Đề cương triết học đại cương có đáp án - Pdf 18

Câu 1: Mối quan hệ biện chứng giữa
vật chất và ý thức. Ý nghĩa của vấn đề
này đối với quá trình đổi mới ở nước
ta hiện nay.
Bài làm
Mối quan hệ biện chứng giữa
vc và yt là vấn đề cơ bản của TH. Quan
hệ vc và yt là mqh đã được các nhà TH
trước Mác quan tâm với nhiều quan
điểm khác nhau và luôn diễn ra cuộc đấu
tranh giữa cndt và cndv trong suốt quá
trình lịch sử của TH.
Quan điểm Macxit cho rằng
chỉ có 1 thế giới duy nhất và thống nhất
là tgvc. Tgvc tồn tại khách quan có trước
và độc lập với yt của CN.
Trong tác phẩm” cn duy vật
và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” ,V.I
Lênin đã định nghĩa: “VC là một phạm
trù triết học dùng để chỉ thực tại khách
quan được đem lại cho con người trong
cảm giác, được cảm giác của chúng ta
chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác”.
“ VC là một phạm trù th”.
Như vậy, phạm trù vc của th là phạm trù
có tính khái quát nhất, khg giống với khái
niệm vc trong một số ngành kh cụ thể,
hay trong đời sống thường ngày. Vì vậy,
khg được đồng nhất vc với tư cách là
một phạm trù th với các dạng tồn tại cụ

thống vc này những đặc điểm của 1 hệ
thống vc khác khi 2 hệ thống vc đó tác
động lẫn nhau; Cùng với sự phát triển
của tgvc, thuộc tính pa của nó cũng
phát triển từ thấp đến cao. Như vậy, ý
thức là thuộc tính của 1 dạng vc cso tổ
chức cao là bộ não người. Tóm lại, não
người và sự phản ánh tgkq vào não
người chính là nguồn gốc tn của ý thức.
Nguồn gốc xh: Chính lđ và
ngôn ngữ là hai nguồn gốc xh quyết định
trực tiếp đến sự hình thành và phát triển
của ý thức; chính lđ đã đóng vai trò qđ
trong việc chuyển biến từ vượn thành
người, làm cho CN khác với tất cả động
vật khác; lđ giúp CN cải tạo thế giới và
hoàn thiện chính mình; thong qua lđ, não
người ngày càng hoàn thiện, phát triển
giúp tư duy trừu tượng phát triển; chính
lđ là cơ sở hình thành, phát triển của
ngôn ngữ. Sự ra đời của ng ngữ lại giúp
CN pa sự vật khái quát hơn. Điều này
thúc đẩy tư duy trừu tượng phát triển.
Đây là 2 yếu tố quan trọng để phát triển
ý thức. Như vậy, Lao động và ngôn ngữ
là “ hai sức kích thích chủ yếu” để biến
bộ não vượn thành não người, phản
ánh tâm lý động vật thành phản ánh ý
thức.
TH dvbc cho rằng bc của yt

nguồn gốc của yt, quyết định nội dung
của yt.
Yt có tính độc lập tương đối
so với vc, tác động trở lại vc: yt có tính
năng động, sang tạo nên thông qua hoạt
động thực tiễn của CN có thể thúc đẩy
hoặc kìm hãm ở mức độ nhất định các
điều kiện vc, góp phần cải biến tgkq. Yt
pa đúng hiện thực kq thì có tác dụng
thúc đẩy hoạt động thực tiễn của CN
trong cải tạo tg. Ngược lại, yt sẽ kìm
hãm hoạt động thực tiễn cải tạo tg của
CN nếu khg pa đúng tgkq; Sự tác động
trở lại của yt đối với vc, thông qua hoạt
động thực tiễn của CN dù đến mức độ
nào chăng nữa vẫn phải dựa trên sự pa
tgvc và các điều kiện vc khách quan.
Từ quan điểm duy vật biện
chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý
thức một nguyên tắc được rút ra, đó là
nguyên tắc khách quan. Nguyên tắc
khách quan trước nhất thừa nhận vai trò
quyết định của vật chất đối với ý thức,
nó đòi hỏi trong hoạt động nhận thức và
hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ
hiện thực khách quan, tôn trọng và hành
động theo quy luật khách quan, “phải lấy
thực thể khách quan làm căn cứ cho mọi
hoạt động của mình”. Tuy nhiên, việc
thực hiện nguyên tắc khách quan không

và bệnh bảo thủ trì trệ có nguyên nhân
từ sự yếu kém lạc hậu về tư duy lý luận,
trí thức lý luận không đáp ứng được yêu
cầu của thực tiễn. Sự giản đơn yếu kém
về lý luận thể hiện ở chổ : hiểu và vận
dụng chưa đúng nguyên lý, quy luật,
phạm trù, chưa chú ý tiếp thu kế thừa
những thành tựu, kỹ thuật công nghệ
mới của chủ nghĩa tư bản, của nhân loại,
thậm chí còn có định kiến phủ nhận một
cách cực đoan những thành tựu đó,
chưa chú ý tổng kết những cái mới từ sự
vận động, phát triển của thực tiễn. theo
Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nguyên nhân
của bệnh chủ quan là kém lý luận, lý
luận là lý luận suông. Bệnh chủ quan
duy ý chí, bảo thủ còn do nguồn gốc lịch
sử, xã hội, giai cấp, tâm lý của con
người chi phối. Những nguyên nhân
khách quan ấy có thể kế như : do xuất
phát điểm của nước ta quá thấp, nền SX
nhỏ với trình độ SX lạc hậu, do hậu quả
của chiến tranh kéo dài ảnh hưởng rất
lớn đến không chỉ đến tốc độ phát triển
kinh tế - xã hội mà còn làm cho đội ngũ
cán bộ - đảng viên không có điều kiện để
học tập nên trình độ KH công nghệ, tri
thức không đáp ứng đầy đủ những yêu
cầu của sự nghiệp cách mạng, cơ chế
quan liêu bao cấp, bệnh quan liêu ảo

