biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông quốc tuấn, thành phố hải phòng - Pdf 18

CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1. CĐ: Cao đẳng
2. CBQL: Cán bộ quản lý
3. CMHS: Cha mẹ học sinh
4. CNH-HĐH: Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
5. CSSX: Cơ sở sản xuất
6. CSVC: Cơ sở vật chất
7. ĐH: Đại học
8. GDHN: Giáo dục hướng nghiệp
9. GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo
10. GV: Giáo viên
11. HS: Học sinh
12. KT-XH: Kinh tế - Xã hội
13. LĐSX: Lao động sản xuất
14. QLGD: Quản lý giáo dục
15. QLGDHN: Quản lý giáo dục hướng nghiệp
16. TCCN: Trung cấp chuyên nghiệp
17. THCS: Trung học cơ sở
18. THPT: Trung học phổ thông
19. XH: Xã hội
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Thống kê chất lượng giáo dục của Trường THPT Quốc Tuấn
trong 5 năm học gần đây
Bảng 2.2. Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động GDHN
i
Bảng 2.3. Mức độ quan tâm của CBQL, GV với công tác GDHN
Bảng 2.4. Vai trò của gia đình trong GDHN
Bảng 2.5. Đánh giá mức độ hiểu biết của học sinh khi chọn nghề
Bảng 2.6. Mức độ sử dụng các nguồn thông tin cần biết về nghề
Bảng 2.7. GDHN thông qua dạy - học các môn văn hoá

ii
1.1.1. Vấn đề giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng
nghiệp ở một số nước trên thế giới 14
1.1.2. Ở Việt Nam 21
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 23
1.2.1. Quản lý giáo dục 23
1.2.2. Quản lí nhà trường 25
1.2.3. Hướng nghiệp 26
1.2.4. Giáo dục hướng nghiệp 27
1.2.5. Quản lý giáo dục hướng nghiệp 27
1.2.6. Biện pháp 28
1.3. Giáo dục hướng ngiệp trong trường trung học phổ thông 28
1.3.1. Vị trí của trường trung học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân.28
1.3.2. Ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông 29
1.3.3. Mục đích, chức năng, nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp trong trường
trung học phổ thông 31
1.3.4. Nôi dung của giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông.32
1.3.5. Các con đường giáo dục hường nghiệp trong trường trung học phổ
thông
33
1.4. Quản lý giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng trường trung học phổ
thông 36
1.4.1. Nội dung quản lý giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng trường trung
học phổ thông 36
1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục hướng nghiệp trong trường
trung học phổ thông 39
1.5.1. Đường lối của Đảng và Nhà nước về giáo dục hướng nghiệp 39
1.5.2. Yêu cầu đổi mới giáo dục trung học phổ thông 40
iii
1.5.3. Những yêu cầu của giáo dục hướng nghiệp trong giai đoạn hiện nay 40

2.4.2.Những tồn tại 66
2.4.3.Nguyên nhân của những tồn tại 66
Chương 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG QUỐC TUẤN 70
3.1. Nguyên tắc định hướng cho việc đề xuất các biện pháp 70
3.1.1. Nguyên tắc tính pháp chế 70
3.1.2. Nguyên tắc tính thực tiễn 71
3.1.3. Nguyên tắc tính kế thừa và phát triển 72
3.1.4. Nguyên tắc tính khả thi 72
3.2. Đề xuất biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp của trường Trung
học phổ thông Quốc Tuấn 73
3.2.1. Tổ chức các hoạt động truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức cho học
sinh, các lực lượng giáo dục về giáo dục hướng nghiệp 73
3.2.2. Nâng cao chất lượng xây dựng kế hoạch giáo dục hướng nghiệp 78
3.2.3.Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng tham gia giáo dục hướng nghiệp 80
3.2.4. Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên về công tác giáo
dục hướng nghiệp 83
3.2.5.Tổ chức hoạt động ngoại khóa về giáo dục hướng nghiệp và tư vấn hướng
nghiệp 86
3.2.6. Tạo động lực, khuyến khích thúc đẩy giáo viên thực hiện nhiệm vụ giáo
dục hướng nghiệp 90
3.2.7. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho giáo dục hướng nghiệp 92
v
3.2.8. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá giáo dục hướng nghiệp 94
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp 96
3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 97
3.4.1. Các bước khảo nghiệm 97
3.4.2. Kết quả khảo nghiệm 98
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105

