giỏi về CNTT. Chính Bộ trưởng Bộ GD & ĐT Nguyễn
Thiện Nhân cũng đã từng chia sẻ: “Giáo viên phải có công nghệ thiết kế quy trình bài
giảng mới, phải thu hút học sinh vào bài học, phải có tư liệu cuộc sống bổ sung vào
ngoài sách giáo khoa. Tất cả thầy cô dạy một bộ môn cần lập một trang web để làm tư
liệu” (Báo Tuổi trẻ 17/11/2008).
Việc đưa website của nhà trường cũng như của các cá nhân thành viên vào sử dụng
sẽ mang lại hiệu quả thiết thực cho công tác quản lí, công tác dạy và học của nhà trường.
c.Xây dựng sổ liên lạc điện tử cho PHHS:
Việc học tập của con em ngày càng được phụ huynh quan tâm. Tuy nhiên, do
điều kiện về công việc, nên phụ huynh cũng ít có thời gian gặp gỡ thầy, cô giáo để
nắm bắt về tình hình học tập của con em mình. Khai thác những lợi thế của CNTT,
nhà trường đã phối hợp với tổ nghiệp vụ đài viễn thông Hưng Yên tiến hành khảo
sát các điều kiện và nhu cầu của phụ huynh, bước đầu tiến hành lập sổ liên lạc điện
tử (Email) thí điểm cho một khối học sinh 3 trong trường. Mục đích của việc lập sổ
liên lạc điện tử:
+Báo cáo tình hình học tập, rèn luyện của học sinh cho phụ huynh.
Bài giảng điện tử và các trang thiết bị hiện đại có thể coi là những công cụ dạy
học đa năng vì nó có thể thay thế cho hầu hết các công cụ dạy học khác từ truyền thống
(tranh vẽ, bản đồ, mô hình,...) đến hiện đại (cassette, ti vi, đầu video...)
Việc sử dụng hình thức dạy học này bước đầu đã tạo nên một không khí học tập và làm
việc khác hẳn với cách học và giảng dạy truyền thống.
GAĐT không phải là phần mềm dạy học, nó chỉ trợ giúp cho việc giảng dạy của giáo
viên (đối tượng sử dụng là giáo viên, không phải là học sinh). Chính vì vậy, việc truyền
đạt kiến thức vẫn dựa trên giao tiếp thày - trò, chứ không phải giao tiếp giữa máy người. Mặt khác, vì giáo viên là người trực tiếp điều hành việc sử dụng GAĐT nên có
thể khai thác tối đa được những kiến thức cần chuyển tải, tuỳ thuộc vào trình độ của học
18
sinh và phương pháp giảng dạy của giáo viên. Tuy nhiên, để thiết kế được một GAĐT,
đòi hỏi người soạn phải có một trình độ tin học nhất định. Cụ thể, người thầy cần phải:
- Biết sử dụng máy tính.
- Biết cách truy cập Internet.
- Biết sử dụng phần mềm trình diễn PowerPoint, violet, ...
- Có khả năng sử dụng một phần mềm chỉnh sửa ảnh, làm các ảnh động, tranh, cắt ghép
các file âm thanh...vv
- Biết cách sử dụng Projector (máy chiếu)...
Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng cần phải sử dụng đầy đủ các kĩ năng trên, mà tuỳ
thuộc vào tính chất của mỗi môn học, bài học mà các yêu cầu được đặt ra khác nhau.
Trong GAĐT, cần phải biết kết hợp hài hoà giữa màu sắc, âm thanh, hình ảnh, tư liệu, các
thí nghiệm ảo...thì một bài giảng mới trở nên sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn người học.
3. Ứng dụng CNTT trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục ngoại khoá:
Phát huy lợi thế của CNTT, nhà trường đã thiết kế và tổ chức tốt các hoạt động
ngoại khoá như: Hội thi “Năng khiếu tuổi thơ, Phụ trách sao giỏi, Nét đẹp tuổi hoa, Kể
chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Rung chuông vàng... Với sự hỗ trợ của
CNTT, các cuộc thi trở nên hấp dẫn và sinh động, cuốn hút người xem.
Kết quả: Trường đã tổ chức và phối hợp với các đơn vị khác tổ chức được 09 buổi sinh
+ Bước đầu hình thành năng lực tổ chức và xử lý thông tin.
+ Có ý thức và thói quen sử dụng máy tính trong hoạt động học tập, lao động trong
xã hội hiện đại.
+ Có thái độ đúng khi sử dụng máy tính và các sản phẩm tin học.
+ Bước đầu hiểu khả năng ứng dụng CNTT trong học tập và học tập bằng CNTT.
+ Có ý thức tìm hiểu ứng dụng CNTT trong các hoạt động xã hội.
6. Tổ chức cho học sinh thi giải toán qua mạng Internet (Violympic)
Năm học 2013-2014 là năm học có sự đổi mới và đột phá của ngành giáo dục và
đào tạo về “Ứng dụng CNTT trong quản lý và giảng dạy”. Ngoài việc làm cho cán bộ
quản lý, giáo viên nắm vững và ứng dụng tốt CNTT trong dạy học, Bộ GD&ĐT tiếp tục
20
phát động cuộc thi giải toán qua mạng Internet. Violympic là trang web có nội dung
hay và sinh động, có sức hấp dẫn rất lớn, thu hút được hàng triệu học sinh tham gia. Nội
dung cuộc thi mà trang web đưa ra vừa củng cố lại cho học sinh những kiến thức cơ bản
phù hợp với chương trình đã và đang học từ mức độ từ đễ đến khó, vừa phù hợp với
từng đối tượng và khả năng của các em. Giao diện của trang web được thiết kế rất thân
thiện, sinh động, phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lí của các em. Mỗi vòng thi phía trước
là một cánh cửa đầy bí ẩn, mới lạ nên càng kích thích sự tìm tòi, khám phá của các em.
