Thực trạng xử trí và chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của các bà mẹ trước khi đưa con đến khám tại trung tâm y tế hoài đức – hà tây - Pdf 18


1
Mục lục
Mục lục 1
Danh mục các bảng 2
Danh mục các biểu 3
Đặt vấn đề 4
Đặt vấn đề 4
Mục tiêu nghiên cứu 6
1. Mục tiêu chung 6
2. Mục tiêu cụ thể 6
Ch-ơng 1. Tổng quan 7
1. Giới thiệu về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 7
2. Tình hình mắc và tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 11
3. Vai trò của ch-ơng trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính. 14
Ch-ơng 2. Đối t-ợng và Ph-ơng pháp nghiên cứu 19
1. Địa điểm, đối t-ợng và thời gian nghiên cứu 19
2. Ph-ơng pháp nghiên cứu 19
3. Chọn mẫu 19
4. Ph-ơng pháp thu thập số liệu và xử lý số liệu 20
5. Một số chỉ tiêu nghiên cứu 20
5. Hạn chế của nghiên cứu: 21
6.Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 21
Ch-ơng 3. kết quả nghiên cứu 22
1. Thông tin chung 22
2. Kiến thức của bà mẹ về xử trí và chăm sóc trẻ mắc NKHHCT 26
3. Thực hành của bà mẹ khi trẻ bị NKHHCT 28
4. Các yếu tố liên quan đến xử trí, chăm sóc của bà mẹ 35
Ch-ơng 4. Bàn luận 38
1. Thông tin chung 38
2. Thực hành của bà mẹ 41
3
Danh mục các biểu

Biểu đồ 1. Tuổi của mẹ 22
Biểu đồ 2. Trình độ học vấn của bà mẹ 22
Biểu đồ 3. Nghề nghiệp của mẹ 23
Biểu đồ 4. Số con của bà mẹ 24
Biểu đồ 5. Giới tính của trẻ 24
Biểu đồ 6. Tuổi của trẻ 25
Biểu đồ 7. Bệnh của trẻ 25
Biểu đồ 8. Tiếp cận thông tin của bà mẹ 26
Biểu đồ 9. Kiến thức của bà mẹ về chăm sóc và xử trí trẻ mắc NKHHCT 26
Biểu đồ 10. Xử trí của bà mẹ 28
Biểu đồ 11. Thời gian xử trí của bà mẹ 30
Biểu đồ 12. Theo dõi con của bà mẹ 32
Biểu đồ 13. Chăm sóc của bà mẹ 32
Biểu đồ 14. Cho trẻ ăn 33
Biểu đồ 15. Cho trẻ uống n-ớc 33
Biểu đồ 16. Thực hành của bà mẹ 34

4
Đặt vấn đề

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) là nguyên nhân chủ yếu gây mắc
bệnh và tử vong của trẻ em trên toàn thế giới, đặc biệt là ở những n-ớc đang phát
triển.
Theo số liệu thống kê của TCYTTG, hằng năm trên thế giới có khoảng 2 tỷ
l-ợt trẻ em d-ới 5 tuổi mắc NKHHCT trong đó khoảng 20% là viêm phổi, tại các

trẻ em d-ới 5 tuổi đến khám và điều trị tại TTYT có đến 73,5% bị mắc bệnh
NKHHCT, trong số đó có 62.5% trẻ đ-ợc chẩn đoán là viêm phổi, viêm phổi nặng,
viêm phổi rất nặng, tử vong do NKHHCT chiếm 50% tử vong của trẻ d-ới 5 tuổi tại
trung tâm y tế. Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy đa phần các tr-ờng hợp trẻ bị NKHHCT
nằm tại khoa HSCC và khoa nội nhi TTYT Hoài Đức là do các cháu đ-ợc đ-a đến
viện trong tình trạng nặng, thời gian điều trị ở nhà đã lâu, hoặc do gia đình xử trí ở
nhà không đúng. Hiện tại ch-a có nghiên cứu nào về cách xử trí và chăm sóc con bị
NKHHCT của các bà mẹ trên địa bàn huyện.
Do đó chúng tôi tiến hnh đề ti nghiên cứu: Thực trạng xử trí và chăm
sóc trẻ d-ới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của các bà mẹ tr-ớc khi đ-a
con đến khám tại trung tâm y tế Hoài Đức Hà Tây tháng 12 năm 2004 với
mong muốn sẽ trả lời đ-ợc câu hỏi:Trẻ d-ới 5 tuổi bị NKHHCT tr-ớc khi đến TTYT
đã đ-ợc các bà mẹ xử trí và chăm sóc tại nhà nh- thế nào? Những yếu tố nào liên
quan đến thực trạng này? để góp phần vào việc đánh giá thực trạng hoạt động của
ch-ơng trình tại địa ph-ơng từ đó sẽ có khuyến nghị với lãnh đạo TTYT và ch-ơng
trình ARI tại địa ph-ơng. 6
Mục tiêu nghiên cứu


Ch-ơng 1. Tổng quan

1. Giới thiệu về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
1.1 Khái niệm
Theo tổ chức y tế thế giới, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là tình trạng viêm
đ-ờng hô hấp cấp tính do vi khuẩn hoặc vi rút gây ra trên toàn bộ hệ thống đ-ờng hô
hấp bao gồm từ mũi, họng, thanh khí phế quản đến nhu mô phổi [2].