tế: “trong nhận thức và hành động chúng
ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kt
nhiều t” hành phần … chưa nắm vững
và vận dụng đúng quy luật về sự phù
hợp giữa qhsx với tính chất và trình độ
của llsx”
Về cơ chế quản lý kinh tế:
Do thiếu hiểu biết và ít kinh nghiệm quản
lý, lại chưa chú trọng đến tổng kết rút
kinh nghiệm và do khuynh hướng bảo
thủ, trì trệ, khg muốn đổi mới, nóng vội
và giản đơn muốn giải quyết vấn đề
trong thời gian ngắn nên “chậm đổi mới
cơ chế và bộ máy qlkt, việc điều hành
không nhạy bén là những nguyên nhân
quan trọng dẫn đến hành động khg
thống nhất; nhiều chính sách, thể chế đã
lỗi thời chưa được thay đổi, một số thể
chế ql mới còn chắp vá, khg ăn khớp
thậm chí trái ngược nhau”.
Về phân phối lưu thông: đây
là sai lầm rất nghiêm trọng trong lãnh
đạo qlkt thời gian qua làm cho tình hình
kt-xh rối ren và luôn căng thẳng, những
sai lầm đó là: bố trí cơ cấu kt, chưa có
chính sách cơ bản về tài chính đúng đắn
gắn liền với giá cả, tiền lương…
Về thực hiện chuyên chính
vô sản: Trong lĩnh vực tư tưởng đã bộ lộ
sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vận

đảng là nhân tố quyết định thành công
của đổi mới. Đảng khởi xướng và lãnh
đạo công cuộc đổi mới, tổng kết thực
tiễn và nghiên cứu lý luận, hoàn thiện
đường lối đổi mới; thường xuyên xây
dựng chỉnh đống Đảng, tạo ra sự thống
nhất về quan điểm, ý chí và hành động
trong toàn Đảng; lãnh đạo tổ chức thực
hiện, xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà
nước trong sạch vững mạnh”
Hai mươi năm qua, trong
công cuộc xd xhcn của đất nước, từ
thực tiễn đổi mới, Đảng và Nhà nước ta
càng tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm
lãnh đạo và quản lý, Đại hội Đảng lần
thứ X tiếp tục tổng kết từ sự vận động
của thực tiễn trong nước và trên thế giới
đã khẳng định một trong những bài học
chủ yếu đưa công cuộc đổi mới ở nước
ta đi đến thắng lợi là: Trong quá trình đổi
mới phải kiên định mục tiêu đldt và cnxh
trên nền tảng cn M-L và TTHCM; Đổi
mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa,có
bước đi, hình thức và cách làm phù hợp;
Đổi mới phải vì lợi ích của nd, dựa vào
nd phát huy vai trò chủ động, sang tạo
của nd, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén
với cái mới; Phát huy cao độ nội lực,
đồng thời ra sức khai thác ngoại lực, kết
hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh

hướng, tư tưởng sai trái”(Văn kiện
Đại hội IX, trang 141)
Bài làm
Đối với Đảng ta, kiên trì, vận
dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa
Mác – Lênin là vấn đề có tính nguyên tắc
số một. Trung thành với chủ nghĩa Mác –
Lênin có nghĩa là nắm vững bản chất
cách mạng và khoa học của chủ nghĩa
Mác – Lênin , vận dụng một cách đúng
đắn , thích hợp với điều kiện nước ta,
góp phần phát triển chủ nghĩa Mác –
Lênin một cách sáng tạo. Nghị Quyết đại
hội VIII của Đảng nêu rõ “ Đảng làm giàu
trí tuệ của mình bằng cách không ngừng
nâng cao trình độ lý luận, nắm vững và
vận dụng sáng tạo những luận điểm cơ
bản và phương pháp luận chủ nghĩa
Mác – Lênin và tư tưởng HCMinh, đồng
thời phải không ngừng tổng kết kinh
nghiệm thực tiển sinh động, từ phong
trào CM của quần chúng”. NQ ĐH IX của
Đảng tiếp tục khẳng định “lấy chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tường HCM làm nền
tảng tư tường, kim chỉ nam cho hành
động là bước phát triển quan trọng trong
nhận thức và tư duy lý luận của Đảng
ta”. Triết học Mác – Lênin đã giải quyềt
tòan bộ các vần đề nêu trên, trong đó
mối quan hệ VC va YT .

hoạt động vật chất
có mục đích mang tính lịch sử XH của
con người làm biến đổi, cải tạo tự nhiên
và xã hội. Bản chất của hoạt động thực
tiễn đó là sự tác động qua lại của chủ
thể và khách thể, là con người sử dụng
những công cụ vật chất tác động vào đối
tượng vật chất làm biến đổi chúng theo
mục đích của mình. Thực tiễn cũng có
quá trình vận động, phát triển, trình độ
phát triển của thực tiễn nói lên quá trình
chinh phục tự nhiên, làm chủ xã hội của
con người. Thực tiễn mang tính lịch sử
xã hội bởi nó phát triển qua các giai
đoạn lịch sử. Hoạt động thực tiễn có thể
chia làm 3 hình thức cơ bản : hoạt động
SX vật chất, hoạt động biến đổi chính trị
xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa
học. Ttrong đó, hoạt động SX vật chất là
hoạt động có ý nghĩa quyết định các
hình thức khác, hoạt động biến đổi chính
trị xã hội là hình thức cao nhất và hoạt
động thực nghiệm khoa học là hình thức
đặc biệt nhằm thu nhận những tri thức
về hiện thực khách quan.
Lý luận – theo Chủ tịch Hồ chí
Minh – là sự tổng kết kinh nghiệm của
loài người, sự tổng hợp những tri thức
về tự nhiên, xã hội đã được tích lũy lại
trong quá trình lịch sử của con người. Lý

