Nghiên cứu đánh giá đa dạng khu hệ cá và đề xuất các giải pháp bảo vệ nguồn lợi cá tại các thủy vực ở 2 xã Ba Nam và Ba Xa, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi - Pdf 18

1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
HOÀNG ANH TUẤN NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG KHU HỆ CÁ VÀ ĐỀ XUẤT
CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ NGUỒN LỢI CÁ TẠI CÁC THỦY VỰC Ở 2
XÃ BA NAM VÀ BA XA, HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC HÀ NỘI, NĂM 2013
2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ MỞ ĐẦU

hiểm trở nhƣ dãy Ngọc Linh của tỉnh Kon Tum, núi Cao Muôn Ba Tơ cũng
là huyện có nhiều sông lớn nhƣ: sông Reh, Sông Liên, sông Vực Liêm là
thƣợng nguồn của các con sông lớn của tỉnh Quảng Ngãi. Chính sự phân hóa
phức tạp về địa hình ở đây đã tạo nên sự đa dạng cả về thành phần loài sinh
vật và sinh cảnh sống, đặc biệt là các loài cá suối sinh sống trên nhiều loại
hình thủy vực khác nhau [69].
Cho đến nay, Ba Tơ vẫn vẫn chƣa có nhiều nghiên cứu về sự đa dạng
thành phần loài cá. Nhằm xây dựng danh lục thành phần các loài cá mới nhất,
từ đó phát hiện các loài cá có giá trị kinh tế cao và các loài cá quý hiếm, góp
phần đề ra các biện pháp bảo vệ, khai thác nguồn lợi cá một cách hợp lý, đề
tài: “Nghiên cứu khu hệ cá và đề xuất các giải pháp bảo vệ nguồn lợi cá tại
các thủy vực ở 2 xã Ba Nam và Ba Xa, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi” đã
đƣợc thực hiện với các mục tiêu và nội dung nghiên cứu sau:
Mục tiêu nghiên cứu:
+ Lập đƣợc danh lục mới nhất về thành phần loài cá tại 2 xã Ba Nam và Ba
Xa, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. Đánh giá sự đa dạng về thành phần loài
cá tại khu vực.
+ Xác định các loài cá có giá trị kinh tế, các loài cá quý hiếm, đặc hữu cần
đƣợc bảo tồn và duy trì nguồn lợi.
+ Phân tích, đánh giá hiện trạng khai thác và quản lý các loài cá nhằm đề xuất
các giải pháp bảo tồn, sử dụng hợp lý và phát triển bền vững nguồn lợi cá tại
khu vực nghiên cứu.
Nội dung nghiên cứu:
4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ + Điều tra, khảo sát thu thập mẫu cá nhằm xác định thành phần loài cá tại khu
vực nghiên cứu.
+ Điều tra, nghiên cứu xác định các loài cá có giá trị kinh tế, các loài cá quý

Trịnh và cộng sự, 1996) [1].
Hiện nay, sau một thời gian dài thu thập và phân loại mẫu vật của các
loài cá trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, các nhà khoa học đã thống kê đƣợc
1027 loài và phân loài cá nằm trong 22 bộ, 97 họ và 427 giống. Trong đó có
322 loài cá có nguồn gốc biển và cửa sông di cƣ vào nƣớc ngọt (theo Nguyễn
Văn Hảo, 2005) [16]. Nhƣ vậy, trong vòng 10 năm số loài và phân loài cá
nƣớc ngọt Việt Nam đã tăng gần gấp đôi (Hình 1.1).