và học xong trung học phổ thông phải vào được đại học hoặc cao đẳng, rất ít học sinh
có nguyện vọng học nghề. Nhiều trường dạy nghề có chất lượng cao, thị trường lao
động rất cần và trả lương cao nhưng vẫn thiếu học sinh học nghề. Chính điều này đã
dẫn đến tình trạng mất cân đối trong cơ cấu trình độ nguồn nhân lực đã đào tạo và cơ
cấu ngành nghề đào tạo ở nước ta. Những ngành nghề có nhu cầu phát triển thì chỉ có ít
sinh viên theo học. Trong khi đó, rất đông học sinh theo học các ngành có nhu cầu về
1
nhân lực qua đào tạo thấp, nên sau khi tốt nghiệp đại học, nhiều em không xin được
việc làm hoặc làm những công việc trái với ngành nghề được đào tạo, gây lãng phí lớn
cho gia đình và xã hội. Như vậy, mục tiêu hướng nghiệp của giáo dục phổ thông hầu
như chưa đạt được. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do nội
dung công tác giáo dục hướng nghiệp chưa được thực hiện đầy đủ; các trường phổ
thông thiếu các điều kiện cần thiết cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp đặc biệt là
điều kiện giáo viên. Cho đến nay, nước ta vẫn chưa có cơ sở giáo dục đào tạo nào làm
nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng giáo viên chuyên trách hướng nghiệp. Giáo viên làm công
tác giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học phổ thông đều là giáo viên kiêm
nhiệm …
Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông là một
trong những nội dung của quản lý các hoạt động sư phạm. Quản lý hoạt động giáo dục
hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông bao gồm quản lý tốt việc thực hiện chương
trình giáo dục hướng nghiệp, phát huy hiệu quả các trang thiết bị phục vụ giảng dạy,
đầu tư đúng mức cho cơ sở hạ tầng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo đúng yêu cầu
của giáo dục hướng nghiệp, phối hợp tốt các lực lượng tham gia công tác giáo dục
hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông. Quản lý tốt hoạt động giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh là góp phần vào việc giáo dục và đào tạo con người hoàn thiện về
phẩm chất đạo đức, có năng lực, đủ trình độ kiến thức cống hiến cho sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, việc quản lý công tác này ở các trường
trung học phổ thông chưa thật sự đạt hiệu quả, phần lớn các trường chỉ giao khoán cho
giáo viên chủ nhiệm, các nhà quản lý trường học chưa thật sự quan tâm đến việc tổ

Đề tài tập trung vào nghiên cứu vấn đề cơ bản sau: Biện pháp quản lý hoạt
động giáo dục hướng nghiệp ở trường Trung học phổ thông Quốc Tuấn – Thành phố
Hải Phòng.
6. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường
trung học phổ thông Quốc Tuấn – thành phố Hải Phòng đã đạt được một số thành tựu
như chương trình giáo dục hướng nghiệp học sinh phổ thông đã được chính thức đưa
vào giảng dạy chính khoá, kế hoạch giáo dục hướng nghiệp khá chu đáo, phương pháp
thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp có nhiều tiến bộ… Tuy nhiên, vẫn còn
những tồn tại trong quá trình quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp về xây dựng kế
hoạch thực hiện chương trình, tổ chức chỉ đạo, kiểm tra đánh giá, …
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
3
Khảo sát và sử dụng các số liệu từ các năm 2007 trở lại đây.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận:
Tổng kết thực tiễn công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học
sinh trường Trung học phổ thông Quốc Tuấn – Thành phố Hải Phòng, chỉ ra những bài
học thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng các biện pháp
quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh.
- Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho các trường Trung học phổ thông
khác trong cả nước về việc quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh. Nó
còn có giá trị tham khảo cho các nhà quản lý giáo dục.
9. Các phương pháp nghiên cứu
9.1. Phương pháp luận
9.1.1. Quan điểm hệ thống – cấu trúc
Vấn đề được nghiên cứu một cách toàn diện, khách quan: Quản lý hoạt động
giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông Quốc Tuấn – thành phố Hải
Phòng phải được xem xét trong mối quan hệ với các hoạt động khác trong nhà trường

