ĐỀ CƯƠNG TRIẾT HỌC DUY VẬT BIỆN CHỨNG - Pdf 18

1. HỌC PHẦN: TRIẾT HỌC DUY VẬT BIỆN CHỨNG.
Bằng lý luận triết học duy vật biện chứng và thực tiễn cách mạng Việt Nam,
đồng chí hãy phân tích luận điểm sau đây của Đảng ta: “Tiến hành đổi mới xuất phát
từ thực tiễn và cuộc sống xã hội Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm tốt của thế giới,
không sao chép bất cứ một mô hình có sẵn nào…”.
(VK ĐH ĐCS VN lần thứ IX, Nxb CTQG, HN-2001, tr 81).
ĐỀ CƯƠNG:
1- Khái niệm, bản chất lý luận, thực tiễn.
2- Mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và lý luận.
3- Quan điểm thực tiễn; Quan điểm lý luận.
Phân tích, phê phán bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều và luận điểm của Hồ
Chí Minh.
Đưa ra kết luận: Phải coi trong lý luận nhưng không được cường điệu vai
trò của lý luận coi thường thực tiễn trong nhận thức khoa học và hoạt động cách
mạng.
Bài làm
Sự gắn kết giữa nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn luôn là một đòi hỏi
cấp bách và là một phương thức để mang đến thành công cho hoạt động của mỗi cá
nhân, của tổ chức và của một chính đảng. Nhận thức đúng và giải quyết hợp lý mối
quan hệ biện chứng tác động qua lại của lý luận và thực tiễn, dùng lý luận làm kim
chỉ nam cho hoạt động thực tiễn, tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, thực tiễn
phải là cơ sở, động lực của nhận thức và tiêu chuẩn của chân lý luôn là chìa khóa
để để giải quyết mọi vướng mắc trên con đường đi đến mục tiêu đã định. Ngược lại,
nhận thức không đúng và giải quyết không tốt mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn
sẽ rơi vào chủ nghĩa giáo điều, kinh viện và chủ nghĩa kinh nghiệm hoặc chủ quan
duy ý chí, tất nhiên sẽ dẫn đến những thất bại mà đối với một chính đảng, sự thất bại
đó có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng.
Trong lịch sử cách mạng XHCN ở nước ta, giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ cả
nước đi lên CNXH, Đảng ta đã phạm một số sai lầm trên lĩnh vực lý luận và việc
chậm đổi mới về tư duy lý luận đó đã dẫn đến việc đưa ra đường lối, chủ trương,
chính sách không được sát đúng với thực tiễn nước ta, xa rời với hoàn cảnh lịch sử

giới khách. Vì vậy, bản chất của lý luận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách
quan. Theo Hồ Chí Minh “Lý luận là sự tổng kết kinh nghiệm của loài người, sự
tổng hợp những tri thức về tự nhiên, xã hội đã được tích lũy lại trong quá trình lịch
sử của con người.” .
2. Mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và lý luận.
Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng, có sự tác
động qua lại lẫn nhau, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau. Trong mối quan hệ đó,
thực tiễn có vai trò quyết định, vì thực tiễn là hoạt động vật chất, còn lý luận là sản
phẩm của hoạt động tinh thần.
Vai trò quyết định của thực tiễn đối với lý luận thể hiện ở chổ : chính thực tiễn
là cơ sở để tổng kết, khái quát thành lý luận, là động lực, là mục đích, là tiêu chuẩn
để kiểm tra nhận thức và lý luận, nó cung cấp chất liệu phong phú sinh động để hình
thành lý luận. Mặt khác, tri thức lý luận hình thành tổng kết khái quát kinh nghiệm
nhưng lại phải thông qua tư duy trừu tượng của cá nhân nhà lý luận cho nên nó cũng
chứa đựng khả năng không chính xác xa rời thực tiễn. Vì vậy tri thức lý luận phải
được thể nghiệm trong thực tiễn để khẳng định, bổ sung sửa đổi hoàn thiện, và thông
qua hoạt động thực tiễn, lý luận mới được vật chất hóa, hiện thực hóa, mới có sức
mạnh cải tạo hiện thực. Thiếu thực tiễn thì sẽ không có lý luận hoặc sẽ không có lý
luận hoặc lý luận sẽ khô cằn, cứng nhắc, không được bổ sung, phát triển, không
được kiểm nghiệm tính đúng sai, đó sẽ là lời nói suông không có ý nghĩa. V.I Lênin
cho rằng mỗi bước tiến của phong trào cách mạng còn quan trọng hơn hàng tá cương
lĩnh và đánh giá vai trò của thực tiễn đối với lý luận, Người đã viết “Thực tiễn cao
hơn nhận thức, lý luận. Vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến mà còn
của tính hiện thức trực tiếp” .
Lý luận mặc dù được hình thành từ thực tiễn nhưng nó có vai trò tác động trở
lại đối với thực tiễn. Sự tác động của lý luận thể hiện qua vai trò hướng dẫn, chỉ đạo,
soi sáng cho thực tiễn, vạch ra mục tiêu, khuynh hướng cho hoạt động thực tiễn, dự
2
báo dự đoán tình hình và phương hướng hoạt động thực tiễn trong tương lai, giúp
hoạt động thực tiễn đi đến thành công. Những tri thức về bản chất và quy luật của