hơn. Lý luận cách mạng có vai trò to lớn
trong thực tiễn cách mạng. Lênin viết
“không có lý luận cách mạng thì không
thể có phong trào cách mạng”. Như vậy,
giữa lý luận và thực tiễn có sự liên hệ,
tác động qua lại, tạo điều kiện cho nhau
cùng phát triển và gắn bó hữu cơ với
nhau do đó sự thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn là nguyên lý cao nhất của triết
học Mác Lênin. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
từng chỉ rõ “Thực tiễn không có lý luận
hướng dẫn thì thành thực tiễn mù
quáng”, “Lý luận mà không có thực tiễn
là lý luận suôn”
Từ mối quan hệ biện chứng
giữa lý luận và thực tiễn, ta rút ra được
quan điểm thực tiễn. Quan điểm thực
tiễn đòi hỏi khi xem xét sự vật hiện
tượng phải gắn với thực tiễn, phải theo
sát sự phát triển của thực tiễn để điều
chỉnh nhận thức cho sự phù hợp với sự
phát triển của thực tiễn, hiệu quả của
thực tiễn để kiểm tra những kết luận của
nhận thức, kiểm tra những luận điểm
của lý luận. Quan điểm thực tiễn cũng
đòi hỏi những khái niệm của chúng ta về
sự vật phải được hình thành, bổ sung và
phát triển bằng con đường thực tiễn,
trên cơ sở thực tiễn chứ không phải
bằng con đường suy diễn thuần túy,

tình hình và phương hướng hoạt động
thực tiễn trong tương lai …
Chúng ta coi trọng những kinh
nghiệm thực tiễn và không ngừng tích
lũy vốn kinh nghiệm quý báu đó. Tuy
nhiên nếu chỉ dừng lại ở trình độ kinh
nghiệm, chỉ dựa vào những hiểu biết ở
trình độ kinh nghiệm, thỏa mãn với vốn
kinh nghiệm của bản thân coi kinh
nghiệm là tất cả, tuyệt đối hóa kinh
nghiệm đồng thời coi nhẹ lý luận, ngại
học tập, nghiên cứu lý luận, ít am hiểu lý
luận vươn lên để nắm lý luận, không
quan tâm tổng kết kinh nghiệm để đề
xuất lý luận … thì rất dễ mắc bệnh kinh
nghiệm chủ nghĩa. Trong thực tế, đây là
trường hợp thường có ở những cán bộ,
đảng viên có kinh nghiệm và làm theo
kinh nghiệm. Họ không hiểu được rằng
kinh nghiệm của họ tuy tốt nhưng cũng
chỉ là từng bộ phận, từng mặt mà thôi.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét: ''Có kinh
nghiệm mà không có lý luận cũng như
một mắt sáng, một mắt mờ''
Mặt khác, thái độ thực sự coi
trọng lý luận đòi hỏi phải ngăn ngừa
bệnh giáo điều chủ nghĩa. Bệnh giáo
điều chủ nghĩa là tuyệt đối hóa lý luận,
coi thường kinh nghiệm thực tiễn, xem lý
luận là bất di bất dịch, việc nắm lý luận

phát từ căn bệnh giáo điều. Trong thời
kỳ này, đã có lúc ta bắt chước rập khuôn
mô hình CNXH ở Liên Xô trong việc
thành lập các bộ ngành của bộ máy nhà
nước (ở Liên Xô có bao nhiêu Bộ,
Ngành ta cũng có bấy nhiêu Bộ ngành),
hoặc về công nghiệp hóa cũng vậy, ta
chỉ chú ý tập trung phát triển công
nghiệp nặng mà không chú ý phát triển
công nghiệp nhẹ Hoặc theo học thuyết
của Mác thì phải xóa bỏ tư hữu, do đó
khi áp dụng vào nước ta, Đảng đã có
biểu hiện nóng vội trong việc tiến hành
cải tạo XHCN nhằm xóa tất cả các thành
phần kinh tế mà không thấy được rằng
"Nền kinh tế nhiều thành phần là một
đặc trưng của thời kỳ quá độ", sự có mặt
của nhiều thành phần kinh tế với các mối
quan hệ tác động qua lại của nó sẽ tạo
động lực cho sự phát triển kinh tế trong
giai đoạn này. Chính những sai lầm này
là một trong những nguyên nhân gây ra
tình trạng khủng hoảng kinh tế trầm
trọng trong thời kỳ trước đổi mới.
Nhận thức được những sai lầm
trên, từ ĐH Đảng lần VI (1986) Đảng đã
khởi xuớng công cuộc đổi mới toàn diện
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,
trong đó có lĩnh vực tư tưởng, lý luận, tư
duy và đề ra phương hướng đổi mới của

theo dõi để chủ động ngăn ngừa, giải
quyết, tránh suy nghĩ giản đơn một chiều
đến khi có vấn đề mới nảy sinh, có mặt
tiêu cực mới xuất hiện thì hoang man hốt
hoảng hoặc khi gặp khó khăn thì dao
động và quay lại những cách sai lầm cũ.
Hiện nay, công cuộc đổi mới
ở nước ta càng đi vào chiều sâu, những
biến đổi trên thế giới nhanh chóng,
phức tạp, khó lường thì những vấn đề
mới đặt ra ngày càng nhiều , trong đó có
những vấn đề liên quan đến nhận thức
về CNXH và con đường xây dựng
CNXH. Do đó tổng kết thực tiễn là
phương pháp căn bản để khắc phục
bệnh giáo điều, bệnh kinh nghiệm, để
nhận rõ hơn con đường cách mạng mà
chúng ta tất yếu phải đi tới . Có thể nói
rằng mỗi ĐH Đảng là một dịp để Đảng
và Nhà nước ta tổng kết thực tiễn, nâng
tầm lý luận, làm căn cứ cho việc hoạch
định đường lối, chính sách phù hợp cho
từng giai đoạn. Tuy nhiên, nhấn mạnh
tổng kết thực tiễn không có nghĩa là xem
nhẹ nghiên cứu cơ bản mà lý luận cơ
bản càng tiếp cận với những vấn đề cụ
thể bao nhiêu càng phải có những quan
điểm chung cơ bản bấy nhiêu
Vì thế ĐH VII của ĐCS VN
khẳng định : “Chỉ có tăng cường tổng