sinh ở các lớp của trường trung học phổ thông Quốc Tuấn nhằm khảo sát thực trạng
quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông Quốc Tuấn –
thành phố Hải Phòng.
- Phương pháp phỏng vấn
Người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn hoặc trao đổi với các cán bộ quản lý,
giáo viên về công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ
thông Quốc Tuấn – thành phố Hải Phòng.
- Phương pháp chuyên gia
Tác giả trao đổi, lấy ý kiến chuyên gia về quản lý hoạt động giáo dục hướng
nghiệp ở các trường trung học phổ thông.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu các kế hoạch hoạt động giáo dục hướng nghiệp, kế hoạch bài dạy
giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông Quốc Tuấn nhằm thu thập thông
tin về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp.
9.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học và phần mềm SPSS FOR WINDOW
phiên bản 16.0 để xử lý các số liệu thu được trong quá trình khảo sát.
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
dự kiến được trình bày theo 3 chương:
5
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các
trường Trung học phổ thông
Chương 2: Thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường Trung học
phổ thông Quốc Tuấn – Thành phố Hải Phòng
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường Trung
học phổ thông Quốc Tuấn
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

giữ lại nội dung chương trình giáo dục lao động và hướng nghiệp tại nhà trường phổ
7
thông, trong đó tăng cường phân hóa giáo dục lao động cũng như giáo dục kỹ thuật
tổng hợp tại bậc trung học phổ thông. Từ năm 1994 – 1995, Bộ Giáo dục Liên bang
Nga chủ trương tiến hành thí nghiệm dạy học rộng rãi, cuốn chiếu chương trình Công
nghệ học thay cho chương trình dạy học lao động và kỹ thuật áp dụng từ thời Xô Viết
và tổ chức soạn thảo tài liệu về phương pháp dạy học công nghệ trên quan điểm tăng
cường định hướng phát triển kỹ thuật tổng hợp, công nghệ và tin học với các môn học
phổ thông. Các nhà giáo dục Liên bang Nga cho rằng, trong các tiêu chí đánh giá chất
lượng học sinh thì “Sự thành đạt nắm vững nghề đã chọn là giá trị cao nhất”.
1.1.1.2. Xu thế cải cách các trường học ở Châu Âu cuối thế kỷ XX gắn với
hướng nghiệp và đào tạo nghề
Vào những năm 70 – 80 của thế kỷ trước, các nước Châu Âu lần lượt tiến hành
cải cách giáo dục từ cấu trúc, tổ chức đến nội dung, phương pháp giáo dục và giảng
dạy, đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội công nghiệp dựa vào sự tiến bộ vượt bậc
của khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, kinh tế để đạt tới một số chuẩn
mực chung về trình độ giáo dục phổ thông và giáo dục nghề. Ở đây, tôi điểm qua một
số cải cách nhà trường gắn với vấn đề giáo dục, nghề và hướng nghiệp tại trường phổ
thông.
* Nhà trường Pháp và vấn đề giáo dục lao động, nghề nghiệp
Năm 1975, nước Pháp đã tiến hành cải cách giáo dục để hiện đại hóa giáo dục
nhằm vào các hướng: tăng cường giáo dục tự nhiên và toán học, trong đó tăng kiến
thức thực hành đối với khoa học tự nhiên, đưa giáo dục kỹ thuật vào để đảm bảo sự
liên hệ giữa trường học và đời sống, đồng thời vẫn giữ vững ý nghĩa của các môn xã
hội và nhân văn. Cải cách giáo dục Pháp đặc biệt chú trọng tới giảng dạy lao động và
nghề nghiệp cho học sinh khắc phục khuynh hướng và quan niệm coi giáo dục lao
động là một hoạt động giáo dục lao động loại hai (tức là đứng sau các môn khoa học).
Để phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh, nhà trường Pháp đặt giáo dục lao động,
thủ công và nghề nghiệp bình đẳng với các loại hình hoạt động khác của nhà trường,
đào tạo “tiền nghề nghiệp” là cơ sở của việc học tập liên tục về sau và chuẩn bị cho học