6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 1.1.2. Nguồn gốc khu hệ và đặc trƣng về phân bố địa lý của khu hệ
Theo Nguyễn Văn Hảo (2005) [16], khu hệ cá nƣớc ngọt Việt Nam bao
gồm khu Cao Lạng với 104 loài (chiếm 10,13%), khu Việt Bắc với 226 loài
(chiếm 22,01%), khu Tây Bắc với 192 loài (chiếm 18,7%), khu Bắc Trung Bộ
372 loài (chiếm 36,22%), khu Đồng Bằng Bắc Bộ 316 loài (chiếm 30,77%),
khu Tây Nguyên 189 loài (chiếm 18,4%), khu Đông Nam Bộ với 277 loài
(chiếm 26,97%), khu Đồng Bằng Sông Cửu Long với 388 loài (chiếm
37,78%), khu Nam Trung Bộ với 251 loài (chiếm 24,44%), khu Điện Biên
Phủ với 110 loài (chiếm 10,71%). Trong 10 khu hệ cá nƣớc ngọt tại Việt Nam

tiếng với công trình nghiên cứu nhƣ: P. Artedi (Thuỵ Điển), 1705 - 1734 với
5 cuốn sách nổi tiếng: Bibliotheca ichthylogica, Philosophia ichthyologica,
Genera piscium, Species piscium, Synonymia piscium; C. Linnaeus (Thụy
Điển), 1707-1778 - Systema nature (1735) đã đề ra cách gọi tên cá 2 chữ và
đã giới thiệu 2600 loài; G. Cuvier và A. Valenciennes - Historie Naturelle
des Poissons gồm 21 tập xuất bản trong 20 năm (1828-1848); P. Bleeker
(Hà Lan), 1819-1878 - Atlas Ichthyologiques Indes Orientales of the
Neserlandaises gồm 9 tập; A. Giinther (Đức), 1830-1914 - catalogue of the
Fishes of British Museum gồm 8 tập; Richardson (1844-1845); Bovelli
(1608-1679)
- Thời kỳ thứ ba (Từ đầu thế kỷ XX đến nay): Những nghiên cứu về Ngƣ
loại học tăng lên rất nhanh và toàn diện, trong đó phân loại cá, sinh lý sinh
thái cá đóng vai trò là bƣớc tiên phong để phát triển bền vững nghề cá.
8
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ Thời kỳ này có các nhà khoa học nổi tiếng nhƣ:
D. S. Jordan (1854-1931) đã giới thiệu các loài cá ở Nam Mỹ và Trung Mỹ;
G. A. Boulenger (1851) với 15 tập sách giới thiệu các loài cá ở bảo tàng Anh;
L.S. Berg (1876-1950) ngƣời Liên Xô, đã giới thiệu hệ thống Ngƣ loại; M.
Weber và L.F.de Beaufort (Hà Lan) đã công bố 10 tập sách về các loài cá ở
vùng quần đảo Châu Úc (1911-1953); K. Matsubara (Nhật) đã viết cuốn sách
Hình thái và bảng tra các loài cá; F. Day đã viết về các loài cá Ấn Độ và
rất nhiều nhà Ngƣ loại khác của Liên Xô và các nƣớc xã hội chủ nghĩa khác
đã góp phần thúc đẩy nền Ngƣ loại học phát triển.
Phần nửa những năm sau của thập kỷ XX cùng với sự phát triển mạnh mẽ
của nền khoa học công nghệ, Ngƣ loại học cũng đƣợc chú ý phát triển hơn.
Theo thống kê của Nelson, 1984 hiện trên thế giới có khoảng 29.000 loài cá
sống ở các thủy vực; R. Frose và D. Pauly, 1995 - Fishbase a Biological