Phân loại theo vị trí thì NKHHCT đ-ợc chia ra thành nhiễm khuẩn đ-ờng hô
hấp trên và đ-ờng hô hấp d-ới (lấy nắp thanh quản làm ranh giới), nhiễm khuẩn
đ-ờng hô hấp trên th-ờng hay gặp và nhẹ bao gồm các tr-ờng hợp viêm mũi
họng, VA, viêm amidan. Viêm tai giữa, các tr-ờng hợp ho cảm lạnh Nhiễm khuẩn
đ-ờng hô hấp d-ới ít gặp hơn nh-ng th-ờng nặng bao gồm các tr-ờng hợp viêm
thanh quản, khí quản, phế quản, tiểu phế quản và phổi.

Theo mức độ nặng nhẹ, dựa vào những dấu hiệu cơ bản nh- ho, thở nhanh, rút
lõm lồng ngực và một số dấu hiệu nguy hiểm ( không uống đ-ợc hoặc bỏ bú, co
giật, ngủ li bì khó đánh thức, thở rít khi nằm yên, suy dinh d-ỡng nặng) thì
NKHHCT đ-ợc phân loại thành 4 mức độ[2]: Không viêm phổi, viêm phổi, viêm
phổi nặng và rất nặng. Riêng với trẻ d-ới 2 tháng tuổi chỉ có 3 mức độ là không
viêm phổi, viêm phổi nặng và viêm phổi rất nặng bởi vì trẻ d-ới 2 tháng tuổi đã
viêm phổi là viêm phổi nặng vì diễn biến bệnh của trẻ th-ờng rất nhanh, phức tạp và
dễ dẫn đến tử vong.

Bảng phân loại mức độ NKHHCT của Ch-ơng trình NKHHCT Quốc
gia[23]

Bệnh rất nặng
Bảng phân loại ho và khó thở ở trẻ từ 2 đến 5 tuổi

dấu hiệu

Phân loại
- Không có RLLN và không thở nhanh

Không viêm phổi
( ho hoặc cảm lạnh)
Nếu trẻ có một trong hai dấu hiệu
Có RLLN hoặc thở nhanh

Viêm phổi nặng
Trẻ có một trong những dấu hiệu nguy hiểm
- Bú kém hoặc bỏ bú
- Co giật
- Ngủ li bì khó đánh thức
- Thở rít khi nằm yên
- Thở khò khè
- Sốt hoặc hạ thân nhiệt Bệnh rất nặng


Streptocus pneumonia là hai nguyên nhân chính gây NKHHCT ở trẻ em. [14][25]. 10
Theo kết quả nghiên cứu của Bii CC cho thấy trong số những vi khuẩn phân
lập đ-ợc ở những bệnh nhân mắc NKHHCT tại 1 bệnh viện huyện ở Kenya là:
Streptococus pneumonia (26%), Klebsiella pneumonia (1%), Staphylocccus aureus
(3%), E. coli (2%).
ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân gây
NKHHCT và nhận thấy rằng: 2 vi khuẩn gây bệnh NKHHCT ở trẻ em là
Streptococus pneumonia và Haemophilus influenzae. Kết quả nghiên cứu của viện
Vệ Sinh Dịch Tễ tại phòng khám của một ph-ờng ở Hà Nội cho thấy tỷ lệ nhiễm vi
khuẩn ở trẻ mắc NKHHCT là 49.6% trong đó Streptocus pneumonia là 57.6%
Haemophilus influenzae là 20.4%, Brahmella Catarrhalis 18.8%, Staphylocccus
aureus 2.6%.

Còn theo Nguyễn Hồng Điệp khi nghiên cứu về tình hình tử vong tại viện
Bảo vệ sức khoẻ trẻ em cho thấy vi khuẩn phân lập đ-ợc trong bệnh nhân viêm phổi
tử vong tại viện Bảo vệ sức khoẻ trẻ em từ năm 1991-1995 chủ yếu là nhóm vi
khuẩn Gram âm nh- là: Klebsiella, Streptocus pneumonia, Staphylocccus aureus[4]

1.3.Yếu tố nguy cơ

Đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các n-ớc đang phát triển và ở Việt
Nam về các yếu tố nguy cơ gây NKHHCT ở trẻ em và đều có nhận xét về những
yếu tố dễ gây NKHHCT là.
Trẻ thiếu cân: Trẻ đẻ thấp cân là nguy cơ đối với sự tồn tại và phát triển của
trẻ sau này, đặc biệt rất dễ mắc các bệnh lây truyền trong đó nhiều nhất là viêm
phổi. Tỷ lệ tử vong do viêm phổi ở trẻ d-ới 1 tuổi nếu khi sinh nặng d-ới 2500 gr là
26.4%o trong khi nếu khi sinh nặng trên 2500 gr chỉ là 6.8%o.