cơ sở đào tạo nghề trung cấp. Sự phân loại sơ bộ được tiến hành từ khi học hết tiểu học
nhưng phải phúc tra và đưa ra quyết định chính xác sau lớp 9. Tới lớp 10, ngay từ học
kỳ 1, giáo viên chủ nhiệm liên hệ với nhiều cơ sở hướng nghiệp, những trường dạy
nghề của các công ty tư nhân và Nhà nước để bố trí học sinh đến đó tìm hiểu nghề
mình muốn học, chế độ được hưởng khi học như trợ cấp bao gồm tiền ăn, tiền ở, đảm
bảo nhu cầu tối thiểu theo mức sống ở Đức. Những học sinh có nhu cầu hay năng lực
học lên đại học buộc phải có học lực khá và từ lớp 11 được học trường phổ thông hệ
học lên đại học. Nhà nước không để thanh niên dù là người thuộc quốc tịch nước ngoài
đang cư trú hợp pháp trên nước Đức bị thất học phổ thông và mù nghề. Học sinh được
9
học miễn phí trong tất cả các bậc học: tại nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường tiểu học đều tổ
chức căn tin và Nhà nước bù lỗ đối với việc ăn uống của trẻ. Xu hướng hiện đại hóa ở
đây là tạo điều kiện cho học sinh có thể học nghề ngay khi đang học phổ thông, cung
cấp hệ thống và kiến thức khoa học gắn với hướng đào tạo nghề một cách linh hoạt,
giảm bớt tính hàn lâm của bậc trung học hoàn chỉnh.
* Nhà trường Ba Lan bước vào thế kỷ XXI
Trong báo cáo về chiến lược hiện đại hóa “con đường tới năm 2010”, “Ba Lan
trong thế kỷ XXI” của Chủ tịch đoàn Viện Hàn lâm Ba Lan có đoạn viết: “Ưu tiên cao
nhất cho 15 năm tới là sử dụng tiềm lực trí tuệ Ba Lan và nguồn nhân lực để rút ngắn
và hiện đại hóa quá trình xã hội – kinh tế. Chúng ta theo đuổi chiến lược đưa giáo dục
trong năm 2010 đạt được những tiêu chuẩn giáo dục Châu Âu”. Nhà nước Ba Lan chủ
trương chế độ giáo dục bắt buộc 9 năm, gồm giáo dục tích hợp lớp 1 – 3, giáo dục theo
khối 4 đến 6 và tiếp tục là hệ thống giáo dục 3 năm phân hóa (từ 1/9/2001 tăng lên 4
năm) theo hai hướng: hàn lâm và nghề nghiệp hướng vào lĩnh vực xã hội – kinh tế, văn
hóa – nghệ thuật nhằm đào tạo nghề phân hóa rộng. Báo cáo xác định một số nguyên
tắc chỉ đạo cải cách giáo dục gồm:
- Nguyên tắc phân nhánh rộng thay cho hướng phân hóa hẹp trước đây, vì phân hóa
rộng đảm bảo thay đổi nhanh chóng trình độ lành nghề cho người lao động và đào tạo
cán bộ
- Nguyên tắc phát triển mọi mặt trí tuệ, tâm lý, nghề nghiệp – xã hội, thể chất của học