khá sớm bởi các nhà khoa học nƣớc ngoài, trong đó công trình nghiên cứu
đầu tiên là của H.E. Sauvage (1881): “Nghiên cứu về khu hệ cá Á Châu và
mô tả một số loài mới ở Đông Dƣơng” trong công trình này tác giả đã thống
kê 139 loài cá chung cho toàn Đông Dƣơng và mô tả 2 loài mới ở miền Bắc
Việt Nam [37].
G.Tirant (1883) đã mô tả 70 loài cá nƣớc ngọt ở sông Hƣơng (Thừa
Thiên Huế) trong đó có 3 loài mới. Những năm tiếp theo, có nhiều công bố về
thành phần loài cá ở các thủy vực khác nhau hoặc mô tả loài mới của nhiều
tác giả nhƣ: H.E. Sauvage (1884) thu thập 10 loài ở Hà Nội trong đó có 7 loài
mới; L.Vaillant (1891-1904) thu thập 6 loài, mô tả 4 loài mới ở Lai Châu
(1891), 1 loài mới ở sông Kỳ Cùng (Lạng Sơn).
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ Với công trình nghiên cứu khá tổng quát về cá nƣớc ngọt miền Bắc
Việt Nam “Góp phần nghiên cứu các loài cá nƣớc ngọt miền Bắc Việt Nam”,
P.Chevey & J. Lemasson (1937) đã giới thiệu 98 loài thuộc 17 họ cá ở miền
Bắc Việt Nam.
Thời kỳ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20 (1945) do hầu hết các nghiên
cứu cá nƣớc ngọt đều do ngƣời Pháp tiến hành nên các mẫu chuẩn hầu hết lƣu
giữ tại các Bảo tàng tự nhiên Paris. Các nghiên cứu trong thời kỳ này mới chỉ
dừng lại ở mức mô tả thống kê thành phần loài [37].
1.2.2.2. Giai đoạn sau năm 1954
Thời kỳ này công tác nghiên cứu phân loại cá chủ yếu do các nhà khoa
học Việt Nam tiến hành. Có thể chia thời kỳ này thành 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (Từ năm 1955-1975): Thời kỳ này ở miền Bắc các nhà khoa học
Việt Nam đã điều tra ở nhiều vùng sinh thái khác nhau nhƣ: Tây Bắc, Đông
Bắc và khu Bốn cũ ở nhiều loại hình thủy vực sông, suối, ao, hồ, đầm,
ruộng…Điển hình có các tác giả và các công trình đã nghiên cứu nhƣ: Đào

(2001) đã nghiên cứu khu hệ cá Sông Đà thuộc 2 tỉnh Lai Châu và Sơn La
gồm 174 loài; Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực (1991) công bố thành phần
loài cá sông Thu Bồn (85 loài), Trà Khúc (47 loài), sông Vệ (34 loài), sông
Côn (43 loài), sông Ba (48 loài), sông Cái (25 loài); Nguyễn Thái Tự (1983)
với khu hệ cá sông Lam (157 loài); Nguyễn Thái Tự (1986), Đặc điểm khu hệ
cá Nghệ Tĩnh; Nguyễn Thái Tự (1992) Khu hệ cá Vũ Quang; Mai Đình Yên,
Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến và Hứa Bạch Loan
(1992) đã nghiên cứu về thành phần loài các sông: Tiền, Hậu, Vàm Cỏ, Sài
Gòn và sông Đồng Nai (255 loài); Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Dực
(1994) đã xác định đƣợc thành phần loài ở một số sông suối của Tây Nguyên
12
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ (82loài); Võ Văn Phú (1995) Thành phần loài cá ở các đầm phá Thừa Thiên
Huế (163 loài); Nghiên cứu về đặc trƣng phân bố và đặc điểm địa động vật
học của cá nƣớc ngọt Việt Nam, có các tác giả: Võ Quý (1966); Mai Đình
Yên (1973, 1985, 1988); Nguyễn Thái Tự (1983, 2000, 2003); Kottelat (1989),
Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực (1991) [37]
Năm 1998, Hội nghị khoa học toàn quốc về nuôi trồng thủy sản tổ chức
tại Viện NCNT Thủy sản I đã có nhiều báo cáo có giá trị trong nghiên cứu
ứng dụng nhƣ: Mai Đình Yên “Hiện trạng nguồn lợi thủy sản nƣớc ngọt và đề
xuất chƣơng trình bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi này”; Trần Thanh
Xuân “Bảo vệ và phát triển nguồn lợi cá nƣớc ngọt ở đồng bằng sông Cửu
Long”; Nguyễn Thị Thu Hè “Dẫn liệu bƣớc đầu về thành phần loài cá tự
nhiên ở sông suối Đăk Lắc và một vài ý kiến bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong
vùng”[18]…. Về đặc trƣng phân bố và đặc điểm địa động vật của cá nƣớc
ngọt Việt Nam có nghiên cứu của các tác giả nhƣ: Mai Đình Yên (1973),
Nguyễn Thái Tự (1983), Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực (1991), Nguyễn
Văn Hảo (1993,1998), Nguyễn Hữu Dực (1995) [34, 37].