phù hợp với sự phát triển của thực tiễn, hiệu quả của thực tiễn để kiểm tra những kết
luận của nhận thức, kiểm tra những luận điểm của lý luận. Quan điểm thực tiễn cũng
đòi hỏi những khái niệm của chúng ta về sự vật phải được hình thành, bổ sung và
phát triển bằng con đường thực tiễn, trên cơ sở thực tiễn chứ không phải bằng con
đường suy diễn thuần túy, không phải bằng con đường tự biện.
Lý luận phải được phát huy vai trò trong mọi hoạt động thực tiễn. Do thực tiễn
luôn vận động và phát triển nên phải thường xuyên, tổng kết quá trình vận dụng lý
luận vào thực tiễn, xem nó thừa thiếu nhằm bổ sung phát triển nó cho phù hợp. Theo
V.I. Lê-nin, phải hết sức coi trọng công tác thực tiễn. Không thể gò thực tiễn sinh
động theo lý luận của ngày hôm qua, bởi vì dù thế nào đi chăng nữa thì lý luận cũng
chỉ vạch ra được những nét cơ bản, chỉ tiến gần đến chỗ nắm được tính phức tạp
của thực tiễn cuộc sống sinh động. Phải chú trọng đến cuộc sống sinh động, luôn
luôn đổi mới lý luận cho phù hợp với cuộc sống, lấy sự phân tích các tài liệu thực tế
làm cơ sở cho lập luận và đưa ra những phương pháp đấu tranh mới (theo Trần
3
Ngọc Linh, Viện Nghiên cứu Kinh điển mác-xít, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh).
a. Phân tích, phê phán bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều và luận điểm của
Hồ Chí Minh.
Nắm vững quan điểm thực tiễn và lý luận có ý nghĩa quan trọng trong việc góp
phần xây dựng một đường lối chính sách đúng đắn, tránh được bệnh kinh nghiệm và
bệnh giáo điều trong tư duy và trong hoạt động thực tiễn
Chủ nghĩa kinh nghiệm theo Hồ Chí Minh là khuynh hướng tuyệt đối hóa kinh
nghiệm coi thường lý luận ”chỉ biết tối ngày vùi đầu vào công tác sự vụ” ít đào sâu
suy nghĩ, nhất là những người trình độ văn hóa kém, ít quen đọc sách và suy nghĩ,
áp dụng kinh nghiệm một cách thiếu sáng tạo. Chúng ta coi trọng những kinh
nghiệm thực tiễn và không ngừng tích lũy vốn kinh nghiệm quý báu đó. Tuy nhiên
nếu chỉ dừng lại ở trình độ kinh nghiệm, chỉ dựa vào những hiểu biết ở trình độ kinh
nghiệm, thỏa mãn với vốn kinh nghiệm của bản thân coi kinh nghiệm là tất cả, tuyệt
đối hóa kinh nghiệm đồng thời coi nhẹ lý luận, ngại học tập, nghiên cứu lý luận, ít