thực tiển sẽ giúp chúng ta đạt được
những thành công trong cuộc sống,
trong suy nghĩ, hành động cũng như
trong quá trình thực hiện công cuộc đổi
mới và xây dựng đất nước
3
Câu 3: Nội dung của quy luật về sự
phù hợp của quan hệ sản xuất vời
trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất. Vận dụng để phân tích khuyết
điểm, yếu kém trong việc nhận thức
và vận dụng quy luật này trong thời
kỳ trước đổi mới và để phân tích
phương hướng đổi mới sau đây của
Đảng ta “Đẩy mạnh công nghiệp hóa -
hiện đại hóa
1
, xây dựng nền kinh tế
độc lập, tự chủ
2
, đưa nước ta trở
thành một nước công nghiệp, ưu tiên
phát triển lực lượng sản xuất
3
, đồng
thời xây dựng quan hệ sản xuất phù
hợp
4
theo định hướng xã hội chủ
nghĩa” (VK 9-Tr 87)

hợp với LLSX phát triển.
+ QHSX tác động trở lại LLSX:
1) Nếu QHSX phù hợp với trình độ phát
triển của LLSX sẽ tạo đk cho LLSX phát
triên , ngược lại, sẽ kìm hãm sự phát
triển của LLSX. 2) QHSX quy định mục
đích sx, ảnh hưởng đến thái độ lao động
của người sx ( LLSX)
b- Sự nhận thức và vận dụng quy
luật này trong quá trình xây dựng CNXH
ở nước ta.
- Trước đổi mới: (nêu trong VK
đại hội VI và Cương lĩnh 1991): Trong
nhận thức cũng như trong hành động,
những người hoạch định đường lối kinh
tế chưa nắm vững và vận dụng đúng
quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát
triển của LLSX, áp đặt chủ quan của
mình theo hướng QHSX đi trước LLSX
Cụ thể: 1) Xóa bỏ ngay nền kinh tế
nhiều thành phần . 2) Nóng vội trong cải
tạo XHCN.3) Có lúc đẩy mạnh quá mức
việc xd công nghiệp nặng. 4) Duy trì quá
lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan
liêu bao cấp. 5) Có nhiều chủ trương sai
trong cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương.
- Sau đổi mới: (nêu trong VK đại
hội VI đến X): Nhận thức được sai lầm
trước đó, vận dụng đúng quy luật QHSX
phù hợp với trình độ phát triển của

phải thủ tiêu mọi kìm hãm về xã hội, giai
cấp, dân tộc để động lực XH trong LLSX
luôn phát triển. Nếu chúng ta thấm
nhuần sâu sắc, biện chứng quá trình vận
động của từng HT KT-XH cũng như quá
độ của một HT KT-XH này đến một HT
KT-XH cao hơn thì chắn chắn dễ tiếp
thu việc phát triển KT nhiều thành phần
theo cơ chế thị trường, định hướng
XHCN. Vì chủ nghĩa Mác Lênin, tư
tưởng Hồ chí Minh dạy chúng ta lấy sự
phát triển LLSX, nâng cao đời sống với
nhân dân lao động làm mục đích cao
nhất, đó là quy luật, động lực phát triển
của XH Việt Nam trongf thời kỳ quá độ.
Xã hội loài người tồn tại và phát
triển theo những quy luật khách quan và
một trong những quy luật đó là quy luật
về sự phù hợp của quan hệ sản xuất vời
trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất. Trên cơ sở nghiên cứu, vận dụng
quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lên nin
về quy luật này trong định hướng đổi
mới, Đảng ta đã xác định : “Đẩy mạnh
công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xây
dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa
nước ta trở thành một nước công
nghiệp, ưu tiên phát triển lực lượng
sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ
sản xuất phù hợp theo định hướng xã

sản xuất, làm thay đổi sâu sắc bộ mặt
của lực lượng sản xuất của nhân loại và
quy định nội dung mới của sức sản xuất
xã hội trong thời đại ngày nay. Chính vì
lẽ đó mà Đảng ta quan niệm “cùng với
giáo dục, đào tạo khoa học công nghệ
phải được coi là quốc sách hàng đầu “.
Quan hệ sản xuất dùng để
chỉ quan hệ kinh tế giữa người với người
trong quá trình sản xuất vật chất của xã
hội. Nó là một chỉnh thể thống nhất của 3
quan hệ : mối quan hệ giữa người với
người trong việc sở hữu đối với tư liệu
sản xuất (gọi tắt là quan hệ sở hữu),
quan hệ giữa người với người trong việc
tổ chức quản lý sản xuất vào trao đổi
cho nhau trong sản xuất (gọi tắt là quan
hệ quản lý), quan hệ giữa người với
người trong việc phân phối sản phẩm xã
hội (gọi tắt là quan hệ phân phối). Trong
chỉnh thể quan hệ sản xuất, quan hệ sở
hữu giữ vai trò quyết định đối với các
quan hệ khác, nó chính là mặt pháp lý
của quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ
quản lý và phân phối cũng rất quan
trọng, vai trò của nó biểu hiện ở chỗ nó
có thể củng cố quan hệ sở hữu nhưng
cũng có thể làm xói mòn, đổ vỡ quan hệ
sở hữu. Vì vậy, nhận thức quan hệ sản
xuất trong quan hệ với lực lượng sản

quan hệ quan hệ sản xuất mang tính
khách quan, do vậy, con người không có
quyền tự do lựa chọn quan hệ sản xuất
theo ý muốn chủ quan của mình.Ví dụ :
nếu lực lượng sản xuất ở trình độ thủ
công thì nó chỉ đòi hỏi quan hệ sản xuất
cá thể, tư hữu, tự cung tự cấp, tự quản
lý theo sản xuất nhỏ. Nhưng nếu lực
lượng sản xuất ở trình độ cơ khí hóa,
tính chất xã hội hóa cao (do dây chuyền
công nghệ khép kín, có sự chuyên môn
hóa cao) thì nó đòi hỏi tất nhiên phải có
hình thức quan hệ sản xuất mang tính xã
hội hóa cao thì quá trình sản xuất mới
trôi chảy được. đương nhiên là quan hệ
SX có đáp ứng đúng đòi hỏi của lực
lượng sản xuất hay không thì còn do
nhiều nguyên nhân từ phía bản thân của
quan hệ sản xuất.
Ở đây cần hiểu rằng xác
định lực lượng sản xuất ở trình độ nào
để xem xét quan hệ sản xuất phù hợp
với nó chỉ là tương đối và lực lượng sản
xuất luôn ở trạng thái vận động phát
triển liên tục. Trong thực tiễn sản xuất
thường không xuất hiện sự không trùng
khớp giữa đòi hỏi của lực lượng sản
xuất và sự đáp ứng của quan hệ sản
xuất, điều đó là do sự can thiệp của chủ
thể trái với tính tất yếu kinh tế. Song tính