1.2.3. Lịch sử nghiên cứu cá nƣớc ngọt tại tỉnh Quảng Ngãi và khu vực
nghiên cứu
Các nghiên cứu về khu hệ cá 2 con sông lớn là sông Vệ và sông Trà
Khúc của tỉnh Quảng Ngãi đã đƣợc tiến hành từ khá sớm bởi các nhà khoa
học trong và ngoài nƣớc. Điển hình là các công trình nghiên cứu: Nguyễn
Hữu Dực (1995) “Góp phần nghiên cứu khu hệ cá nƣớc ngọt Nam Trung bộ
Việt Nam” luận án Tiến sĩ khoa học trƣờng Đại học Sƣ phạm I [8];Võ Văn
Phú, Nguyễn Hoàng Diệu Minh, Hoàng Đình Trung (2011) “Dẫn liệu bƣớc
14
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ đầu về thành phần loài cá ở vùng rừng Cà Đam, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng
Ngãi" [26];
Võ Văn Phú, Nguyễn Hoàng Diệu Minh, Hoàng Đình Trung (2012),
“Dẫn liệu bƣớc đầu về thành phần loài cá ở vùng rừng Cao Muôn, huyện Ba
Tơ, tỉnh Quảng Ngãi” [27].
Ngoài ra cũng có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học
nƣớc ngoài tiến hành tại khu hệ miền Trung trong đó có Quảng Ngãi. Điển
hình là:
T. R. Roberts (1997) với công trình nghiên cứu “Systematics revision
of the Balitorid loach genus Sewellia of Vietnam and Laos, with diagnoses of
four new species” tác giả đã công bố 4 loài mới thuộc giống cá Đép (Sewellia)
trong đó có 1 loài (Sewellia pterolineata) thuộc sông Trà Khúc của tỉnh
Quảng Ngãi [62] .
Năm 2001, bằng công trình “Nemacheiline loaches from central
Vietnam with descriptions a new genus and 14 new species (Cypriniformes:
Balitoridae)” các tác giả J.D.Freyhof, D.V.Serov đã công bố 14 loài mới và 1
giống mới trong đó có ghi nhận 1 loài mới thuộc tỉnh Quảng Ngãi [48].
Năm 2006, D.V.Serov, V.K.Nezdoliy và D.S.Pavlov bằng công trình