4
lập các bộ ngành của bộ máy nhà nước (ở Liên Xô có bao nhiêu Bộ, Ngành ta cũng
có bấy nhiêu Bộ ngành) đến việc đề ra chủ trương, đường lối, chính sách phát triển
đất nước : Chủ trương tập trung cho công nghiệp hóa đất nước mà chủ lực là phát
triển công nghiệp nặng mà không chú ý đến điều kiện vật chất và lực lượng sản xuất
của ta còn chưa tương xứng, với xuất phát điểm còn rất thấp từ một nền kinh tế lạc
hậu, sản xuất nông nghiệp là chính, trình độ lực lượng sản xuất không cao, sản xuất
thủ công là chủ yếu. Có thể nói việc bố trí cơ cấu kinh tế trước hết là sản xuất và đầu
tư, chúng ta thường chỉ xuất phát từ lòng mong muốn đi nhanh, không tính đến điều
kiện khả năng thực tế.
Sự nhận thức giản đơn, yếu kém trong việc vận dụng xơ cứng lý luận vào trong
còn thể hiện ở việc hiểu và vận dụng chưa đúng các quy luật khách quan đang tác
động trong thời kỳ quá độ ở nước ta (quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với
tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, các quy luật sản xuất hàng
hoá, quy luật thị trường ), quá nhấn mạnh một chiều vai trò của quan hệ sản xuất,
của chế độ công hữu, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát
triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ.
Mặt khác, duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, quá tập trung
quyền lực nhà nước, dùng kế hoạch pháp lệnh để chỉ huy toàn bộ nền kinh tế đất
nước, bao cấp trong phân phối làm cản trở sự sáng tạo, tạo nên sự bảo thủ trì trệ
của đời sống xã hội. Cũng trong thời kỳ này chúng ta đồng nhất kinh tế thị trường
với chủ nghĩa tư bản, coi nhẹ những giá trị, những thành tựu mà nhân loại đạt được
trong chủ nghĩa tư bản; muốn nhanh chóng xoá bỏ sản xuất hàng hoá, xoá bỏ sở hữu
tư nhân và kinh tế tư nhân trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc xem kinh
tế thị trường, sản xuất hàng hóa đối lập với CNXH là do căn cứ một cách cứng nhắc
vào luận điểm của Mác và Ăngghen rằng chủ nghĩa cộng sản là xóa bỏ buôn bán;
cùng với việc xã hội nắm lấy những tư liệu sản xuất thì sản xuất hàng hóa cũng bị
loại trừ và do đó sự thống trị của hàng hóa đối với những người sản xuất cũng bị
loại trừ. Thực ra những luận điểm của CácMác và Ăngghen chỉ là những dự đoán
về giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa cộng sản chứ không phải nói về giai đoạn

Nhận thức được những sai lầm trên, từ ĐH Đảng lần VI (1986) Đảng đã khởi
xướng công cuộc đổi mới toàn diện tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó
có mọi phương hướng đổi mới phải xuất phát từ thực tiễn như Văn kiện Đại hội VI
của Đảng đã xác định “Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành
động theo quy luật khách quan”. Đại Hội Đảng lần IX cũng đã nhấn mạnh “Tiến
hành đổi mới xuất phát từ thực tiễn và cuộc sống xã hội Việt Nam, tham khảo
kinh nghiệm tốt của thế giới, không sao chép bất cứ một mô hình có sẵn nào…”
(Văn kiện Đại hội Đảng công sản Việt Nam lần thứ IX, NXB CTQG, HN-2001, tr
81).
Những nhận định trên của Đảng chính là sự tiếp thu và vận dụng đúng đắn
quan điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng XHCN phải lấy thực tế làm điểm xuất
phát để xác định phương hướng, mục tiêu nhiệm vụ của cách mạng, kết hợp chặt
chẽ giữa lý luận và thực tiễn để xác định chủ trương, chính sách. Theo quan điểm
của người, việc học tập và vận dụng kinh nghiệm tốt, những mô hình hiệu quả trong
công cuộc xây dựng đất nước của các nước XHCN trên thế giới giúp chúng ta đỡ mò
mẫm, đỡ phạm những sai lầm của người đi trước. Nói cách khác, những tìm kiếm,
phát triển lý luận về CNXH, con đường và các giải pháp xây dựng CNXH ở mỗi
nước có thể là kinh nghiệm tham khảo chứ không thể áp dụng máy móc, rập khuôn.
Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh rằng “phải có sự kết hợp biện chứng giữa việc chú
trọng đặc điểm riêng của dân tộc với giá trị phổ biến trong kinh nghiệm các nước”.
Người chỉ rõ “đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông
nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH, không phải kinh qua giai đoạn phát triển
TBCN”, vì vậy Người nhắc nhở rằng “đứng về mặt xây dựng CNXH, tuy chúng ta đã
có những kinh nghiệm dồi dào của các nước anh em, nhưng chúng ta cũng không
thể áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách máy móc, bởi vì nước ta có những đặc
điểm riêng của ta”. Xuất phát từ thực tế nước ta và quy luật về quan hệ sản xuất -
lực lượng sản xuất, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong giai đoạn quá độ đi lên CNXH, sự
tồn tại của nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức sở hữu khác nhau là tất yếu,
do đó cần phải duy trì nhiều hình thức quản lý, phân phối khác nhau. Theo người,
chúng ta bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa bởi đó là chế độ áp bức, bóc lột, nô dịch