thức sản xuất cách kiếm sống của mình,
loài người thay đổi tất cả các quan hệ xã
hội của mình.
Ngày nay, trên thế giới khi
mà lực lượng sản xuất đã mang tính
quốc tế rộng lớn và sâu sắc thì tất yếu
đòi hỏi trong quan hệ kinh tế quốc tế
giữa các quốc gia, dân tộc cũng phải
phát triển theo xu hướng đó. Việc hình
thành các khối liên kết kinh tế quốc tế và
khu vực, các hình thức công tất yếu đa
quốc gia, xuyên quốc gia hay việc điều
chỉnh ở những phạm vi, mức độ nhất
định của quan hệ sản xuất trong các
nước tư bản phát triển đều thể hiện
đúng yêu cầu của quy luật quan hệ SX
phù hợp với trình độ của lực lượng SX
trong điều kiện quốc tế hiện nay.
Mặc dù khẳng định lực lượng
sản xuất là yếu tố quyết định đối với
quan hệ SX, Triết học Mác Lênin cũng
chỉ ra rằng quan hệ SX không hoàn toàn
phụ thuộc một cách thụ động vào lực
lượng SX, nó có vai trò độc lập tương
đối trong sự tác động trở lại lực lượng
SX. Sự tác động của quan hệ SX đối với
lực lượng SX diễn ra theo 2 hướng : phù
hợp hoặc không phù hợp, điều này do
quan hệ SX mang tính ổn định tương đối
và biến đổi chậm hơn so với lực lượng

thể dùng ý chí chủ quan của mình áp đặt
một “mô hình” quan hệ sản xuất”, “cao
hơn” trình độ lực lượng sản xuất. Cả 2
trường hợp này đều kìm hãm sự phát
triển của lực lượng sản xuất, nhưng
không có nghĩa là lực lượng sản xuất
đứng im tại chổ với lực lượng SX thì nó
sẽ kìm hãm, thậm chí phá hoại đối với
lực lượng sản xuất. Tình hình đó làm
cho SX có thể bị đình đốn, có khi dẫn
đến khủng hoảng KT-XH nghiêm trọng
Tóm lại, thực chất của quy
luật là lưc lượng sản xuất đòi hỏi quan
hệ SX phải luôn phù hợp với tính chất và
trình độ của LLSX. Song do nhiều yếu tố
bản thân quan hệ SX chi phối cho nên
QHSX phù hợp hoặc không phù hợp với
LLSX. Do vậy, hiểu phù hợp ở đây là
bao trùm mâu thuẫn, sự giải quyết mâu
thuẫn giữa LLSX và QHSX là thường
xuyên và theo yêu cầu phù hợp, thúc
đẩy LLSX phát triển : đó chính là nguồn
động lực của sự phát triển phương thức
SX, các hình thái KT-XH.
4
Đảng ta đã nhận thức và vận
dụng quy luật này như thế nào ? Ở đây
chúng ta có thể tóm tắt thành 2 thời kỳ
lớn : thời kỳ trước Đại hội 6 (Đại hội đổi
mới toàn diện của Đảng) và thời kỳ sau

vốn có về tư liệu sản xuất (đất đai), lợi
thế tự nhiên từng vùng … lực lượng sản
xuất đặc thù (đa thành phần), phương
thức sản xuất vẫn ở trình độ thủ công,
cơ cấu tỷ trọng nông nghiệp trong GDP
còn cao, không phát huy và khôi phục
ngành nghề truyền thống
Trong quan hệ sản xuất,
Đảng và Nhà nước ta đã đưa QHSX lên
quá cao so với trình độ lạc hậu của
LLSX ở nước ta làm cho LLSX không
phát triển được và SX bị đình trệ. Văn
kiện Đại hội VI đánh giá như sau: “Trong
nhận thức cũng như hành động, chúng
ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu KT
nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại
trong một thời gian tương đối dài nên đã
nóng vội muốn nhanh chóng xóa bỏ KT
tư bản tư nhân, KT cá thể để sớm có
KT XHCN chiếm ưu thế tuyệt đối. Việc
xác lập quan hệ SX còn không đồng bộ
và có yếu tố đẩy quá xa, vượt lên trên
trình độ của LLSX thể hiện ở chỗ : không
đồng bộ trong các ngành, trong cơ cấu
kinh tế, trong bản thân 3 mặt của quan
hệ SX. Trong việc tổ chức hình thức sản
xuất, chúng ta đã có xu hướng tổ chức
quá nhanh mô hình sản xuất, tập đoàn,
hợp tác xã … với quy mô lớn mà không
tính đến khả năng trang bị kỹ thuật, trình