với đồng bằng sông Cửu Long do mang tính chất nhiệt đới rõ rệt nên nguồn
lợi thủy sản tại đây đƣợc đánh giá là rất đa dạng về thành phần loài cũng nhƣ
có tiềm năng cao về sản lƣợng. Nhiều loài cá có giá trị kinh tế cao đã đƣợc
nhân nuôi và xuất khẩu nhƣ: cá Tra, cá Ba Sa…Sản lƣợng cá nội địa ở đồng
bằng sông Cửu Long biến động hàng năm từ 112.650 – 176.156 tấn (trung
16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ bình 146.991 tấn) trong thời gian từ năm 1981 đến năm 1988 chiếm từ
36,79% – 43,87% (trung bình 40,41%) sản lƣợng cá của vùng [1].
Hiện nay nghề nuôi cá lồng bè trên sông, hồ đang phát triển mạnh,
mang lại nguồn thu không nhỏ cho ngƣ dân. Tuy nhiên, nghề khai thác thủy
sản vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, việc nuôi cá tràn lan của ngƣời dân chƣa
đƣợc kiểm soát, nhiều loài cá nhập nội có nguy cơ xâm hại đã phát triển mạnh
ngoài tự nhiên, tác động tiêu cực đến môi trƣờng, sinh thái nhƣ: cá Vƣợc Nam
Mỹ, cá Bống Tƣợng,
1.3.2. Những thách thức đối với nguồn lợi cá nƣớc ngọt Việt Nam
Hiện nay, nguồn lợi cá nƣớc ngọt ở nƣớc ta đang phải đối mặt với
nhiều thách thức lớn:
- Việc ngƣời dân khai thác quá mức bằng các phƣơng tiện mang tính hủy diệt
nhƣ: kích điện, nổ mìn, hóa chất đã ngày càng làm suy kiệt và ảnh hƣởng
nghiêm trọng tới môi trƣờng, sinh thái cũng nhƣ nguồn lợi cá nƣớc ngọt ở
nƣớc ta. Nhiều loài cá nƣớc ngọt đã và đang trên bờ vực của sự tuyệt chủng.
- Việc xây đắp đập thủy điện ở các rừng đầu nguồn và hiện tƣợng phá rừng
bừa bãi, tập tục du canh du cƣ của đồng bào dân tộc thiểu số đã làm thay đổi
dòng chảy của nhiều sông suối đầu nguồn, thu hẹp và biến đổi môi trƣờng
sống của nhiều loài cá.
- Rác thải của nhiều nhà máy, xí nghiệp; hóa chất diệt cỏ, diệt sâu bệnh đã
làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nƣớc và làm ảnh hƣởng tiêu cực đến môi

Đông. Đây là 2 trong 19 xã miền núi của huyện Ba Tơ, có diện tích lần lƣợt
là 119,59Km
2
và 100,11Km
2
[3].
1.4.2. Đặc điểm địa hình
Quảng Ngãi có địa hình tƣơng đối phức tạp, có xu hƣớng thấp dần từ
Tây sang Đông với các dạng địa hình đồi núi, dải đồng bằng hẹp, phía Tây
của tỉnh là sƣờn Đông của dãy Trƣờng Sơn, tiếp đến là địa hình núi thấp và
đồi xen kẽ đồng bằng [68]. Quảng Ngãi có rất nhiều dãy núi cao hiểm trở.
Các núi có độ cao trên 1.000m chủ yếu phân bổ ở phía Tây, Tây Bắc, Tây
Nam và phía Bắc tỉnh nhƣ: núi Cà Đam (1413m), núi Bờ Rẫy (1371m), núi
Roong (1459m) Về hình thái, các dãy núi của tỉnh thƣờng có dạng tuyến,
nhiều đỉnh nhọn, sƣờn dốc. Cấu thành các dãy núi này là các thành tạo đá
18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ xâm nhập và các đá biến chất có thành phần thạch học và tuổi khác nhau [69].
Các dãy núi trong vùng có độ cao trên 300m hình thành nhiều đỉnh, với sƣờn
núi hƣớng về các phía khác nhau, tạo nên nhiều vùng tiểu khí hậu. Cấu tạo
phức tạp của các dãy núi ở Quảng Ngãi đã tạo nên nhiều khe suối, từ đó hình
thành nên các sông suối nhỏ với lƣu tốc nƣớc lớn.
Địa hình của Ba Tơ chủ yếu là đồi núi, thung lũng và vực sông xen kẽ.
Đồi núi chiếm 4/5 diện tích toàn huyện, có nhiều núi cao hiểm trở nối liền với
các huyện miền núi xung quanh nhƣ núi Cao Muôn, là một trong những ngọn
núi cao của tỉnh Quảng Ngãi, Núi liền chân với các dãy núi ở các huyện Sơn
Hà, Minh Long với dãy Ngọc Linh nổi tiếng của tỉnh Kon Tum, đồng thời nó
cũng liền chân với núi Lớn hay núi Dầu Rái của huyện Mộ Đức [69].