Toàn bộ tình hình trên đây, ở trong cũng như ngoài nước đã tác động đến Việt
Nam về cả hai phương diện. Một mặt, nó đòi hỏi phải đổi mới tư duy phát triển, đặt
trọng tâm vào phát triển kinh tế theo một phương thức mới. Mặt khác, nó tạo ra các
cơ hội và điều kiện để sự thay đổi đó diễn ra thuận lợi.
Xuất phát từ đặc điểm đó, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), Đảng đã nêu : chúng ta phải tiếp tục nâng
cao ý chí tự lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng vật chất và trí tuệ của dân tộc
đồng thời mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tìm tòi bước đi, hình thức và biện pháp
thích hợp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân
dân ta xây dựng làm một xã hội: do nhân dân lao động làm chủ, có một nền kinh tế
phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư
liệu sản xuất chủ yếu, có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người
được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao
động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá
nhân, các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ,
có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới. Sáu đặc
trưng nêu trên thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân
ta sẽ xây dựng
Trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, tổng
kết kinh nghiệm thành công và cả kinh nghiệm chưa thành công trong thực tiễn xây
7
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta và các nước khác, đặc biệt là những kinh nghiệm
của những năm đổi mới, Đảng ta đã nêu ra những phương hướng cơ bản xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nước ta, gồm:
Một là, "xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp
trí thức làm nền tảng do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ
của nhân dân, giữ nguyên kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm
phạm lợi ích Tổ quốc và của nhân dân".
Hai là, "phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng

chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự
nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta"
8
Sau gần 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới đó, có thể nói rằng mỗi Đại hội
Đảng là một dịp để Đảng và Nhà nước ta tổng kết thực tiễn, nâng tầm lý luận, làm
căn cứ cho việc hoạch định đường lối, chính sách phù hợp cho từng giai đoạn.
Những thành tựu tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận đã cung cấp nhiều luận cứ
khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng; góp phần vào những
thành công rất to lớn của Đảng và nhân dân ta trong công cuộc đổi mới, tạo thế và
lực mới cho đất nước. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khi phát biểu bế mạc Hội nghị
lần thứ 11 Ban chấp hành Trung ương khóa IX đã nhấn mạnh : “Nhìn lại 20 năm
đổi mới, chúng ta nhất trí rằng, thành tựu đạt được là to lớn, toàn diện và có ý
nghĩa lịch sử, trên cả hai mặt thực tiễn và lý luận. So với 20 năm về trước, đất nước
ta đã có sự thay đổi cơ bản và toàn diện : đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội,
kinh tế tăng trưởng tương đối nhanh, bước đầu hình thành nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đời
sống nhân dân được cải thiện đáng kể; hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn
dân tộc do Đảng lãnh đạo được củng cố và tăng cường; sức mạnh tổng hợp của đất
nước tăng lên nhiều; vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng
cao. Những thành tựu to lớn đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng
đắn và sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực
tiễn Việt Nam. Đường lối đó được nhân dân ta tích cực ủng hộ và quyết tâm thực
hiện. Thành tựu đó được thế giới hoan nghênh và thừa nhận. Điều quan trọng là,
sau 20 năm lãnh đạo và chỉ đạo công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta ngày
càng tích luỹ thêm được nhiều kinh nghiệm; nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng sáng tỏ hơn.”
Hiện nay, công cuộc đổi mới ở nước ta càng đi vào chiều sâu, những biến đổi
trên thế giới nhanh chóng, phức tạp, khó lường thì những vấn đề mới đặt ra ngày
càng nhiều, trong đó có những vấn đề liên quan đến nhận thức về CNXH và con
đường xây dựng CNXH. Không ít vấn đề về nhận thức lý luận còn chưa đủ rõ;

sự vận dụng đúng quan điểm thực tiễn sẽ giúp chúng ta đạt được những thành công
trong cuộc sống, trong suy nghĩ, hành động cũng như trong quá trình thực hiện công
cuộc đổi mới và xây dựng đất nước
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status