Violympic không còn là sân chơi của riêng các em học sinh mà còn là sân
chơi của các thày cô giáo, của các bậc phụ huynh. Trước sự hứng thú và say mê của
các em, người thầy không thể đứng ngoài cuộc. Nhiều thầy cô giáo đã đồng hành
với các em, trợ giúp các em trong một số bài toán khó, khuyến khích, động viên các
em kiên trì, nhẫn nại để về đích thắng lợi.
Nhà trường đã lắp đặt phòng máy và nối mạng Internet cho tất cả các máy
tính. Ngoài việc kết hợp cho các em giải toán trong một số buổi học vi tính, giải ở
nhà (những gia đình HS có nối mạng), nhà trường còn tổ chức cho các em một số
buổi thực hành giải toán riêng tại phòng máy tính nhà trường (ưu tiên những HS gia
đình chưa nối mạng) và phân công giáo viên hướng dẫn, trợ giúp cho các em.
dựng lực lượng cốt cán năng động, nhiệt tình, trách nhiệm để đẩy mạnh phong trào
thi đua của trường có thêm bước tiến mới.
5. Có biện pháp khơi gợi cho giáo viên để họ tự nhận thấy ưu nhược điểm
của mình khi ứng dụng CNTT trong giờ lên lớp cũng như trong công tác, từ đó giáo
viên có hướng điều chỉnh phù hợp.
6.Thường xuyên đẩy mạnh công tác tự bồi dưỡng về ứng dụng CNTT, coi
việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy và quản lí là then chốt, là chìa khoá chính
của mỗi giáo viên để khám phá kho tàng tri thức. Phải làm cho giáo viên có nhận
thức cao hơn nữa và luôn có ý thức cải tiến phương pháp dạy học.
7.Chất lượng giáo dục toàn diện phụ thuộc vào nhiều yếu tố, song thầy cô giáo
trực tiếp đứng lớp giảng dạy là yếu tố đầu tiên. Để có được một đội ngũ các thầy cô
22
giáo giỏi về CNTT, đáp ứng đúng yêu cầu của nghành hiện nay thật không dễ. Do
vậy, bằng tất cả sự nỗ lực của đội ngũ quản lý trong nhà trường, tôi đã và đang hoàn
thiện dần đội ngũ giáo viên trong việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy và quản lí từ
số lượng đến chất lượng. Tôi luôn xác định việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy và
quản lí là nhiệm vụ quan trọng cần được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều biện
pháp, là nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, song nó cũng là vấn đề cấp bách vì nó quyết
định và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường.
Vì vậy : Muốn có phong trào mạnh thì phải có đội ngũ giáo viên giỏi toàn diện .
Để có đội ngũ giáo viên trong nhà trường giỏi về việc ứng dụng CNTT trong giảng
dạy chuyên môn nghiệp vụ thì ban giám hiệu nhà trường phải có những kinh nghiệm
hay, nhiều giải pháp hữu hiệu nhằm xây dựng đội ngũ tốt nâng cao chất lượng giáo dục .
Người Hiệu trưởng trong nhà trường cần phải tập trung nâng cao nhận thức về
tư tưởng chính trị ,đạo đức tác phong mẫu mực nhà giáo cho 100% cán bộ, giáo
viên, nhân viên trong trường .
- Xây dựng quy chế làm việc thật khoa học.
- Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy và quản lí để nâng cao hiệu quả
Với những kinh nghiệm tôi đã trình bày ở trên việc ứng dụng CNTT trong
giảng dạy và quản lí chất lượng giáo dục của nhà trường đã nâng lên rõ rệt.
a.Về nhận thức:
Việc ứng dụng CNTT trong nhà trường đã thực sự tạo chuyển biến về nhận thức,
góp phần thay đổi phong cách làm việc trong cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh.
CNTT thực sự là một phương tiện, là công cụ làm việc hữu ích để nâng cao hiệu quả và
chất lượng công việc. Cán bộ, giáo viên, công nhân viên ngoài việc rèn luyện, tu dưỡng
về phầm chất đạo đức, lối sống, năng lực chuyên môn thì việc trang bị cho mình những
kiến thức về tin học, những kĩ năng về ứng dụng CNTT, phong cách làm việc khoa học
là một yêu cầu không thể thiếu trong công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay.
- Về tư tưởng: CBQL, giáo viên đã phấn khởi, yêu trường, yêu lớp, tâm huyết say
sưa với nghề. Trong công việc, mọi người có ý thức tự giác thực hiện nghiêm túc
24
trong giảng dạy và quản lí đạt hiệu quả cao hơn.
- Về chuyên môn: Qua kiểm tra, dự giờ, thăm lớp, qua các đợt khảo sát chất lượng,
đánh giá xếp loại học sinh, các hội thi, cuộc thi cho thấy chất lượng giáo dục, mũi
nhọn được đẩy mạnh.
* Một số kết quả đã đạt khi áp dụng SKKN.
Nội dung
TT
a.
b.
c.
Năm học
1
- Máy photocopy
0
1
- Máy in
2
4
- Số máy phục vụ công tác quản lí và các bộ phận
3
5
- Số máy phục vụ công tác học tập
20
35
- Số phòng máy được nối mạng
10
30
- Số CB, GV nối mạng Internet
20
30
- Số gia đình học sinh có máy vi tính
55
115
- Số gia đình học sinh có nối mạng Internet
35
75
- Số gia đình học sinh được lập số liên lạc điện tử
35
48
Cán bộ, giáo viên
Phụ huynh học sinh