C, nhiệt độ trung bình tháng I là 21,4
0
C, nhiệt độ trung bình
tháng VII là 27,9
0
C, biên độ nhiệt độ trung bình ngày và đêm là 8,8
0
C [3].
20
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 1.4.4. Chế độ thủy văn
Trên địa bàn Quảng Ngãi, sông suối phân bố tƣơng đối đều. Các sông
có một số đặc điểm nhƣ: bắt nguồn từ phía Đông dãy Trƣờng Sơn và đổ ra
biển, do chảy trên hai địa hình đồi núi phức tạp và đồng bằng hẹp nên sông
ngắn và độ dốc lòng sông lớn. Quảng Ngãi có 4 sông chính:
- Sông Trà Bồng: dài 45km, chiều dài lƣu vực 56km, diện tích lƣu vực
697km
2
, chiều rộng lƣu vực trung bình 12,4km. Phần lớn sông chảy qua vùng
địa hình rừng núi có độ cao 200- 1.300m, phần còn lại chảy trong vùng đồng
bằng xen đồi trọc và bãi cát.
- Sông Trà Khúc: dài 135km, chiều dài lƣu vực 123km, diện tích lƣu vực
3.240km
2
, chiều rộng lƣu vực trung bình 26,3km. Là sông lớn nằm ở giữa
tỉnh, sông Trà Khúc là sông lớn có lƣợng nƣớc dồi dào nhất so với các con
sông khác trong tỉnh. Ở Thạch Nham, ngƣời ta đã xây dựng đập chắn ngang
sông, để nƣớc dâng lên theo hai kênh Chính Bắc- Chính Nam chảy tƣới cho

hạt Sơn Hà, hợp với các con sông khác chảy về sông Trà Khúc. Sông Rhe dài
khoảng 60km (đoạn chảy qua Ba Tơ dài khoảng 30km), quanh co khúc khuỷu,
chia cắt, tạo thành các vực sông sâu dƣới lòng các thung lũng.
- Sông Liên: là thƣợng nguồn của sông Vệ, bắt nguồn từ vùng núi Giá Vụt,
chảy qua thị trấn Ba Tơ, đến gần chân núi Cao Muôn thì chảy về hƣớng Đông
Bắc. Khúc sông Liên ở Ba Tơ dài khoảng 30km.
- Sông Vực Liêm: bắt nguồn từ vùng Bàn Thạch, Hồng Thuyền, vực Liêm, xã
Ba Trang, chảy thẳng về hƣớng Đông, là thƣợng nguồn của sông Trà Câu.
Sông chảy qua các xã phía bắc huyện Đức Phổ trƣớc khi đổ ra cửa biển Mỹ Á
[68].
1.4.5. Đa dạng Sinh học tại Quảng Ngãi
Theo kết quả kiểm kê diện tích rừng năm 2000 (Đoàn Điều tra Quy
hoạch Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Ngãi) thì trong số
22
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 513.151ha đất tự nhiên có 336.455,8ha đất lâm nghiệp, trong đó đất rừng là
126.604,9ha, phân bố ở hầu hết các huyện miền núi [69].
Rừng Quảng Ngãi hiện tại chủ yếu là rừng trung bình và rừng nghèo
(phân loại theo trữ lƣợng gỗ) hoặc rừng tái sinh. Chỉ có một số diện tích rừng
nguyên sinh và rừng già thứ sinh (rừng giàu) ít bị tác động của con ngƣời
phân bố ở vùng núi cao, độ dốc lớn ở các huyện Ba Tơ (7.609ha), Sơn Hà
(3.988,5ha) [69].
Theo thống kê năm 2005 của tỉnh Quảng Ngãi, khu hệ thực vật của tỉnh
có khoảng 560 loài thực vật thuộc 140 họ trong đó có 26 loài nằm trong Sách
Đỏ Việt Nam (1996). Quảng Ngãi cũng là tỉnh có sự đa dạng cao về thành
phần loài động vật với khoảng 478 loài, thuộc 279 giống, 102 họ, 28 bộ thuộc
4 lớp động vật có xƣơng sống ở cạn - Tetrapoda.
Bảng 1.1. Cấu trúc phân loại một số nhóm động vật có xƣơng sống