XHCN Đảng ta đã có nhiều cố gắng
nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng đường lối
xác định đúng mục tiêu và phương
hướng XHCN. Nhưng Đảng đã phạm sai
lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật
khách quan, nóng vội cải tạo XHCN, xóa
bỏ ngay nền KT nhiều thành phần, có lúc
đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công
nghiệp nặng, duy trì quá lâu, cơ chế
quản lý KT tập trung quan liêu bao cấp,
có nhiều chủ trương sai trong việc cải
cách giá cả, tiền tệ, tiền lương. Công tác
tư tưởng và tổ chức các bộ phạm nhiều
khuyết điểm nghiêm trọng”.
Từ những sai lầm đó đã dẫn
đến khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm
trọng, lạm phát đạt đến mức khủng khiếp
774% (những năm 80) sản xuất bị đình
trệ. Qua thực tiễn cuộc sống, Đảng ta đã
rút ra được những bài học thấm thía là
không thể nóng vội, làm trái với quy luật
khách quan.
Để khắc phục những sai lầm
trên và vận dụng hiệu quả quy luật này,
Đại hội 6 của Đảng đã đề xuất quan
điểm đổi mới toàn diện, trong đó đặc biệt
chú ý đổi mới nhận thức và vận dụng
các quy luật khách quan, trong đó quy
luật quan hệ SX phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng SX. Quan điểm

phát triển, hiện đại, đủ đảm bảo cho nền
kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững.
Việc phát triển lực lượng SX chỉ có thế
thực hiện được khi chúng ta tăng cường
tính khoa học và hiện đại vào trong lực
lượng sản xuất hiện tại, vì vậy Đảng đã
chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa
hiện đại hóa và xem đây là trọng tâm
của suốt thời kỳ quá độ. Bởi vì CNH
thực chất là xây dựng cơ sở vật chất - kỹ
thuật cho CNXH, đó là quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế gắn đổi mới căn bản
về công nghệ, chuyển từ nền SX nhỏ thủ
công sang nền SX lớn có trình độ
chuyên môn hóa và công nghiệp hóa
cao, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng
nhanh, hiệu quả và lâu bền cho nền KT
quốc dân. Với con đường CNH-HĐH đất
nước và chính sách mở cửa về đối
ngoại, chúng ta có thể tận dụng mọi khả
năng để tiếp cận, học tập những thành
tựu trên thế giới nhằm đạt được trình độ
tiên tiến, hiện đại về khoa học và công
nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và
công nghệ sinh học, từng bước phát
triển nền kinh tế tri thức. Văn kiện Đại
hội Đảng lần 9 cũng đã chỉ rõ nước ta
đang từng bước xây dựng và phát triển
nền kinh tế tri thức : ”Phát huy những lợi
thế của đất nước, tận dụng mọi khả

nghiệp nặng then chốt, có năng lực
nội sinh về KH-CN ”
Về quan hệ SX. Đại hội VII
đã nêu : để phù hợp với sự phát triển
của LLSX, chúng ta phải thiết lập từng
bước quan hệ SX XHCN từ thấp đến
cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu,
phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần theo định hướng XHCN, vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước. Đại hội VIII của Đảng
đã đề ra chủ trương : “Nếu CNH, HĐH
tạo nên LLSX cần thiết cho chế độ XH
mới thì việc phát triển nền KT nhiều
thành phần chính là để xây dựng hệ
thống QHSX phù hợp”. Các văn kiện Đại
hội Đảng cũng đã khẳng định các thành
phần kinh tế là những bộ phận cấu thành
phần kinh tế thống nhất, được phát triển
lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh
với nhau. Trong xu hướng vận động
chung, thành phần kinh tế Nhà nước
phải giữ vai trò chủ đạo, hỗ trợ các
thành phần kinh tế khác phát triển. Chủ
trương này đã khơi dậy tiềm năng SX ,
khơi dậy năng lực sáng tạo, chủ động
của các chủ thể lao động trong sản xuất
kinh doanh, thúc đẩy SX phát triển. Văn
kiện ĐH IX còn xác định “Phát triển
LLSX hiện đại gắn liền với xây dựng

quản lý Nhà nước theo định hướng
XHCN, nhất định chúng ta sẽ thực hiện
được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, XH
công bằng, dân chủ văn minh. Những
thành tựu to lớn mà chúng ta đã đạt
được sau gần 19 năm đổi mới là những
minh chứng xác thực nhất cho điều đó.
5
Câu 4. Mối quan hệ biện chứng giữa
tồn tại xã hội và ý thức xã hội, vận
dụng để phân tích phương hướng đổi
mới sau đây của Đảng ta “Tăng
trưởng kinh tế đi lên gắn liền với phát
triển văn hóa, từng bước cải thiện đời
sống vật chất và tinh thần của nhân
dân, thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường
xã hội” (Văn kiện ĐH IX, trang 89)
Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại
xã hội và ý thức xã hội. Ý nghĩa
phương pháp luận của vấn đề trên.
a- Mối quan hệ biện chứng giữa
tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
- Tồn tại XH ( TTXH): là phạm trù
chỉ toàn bộ đời sống vật chất và những
điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội.
TTXH bao gồm 3 yếu tố: PTSX vật chất,
điều kiện tự nhiên- hoàn cảnh địa lý, dân
số và mật độ dân cư. Trong 3 yếu tố
trên, PTSX vật chất là yếu tố quyết

mức độ vận dụng đúng đắn, sáng tạo
YTXH của chủ thể quản lý XH.
b- Ý nghĩa phương pháp luận:
- Khi nghiên cứu giải quyết các
hiện tượng YTXH , trước hết phải xuất
phát từ CSVC, cơ sở kinh tế đã sản sinh
ra nó, đồng thời phải xem xét tính độc
lập tương đối của YTXH, thấy được vai
trò tác động của những ý tưởng khoa
học tiên tiến (Muốn phát triển YTXH của
chế độ XHCN, về lâu dài phải phát triển
cơ sở vật chất , cơ sở kinh tế của nó).
- Phải thấy được tầm quan trọng
và ý nghĩa của YTXH đối với quá trình
hình thành nền văn hóa mới và con
người mới.Phải kết hợp chặt chẽ giữa
tăng trưởng kinh tế với phát triển văn
hóa- giáo dục, làm cho chủ nghĩa Mác -
Lênin, TT. Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ
đạo trong đời sống tinh thần của nhân
dân.
( Xem thêm Đề cương bài giảng trang
347- 350, Văn kiện đại hội X
trang 213 - 214 để trả lời câu
hỏi thêm về vận dụng vào thực
tiễn Việt Nam - Phần trình bày
thêm khi được hỏi! )
Bài làm
Mác-Ăngghen, Lê nin luôn luôn
nhấn mạnh vai trò sản xuất vật chất xã