- Học về thế giới nghề nghiệp
- Học về lập kế hoạch và ra quyết định hướng nghiệp, lập nghiệp
- Phát triển khả năng triển khai các quyết định về hướng nghiệp và tiến hành thay đổi
công việc.
Học sinh phải đối mặt với nhiều sự dịch chuyển trong suốt thời gian học ở
trường, kể cả dịch chuyển từ năm học này sang năm học khác, từ trường này sang
trường khác, từ môn học này sang môn học khác, từ thầy này sang thầy khác… Họ
phải có kỹ năng quản lý những dịch chuyển này, vì những kỹ năng này có thể áp dụng
cho những dịch chuyển sau nhà trường.
1.1.1.4. Chuẩn bị nguồn nhân lực và tinh thần hướng nghiệp ở nhà trường của
Nhật Bản
Năm 1988, Nhật Bản công bố “sách trắng” và đã khẳng định: Nhật Bản đang
đối mặt với mục tiêu cơ bản của cải cách giáo dục thế kỷ XXI, thực hiện một “xã hội
học tập suốt đời”. Hạ Nghị viện Nhật Bản thông qua ngày 01/07/1990 Đạo luật gọi là
“Luật về duy trì hệ thống khuyến khích học tập suốt đời”. Nếu mục tiêu của cải cách
giáo dục Nhật Bản ở giai đoạn sau chiến tranh thế giới lần thứ II là hướng tới tạo
nguồn nhân lực phục vụ cho tăng trưởng kinh tế, thì mục tiêu cải cách giáo dục hiện
11
nay là sự phát triển của chính học sinh, giúp các em tự phát triển ngay từ nhỏ cho đến
khi trưởng thành. Sự kết hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trở thành một
nguyên tắc cơ bản, trong đó vai trò chính của nhà trường phổ thông là phải tạo động cơ
học tập cho học sinh, dạy cho các em cách học, phát triển khả năng tự học. Trên cơ sở
đó, vai trò của từng cấp học thay đổi nhằm thích ứng với yêu cầu phát triển này.
Chương trình cải cách giáo dục được xây dựng trên cơ sở hai luận điểm quan trọng đó
là tăng cường tính linh hoạt và đa dạng trong đánh giá hệ thống giáo dục; thực hiện
chương trình cải cách giáo dục không chỉ đóng khung trong phạm vi nhà trường, trong
hệ thống giáo dục mà còn mở rộng tầm nhìn ra phạm vi toàn xã hội theo quan điểm mở
cửa, giao lưu, hội nhập quốc tế. Nội dung chương trình học gồm các môn học: Quốc
ngữ, Địa lý, Lịch sử, Giáo dục công dân, Toán, Khoa học, Nghịên cứu môi trường, Âm
nhạc, Vẽ, Thủ công, Đồ họa, Kinh tế gia đình, Giáo dục sức khỏe và thể chất, Ngoại