4
Ếch nhái (Amphibia)
1
6
11
29
2
Tổng Cộng
28
102
279
478
55
Nhìn chung, khu hệ động vật của Quảng Ngãi khá phong phú, đặc
trƣng cho vùng đa dạng sinh học khu vực Trung Trung Bộ. Chúng thể hiện rõ
23
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ tính phong phú về thành phần loài, đa dạng về các taxon, đặc biệt là taxon bậc
giống.
Ba Tơ là huyện có diện tích rừng nguyên sinh lớn nhất của tỉnh Quảng
Ngãi. Theo thống kê của nhóm nghiên cứu Trƣờng Đại học Huế năm 2000 thì
ở Ba Tơ có 469 loài thực vật, trong đó có 43 loài đƣợc ghi vào Sách Đỏ Việt
Nam (1992) [69].
1.5. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.5.1. Đặc điểm dân số
Tính đến năm 2011, dân số trung bình của tỉnh Quảng Ngãi có khoảng
1.221.640 ngƣời, trong đó có 81,96% sống ở đồng bằng, 16,53% sống ở miền
núi và 1,5% sống ở hải đảo. Mật độ dân số là 237 ngƣời/Km

hoá.
Quảng Ngãi có 129 Km chiều dài bờ biển, có 6 cửa biển, với vùng lãnh
hải rộng 11,000 Km
2
giàu nguồn lực hải sản. Theo thống kê 6 tháng đầu năm
2013 tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) 6 tháng đầu năm có mức tăng ấn tƣợng
13,6%, cao nhất trong các tỉnh thành và cao hơn nhiều so với mức bình quân
thu nhập của cả nƣớc (4,9%).
Cơ cấu kinh tế huyện Ba Tơ đƣợc xác định gồm: Nông - Lâm Nghiệp,
Công Nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp, Thƣơng mại - Dịch vụ. Theo Báo cáo
tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của huyện Ba Tơ trong
năm 2012 cho thấy, tổng giá trị sản xuất (hiện hành) ƣớc đạt 462,17 tỷ đồng,
tăng 16,1% so với năm 2011. Thu nhập bình quân đầu ngƣời tăng từ 7,6 triệu
đồng năm 2011 lên 8,7 triệu đồng năm 2012. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo
hƣớng giảm dần tỷ trọng Nông - Lâm – Ngƣ Nghiệp, tăng dần tỷ trọng Công
Nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp và Thƣơng mại – Dịch vụ (Nông - Lâm –
Ngƣ Nghiệp từ 61,03% xuống 59,10%, Công Nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
từ 17,85% lên 18,80%, Thƣơng mại – Dịch vụ từ 21,12% lên 22,10%) [71].
25
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ Chƣơng 2: VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Chúng tôi đã tiến hành 3 đợt khảo sát tại 2 xã Ba Nam và Ba Xa huyện
Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. Cụ thể nhƣ sau:
- Đợt 1: tại xã Ba Nam ở độ cao 400 - 990m từ ngày 26/5 – 5/6/2011.
Các địa điểm khảo sát và thu mẫu: Suối nƣớc Cao, thƣợng lƣu suối nƣớc Lếch,
suối Làng Vờ 1, suối làng Vờ 2, Ao kinh tế, Ngòi Reh, Chợ Ba Tơ.

Suối Nƣớc
cao
922
Nền đáy có đá
phủ rêu, nền
cát sỏi, dòng
14
0
37’30,78’’
108
0
36’49,62’’

Trích đoạn Phương pháp định loại mẫu cá Sự sai khác về thành phần loài ở các dạng sinh cảnh Các loài cá quý hiếm và đặc hữu Các nhân tố đe dọa đến nguồn lợi cá tại khu vực nghiên cứu Các loài cá kinh tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status