ý thức xã hội và sự chuyển hóa từ tư
tưởng thành hiện thực trong đời sống xã
hội có ý nghĩa rất quan trọng để hiểu lịch
sử xã hội loài người. Trên cơ sở nghiên
cứu, vận dụng mối quan hệ biện chứng
giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, trong
phương hướng đổi mới đất nước, Đảng
ta đã khẳng định “Tăng trưởng kinh tế
đi lên gắn liền với phát triển văn hóa,
từng bước cải thiện đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân, thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ
và cải thiện môi trường xã hội”.
Tồn tại xã hội là đời sống (sinh
hoạt) vật chất của xã hội cùng toàn bộ
những điều kiện sinh hoạt vật chất của
xã hội. Trước hết sinh hoạt vật chất của
xã hội phương thức sản xuất (bao gồm
lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất). Sinh hoạt vật chất của xã hội còn
bao gồm những sinh hoạt vật chất khác
như : trao đổi, tiêu dùng hàng ngày, kế
thừa tài sản Điều kiện sinh hoạt vật
chất của xã hội bao gồm : điều kiện tự
nhiên xung quanh, hoàn cảnh địa lý, dân
số và mật độ dân số … Trong các yếu tố
cấu thành nên tồn tại xã hội, phương
thức SX là nhân tố cơ bản vì nó có ảnh
hưởng quyết định đến sự biến đổi của ý
thức xã hội và nó làm thay đổi ý nghĩa

của xã hội.
Khi nghiên cứu về ý thức xã
hội, chủ nghĩa duy vật lịch sử đã đặt ý
thức xã hội trong quan hệ với cơ sở vật
chất, với cơ sở kinh tế để nghiên cứu và
từ đó khẳng định ý thức xã hội và tồn tại
xã hội có quan hệ biện chứng với nhau.
Trong mối quan hệ đó tồn tại xã
hội giữ vai trò quyết định đến nội dung,
khuynh hướng phát triển của ý thức xã
hội, ý thức xã hội là sự phản ánh của tồn
tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội. Ý
thức xã hội do tồn tại xã hội sinh ra, nội
dung của nó là kết quả của sự phản ánh
tồn tại xã hội. Khi tồn tại xã hội tác động
đến nhận thức của chủ thể thì hình
thành những quan điểm, tư tưởng, nhận
định và thái độ của chủ thể. Sự phản
ánh của ý thức xã hội bao giờ cũng
xuyên qua một mắt khâu là lợi ích, trong
xã hội có giai cấp đó là lợi ích của giai
cấp. Do đó xem xét nội dung của ý thức
xã hội phải gắn chặt chẽ với quan hệ lợi
ích. Mặt khác, ý thức xã hội là sự phản
ánh tồn tại xã hội nhưng không phải bất
cứ tư tưởng nào, một hình thức ý thức
xã hội nào cũng phản ánh rõ ràng và
trực tiếp các quan hệ kinh tế của thời đại
mà nó có thể là phản ánh trực tiếp hoặc
gián tiếp qua khâu trung gian, nhưng xét

tại xã hội biểu hiện ở chổ ý thức xã hội
vừa vượt trước vừa lạc hậu so với sự
phát triển của tồn tại xã hội.
Sự lạc hậu của ý thức xã hội
thường xảy ra khi ý thức xã hội không
phản ánh kịp thời sự vận động, phát
triển của đời sống xã hội bởi vì ý thức xã
hội chí là cái phản ánh được sinh ra từ
tồn tại xã hội, còn tồn tại xã hội thì gắn
trực tiếp với hoạt động thực tiễn nên
thường biến đổi nhanh hơn. Sự lạc hậu
của ý thức xã hội còn thể hiện ở những
tư tưởng và đặc biệt là tâm lý của xã hội
của xã hội cũ còn rơi rớt lại vẫn tồn tại
dai dẳng sau khi tồn tại xã hội đã thay
đổi, bởi vì những tư tưởng, tâm lý một
khi đã ăn sâu vào đời sống xã hội và trở
thành lối sống, nếp nghĩ phong tục, tập
quán, thói quen thì nó có tính ổn định
tương đối và tồn tại lâu hơn, không dễ
mất đi ngay. Mặt khác, các giai cấp lỗi
thời, phản động cũng tìm cách duy trì
những tư tưởng cũa nhằm phục vụ lợi
ích của chúng, như lối sống ăn bám,
chây lười lao động, tệ nạn tham nhũng
… Lê nin nói rằng: “Một người bệnh chết
đi ta có thể đem chôn cùng với căn bệnh
nhưng một xã hội mất đi ta không thể
đem chôn cùng những căn bệnh của nó
được mà những căn bệnh này rữa ra

quan của sự phát triển xã hội thì không
có nghĩa là trong trường hợp này ý thức
xã hội không còn bị tồn tại xã hội quyết
định nữa. Tư tưởng khoa học tiên tiến
không thoát ly tồn tại xã hội mà phản
ánh chính xác, sâu sắc mối quan hệ tất
yếu, bản chất của tồn tại xã hội.
Ý thức xã hội của một thời đại
bao giờ cũng phản ánh đời sống vật chất
của thời đại đó, đồng thời là sự kế thừa
của những giá trị tinh thần mà các thế hệ
trước đó tích lũy được. Quan hệ kế thừa
nói lên sự phát triển liên tục về tư duy
giữa các thế hệ, tuy nhiên nó không phải
là việc sử dụng kế thừa máy móc mà
trên cơ sở “lọc bỏ”. Kế thừa và lọc bỏ là
biện chứng của sự phát triển của ý thức
xã hội, nội dung kế thừa hoặc lọc bỏ
xuất phát từ quan hệ về lợi ích và nhu
cầu của giai cấp chi phối. Những giai
cấp khác nhau kế thừa những nội dung ý
thức khác nhau của các thời đại trước.
Vì vậy, khi tiến hành cuộc đấu tranh giai
cấp trên lĩnh vực ý thức thì không những
phải vạch ra tính chất phản khoa học,
phản tiến bộ của những trào lưu tư
tưởng phản động trong điều kiện hiện tại
mà còn phải chỉ ra những nguồn gốc lý
luận của chúng trong lịch sử và phải kế
thừa, phát huy những giá trị tinh thần