nhận những khả năng đã tiếp thu được, cấp giấy chứng nhận đã theo học các chương
trình không chính quy và công nhận những mối liên hệ liên thông giữa các loại hình
giáo dục khác nhau.
Tóm lại, với nguyên tắc giáo dục thường xuyên, giáo dục trung học có thể gắn
với phạm vi học suốt đời theo ba nguyên tắc cơ bản: đa dạng hóa các khóa học; phát
triển xen kẽ giữa chương trình học và hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội và nghiên
cứu cải tiến chất lượng. Trong khi giáo dục cơ sở phải đáp ứng nhu cầu học tập thông
thường của dân cư, thì giáo dục trung học có nhiệm vụ làm cho tất cả tài năng của học
sinh bộc lộ và nở rộ. Nói cách khác, cần phải quan tâm hơn nữa đến chất lượng và đến
việc chuẩn bị cho cuộc sống trong một thế giới biến động nhanh, thường là những thay
đổi về công nghệ.
Ngày nay, các môn học về lý thuyết về cơ bản thường phục vụ cho việc chuẩn
bị cho học sinh vào đại học mà bỏ rơi những người không được học tiếp, không được
trang bị những gì cần thiết cho lao động và cuộc sống. Việc đa dạng hóa cơ cấu khóa
học và chú ý hơn không chỉ nội dung mà cả việc chuẩn bị cho cuộc sống lao động là
một trong những mục tiêu của mọi cuộc cải cách. Dạy kỹ thuật và đào tạo nghề nhằm
đào tạo ra những kỹ thuật viên trung cấp, thợ lành nghề. Ở các nước đang phát triển,
điều này mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng và cần được phát triển.
Giáo dục trung học là giai đoạn mà thế hệ trẻ lựa chọn cho mình con đường
bước vào cuộc sống lao động thật sự. Hướng nghiệp tạo điều kiện cho học sinh lựa
chọn một trong nhiều con đường khác nhau. Các hệ thống giáo dục cần phải được thiết
kế dù linh hoạt để tính đến sự khác biệt cá nhân trong việc tổ chức các mô hình học
tập, tạo cầu nối cho những người bị gián đoạn học tập có thể trở lại học theo hình thức
chính quy. Việc lựa chọn con đường riêng biệt của giáo dục nghề hay giáo dục phổ
13
thông cần phải dựa trên những đánh giá thận trọng về điểm mạnh và điểm yếu của học
sinh. Nói cách khác, hướng nghiệp đòi hỏi sự đánh giá dựa trên việc kết hợp những
tiêu chí về giáo dục và dự báo về nhân cách tương lai. Nhà trường phải có khả năng vẽ
lên một bức tranh rõ nét nhất về khả năng của mỗi học sinh. Vì vậy, cần phải có những
nhà tư vấn hướng nghiệp chuyên môn để giúp học sinh lựa chọn khóa học thích hợp

2002, Bộ GD&ĐT đã cho xây dựng lại chương trình GDHN và viết sách về GDHN
cho HS phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12.
Năm 2002, tại Hà Nội đã tổ chức hội thảo: “Giáo dục phổ thông và Hướng
nghiệp - Nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước” [29]. Có 20 báo cáo, tham luận khoa học tại hội thảo. Các bài tham luận thực
sự là những nghiên cứu, tìm tòi, đúc rút, tổng kết có giá trị về lí luận và thực tiễn của
giáo dục phổ thông và hướng nghiệp. Đồng thời cũng chỉ ra các giải pháp nhằm làm
cho GDHN và giáo dục phổ thông phục vụ tốt cho việc chuẩn bị nguồn nhân lực trong
thời kì CNH-HĐH và hội nhập quốc tế.
Ngày 23/7/2003, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT có chỉ thị số 33/2003/CT-BGD&ĐT
“Về việc tăng cường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông” và tiếp theo đó
trong phương hướng nhiệm vụ từng năm học, GDHN được quan tâm chỉ đạo. Quyết
định số 16/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 05/6/2006 cũng đề cập về việc ban hành chương
trình giáo dục phổ thông và trong đó có chương trình chuẩn của hoạt động GDHN.
Như vậy, GDHN lại được chính thức có trong kế hoạch giáo dục ở bậc THCS, THPT
và được triển khai đại trà ở lớp 9 và lớp 10 trong cả nước kể từ năm học 2006- 2007.
Ngày 11/1/2005, Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Viện
nghiên cứu Quốc gia về lao động và hướng nghiệp - Cộng hoà Pháp đã tổ chức Hội
thảo khoa học quốc tế về GDHN với chủ đề: “Đối thoại Pháp -Á về các vấn đề và
hướng đi cho giáo dục hướng nghiệp tại Việt Nam”. Trong hội thảo, nhiều tham luận
của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã trình bày sâu các nội dung, hướng đi cần
thiết để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ GDHN của nước nhà.
Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu như Đặng Danh Ánh, Phạm
Tất Dong, Quang Dương, Nguyễn Văn Hộ, đã đề cập đến nhiều khía cạnh trong
công tác QLGDHN cho học sinh THPT.
Một số công trình nghiên cứu về công tác GDHN ở cấp Bộ như: Đề tài cấp Bộ
năm 2005: “Những giải pháp triển khai thực hiện tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho
học sinh trung học phổ thông khu vực miền núi Đông Bắc Việt Nam trong thời kì công
nghiệp hoá - hiện đại hoá” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền thuộc Đại học sư
phạm Thái Nguyên. Đề tài nghiên cứu cấp Bộ năm 2009: “Tham vấn hướng nghiệp

có hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô.
Ở cấp vĩ mô
QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế
hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các móc xích của hệ
thống (từ cấp độ cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất
16
lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà XH đã đặt ra cho
ngành giáo dục.
QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên
hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm
năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong
điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến động.
Cũng có thể định nghĩa QLGD là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm
huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, một cách có hiệu quả nguồn lực
giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực, thông tin, thời gian) phục vụ cho mục tiêu phát
triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH.
Ở cấp độ vi mô
QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có
kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể GV, công nhân
viên, tập thể HS, CMHS và các lực lượng XH trong và ngoài nhà trường nhằm thực
hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều
hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thể hệ trẻ theo yêu cầu
phát triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công
tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người. Cho nên, quản lý giáo
dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân”. [4,31].
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ
thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh,
với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện
nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường”. [30,38].

giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực của giáo dục để nâng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”. [40,205].
Quản lý nhà trường là quản lý một thiết chế của hệ thống giáo dục quốc dân, do
đó quản lý nhà trường có liên quan hữu cơ với QLGD. QLGD gồm hai cấp độ là quản
lý cấp vĩ mô và quản lý cấp vi mô. Quản lý cấp vĩ mô là quản lý hệ thống giáo dục
quốc dân trong các cấp từ Trung ương đến địa phương, còn quản lý vi mô là quản lý
hoạt động giáo dục của nhà trường. Do đó quản lý nhà trường còn có nghĩa là tổ chức
các lực lượng trong và ngoài nhà trường biến các quan điểm, đường lối, chủ trương,
chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước thành hiện thực.
Như vậy, Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong
phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để
tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, đối với thế hệ trẻ
và đối với từng học sinh.
18
1.2.3. Hướng nghiệp
Tuỳ thuộc vào đặc trưng cho mỗi lĩnh vực khoa học mà khi xem xét hoạt động
hướng nghiệp có những quan điểm khác nhau về khái niệm này.
Các nhà tâm lý học cho rằng, hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp sư phạm,
y học giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của XH và năng lực của bản
thân.
Theo các nhà Khoa học lao động, hướng nghiệp là hình thức giám định lao động
có tính chất chuẩn đoàn, đó là quá trình xác lập sự phù hợp của từng con người cụ thể
trên cơ sở xác định sự tương thích giữa những đặc điểm tâm - sinh lý của người học
với những yêu cầu của một nghề nào đó đối với người lao động.
Theo các nhà giáo dục học, hướng nghiệp như một hệ thống tác động giúp thế
hệ trẻ có cơ sở khoa học trong việc chọn nghề phù hợp với những yêu cầu của sự phân
công lao động XH, có tính đến hứng thú và năng lực của từng cá nhân.
Về phương diện kinh tế học, hướng nghiệp được hiểu là những mối quan hệ
kinh tế giúp cho mỗi thành viên xã hội phát triển năng lực lao động và đưa họ vào một
lĩnh vực hoạt động cụ thể phù hợp với sự phân bổ lực lượng lao động xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status