bộ góp phần thúc đẩy xã hội phát triển;
ngược lại những tư tưởng lạc hậu, phản
động thì cản trở sự phát triển của xã hội.
Tính chất và hiệu quả tác động trở lại
của ý thức xã hội phụ thuộc vào các yếu
tố : vai trò lịch sử của giai cấp chủ thể
của tư tưởng, trình độ phù hợp của ý
thức đối với hiện thực và mức độ truyền
bá và xâm nhập của tư tưởng cả bề rộng
lẫn bề sâu trong quần chúng nhân dân.
Sự tác động của ý thức xã hội đối với
tồn tại xã hội không phải là trực tiếp biến
6
đổi tồn tại xã hội mà nó tác động thông
qua hoạt động của con người ở chỗ ý
thức xã hội vạch ra nội dung vận động
và phát triển của tồn tại xã hội, từ đó xác
định đúng đắn các mục tiêu và lựa chọn
các biện pháp tối ưu đồng thời hướng
dẫn hoạt động cải tạo .
Tóm lại, trên cơ sở nghiên cứu
mối quan hệ biện chứng giữa Tồn tại xã
hội và Ý thức xã hội, ta rút ra ý nghĩa
phương pháp luận là khi xem xét, giải
quyết các hiện tượng thuộc ý thức xã hội
trước hết phải xuất phát từ cơ sở vật
chất, cơ sở kinh tế đã sinh ra nó, đồng
thời phải xem xét tính độc lập tương đối.
Từ đó khẳng định được vai trò động lực
của những tư tưởng khoa học, tiến bộ.

hội, là động lực thúc đẩy phát triển kinh
tế. Như vậy, với vai trò là nguồn gốc sản
sinh ra ý thức xã hội, nền kinh tế phát
triển mạnh tạo điều kiện và là tiền đề cho
việc lành mạnh hóa các QHSX, bảo vệ
truyền thống tốt đẹp của từng gia đình
và của cả dân tộc.
Đại hội IX của Đảng cũng đã
khẳng định con đường đi lên CNXH ở
nước ta là “Tăng trưởng kinh tế đi đôi
với phát triển văn hóa và giáo dục, xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho chủ
nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh
thần của nhân dân”. Nó vừa là mục tiêu
vừa là động lực phát triển kinh tế - xã
hội.
Trong giai đoạn quá độ đi lên
chủ nghĩa xã hội hiện nay, những tàn dư
của tư tưởng cũ vẫn còn, mặt tích cực
và tiêu cực trong tình hình tư tưởng
trong Đảng và trong nhân dân hiện nay
vẫn còn đan xen nhau, trong đó mặt tích
cực là cơ bản, đã và đang quyết định
chiều hướng phát triển của xã hội, là
nguyên tố quan trọng tạo nên thắng lợi
của cuộc đổi mới đất nước. Tính tích
cực năng động sáng tạo của các tầng
lớp nhân dân ngày càng rõ trên các lĩnh

cao tính chất đạo đức cách mạng và
mục tiêu của cuộc cách mạng trên lĩnh
vực tư tưởng cần đạt được là xây dựng
nền văn hóa mới và con người mới
XHCN. Để thực hiện hai nhiệm vụ trong
giai đoạn hiện nay là : nhiệm vụ trọng
tâm về tư tưởng là làm cho chủ nghĩa
Mác Lênin và tư tưởng HCM giữ vai trò
chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã
hội. Còn nhiệm vụ cấp bách về văn hóa
là xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc : “Hướng mọi hoạt
động văn hóa vào việc xây dựng con
người VN phát triển toàn diện về
chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức,
thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức
cộng đồng, lòng nhân ái khoan dung,
trọng tình nghĩa, lối sống có văn hóa,
quan hệ hài hòa trong giáo dục, cộng
đồng và xã hội” và nêu cao tinh thần
trách nhiệm của gia đình trong việc xây
dựng và bồi dưỡng các thành viên có lối
sống văn hóa làm cho gia đình thật sự
là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành
mạnh của xã hội. Đẩy mạnh phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa”; ngăn chặn việc phục
hồi các thủ tục, khắc phục tình trạng
mê tín đang có xu hướng lan rộng
trong xã hội “(VK 9 trang 114-116). Mặt

sức, tiền của bỏ vào sản xuất, chống tư
tưởng bình quân, ỷ lại, đãi ngộ xứng
đáng tài năng; một mặt Đảng và Nhà
nước phải chăm lo việc thực hiện phân
phối công bằng theo lao động, mở rộng
phúc lợi xã hội, đổi mới tốt chính sách
bảo hiểm xã hội, bảo vệ sức khỏe, nâng
cao thể lực cho nhân dân, bảo đảm nhu
cầu thuốc chữa bệnh. Thực hiện tốt
chính sách đền ơn đáp nghĩa, xóa đói
giảm nghèo, tạo phong trào đoàn kết
giúp đỡ trong nhân dân theo truyền
thống “lá lành đùm lá rách” tương thân
tương ái đùm bọc lẫn nhau. Đẩy mạnh
hơn nữa chống tham nhũng, bất công xã
hội nghiêm trọng hiện nay. Cải cách chế
độ tiền lương để người lao động hăng
hái làm việc đủ sống và nâng cao mức
sống, mức đóng góp cho xã hội.
Ngược lại chính việc giải quyết
tốt những vấn đề xã hội là điều kiện
quyết định để thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế. Chúng ta không thể sớm có ngay một
xã hội tốt đẹp trong khi kinh tế nước ta
còn kém phát triển, năng suất lao động
thấp, kinh tế kỹ thuật còn lạc hậu nhưng
ta phải kết hợp ngay từ đầu tăng trưởng
kinh tế với tiến bộ xã hội.
Tóm lại, vận dụng mối quan hệ
biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status