Tỷ lệ mắc NKHHCT cũng rất cao tại các n-ớc đang phát triển. Một nghiên
cứu ở Senegal cho thấy tỷ lệ mắc NKHHCT ở cộng đồng trong 2 tuần tr-ớc điều tra
là 24%[35] và NKHHCT cũng là bệnh th-ờng gặp ở trẻ em vùng nông thôn
Bangladesh[36].Tại Việt Nam, theo Hà Văn Thiệu và cộng sự thì tỷ lệ mắc
NKHHCT chiếm hàng đầu trong các bệnh ở trẻ d-ới 5 tuổi[18], theo số liệu điều tra

12
của ch-ơng trình NKHHCT quốc gia thực hiện tại các tuyến cơ sở trong các năm
1993, 1994, 1995, 2000 cho thấy trong 2 tuần tr-ớc điều tra có 32.0%,20.6%,
22.5%, 27.3% số trẻ d-ới 5 tuổi mắc NKHHCT[23]. Mặc dù NKHHCT có tỷ lệ cao
nh-ng hơn 70% các tr-ờng hợp chỉ ho sốt đơn thuần tức là không viêm phổi, các
tr-ờng hợp NKHHCT là viêm phổi chỉ chiếm khoảng 25%-30%.

Do số l-ợt mắc NKHHCT ở trẻ d-ớt 5 tuổi nhiều và tỷ lệ mắc cao cho nên
trẻ d-ới 5 tuổi đến khám và điều trị NKHHCT luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong mô
hình bệnh tật của trẻ d-ới 5 tuổi tại các cơ sở y tế của Việt Nam cũng nh- của các
n-ớc đang phát triển. Tại ảrập tỷ lệ mắc NKHHCT là trên 1 phần 3 số trẻ đến khám
tại trung tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu, còn ở Ethiopia NKHHCT chiếm 33% l-ợt
bệnh ở trẻ sơ sinh và 20% ở trẻ d-ới 5 tuổi[33]. Theo số liệu thống kê của viện Bảo
vệ sức khoẻ trẻ em năm 1991 đến 1993 cho thấy tỷ lệ mắc các bệnh về hô hấp
chiếm 23,7% bệnh nhi nằm viện [17], còn tại khoa nhi bệnh viện Sóc Trăng là
57.9% [10], và tại khoa nhi của các bệnh viện huyện tỉnh Hà Tây năm 1994 là 64%.
NKHHCT tập trung chủ yếu ở trẻ d-ới 1 tuổi và tỷ lệ trẻ mắc viêm phổi và viêm
phổi nặng cũng gặp nhiều ở lứa tuổi này đặc biệt trẻ d-ới 2 tháng tuổi, nguyên nhân
là do ở trẻ d-ới 1 tuổi hệ thống miễn dịch của cơ thể cũng nh- hàng rào bảo vệ của
hệ hô hấp ch-a phát triển, khả năng ho khạc lại hạn chế nên trẻ dễ bị nhiễm khuẩn
đ-ờng hô hấp đặc biệt là viêm phổi. [5][20].

2.2. Tình hình tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính


Theo thống kê tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Nguyên, trong hai năm
2001-2002 cho thấy tử vong trẻ em tr-ớc 24 giờ nhập viện chiếm 63.4% so với tổng
số tử vong chung, trong đó chủ yếu là các bệnh NKHHCT, những trẻ tự điều trị ở
nhà, đi thẳng từ nhà đến, không đ-ợc xử trí tr-ớc khi vào viện hoặc xử trí nh-ng
không thích hợp là những yếu tố làm tỷ lệ tử vong tr-ớc 24 giờ nhập viện cao[8].
Nhiều tr-ờng hợp khi đến bệnh viện trẻ đã trong tình trạng nặng, do các bà mẹ
không phát hiện ra bệnh, điều trị tại nhà theo thói quen, tập quán, không đ-a con
đến cơ sở y tế khám

14

Nghiên cứu của Vũ Thị Thuỷ về tử vong do NKHHCT tại Hải Phòng[19] đã
chỉ ra một trong những lý do dẫn đến tử vong của trẻ mắc NKHHCT là do nhiều trẻ
không đ-ợc điều trị ngay cả khi bệnh đã nặng và rất nguy kịch, có nhiều trẻ tử vong
tại nhà hoặc ngay trên đ-ờng đi. Một số trẻ đ-ợc đ-a đến cơ sở y tế nh-ng đến
muộn, khi đ-ợc gia đình đ-a đến trạm xá hoặc bệnh viện thì trẻ đã ở trong tình trạng
rất nặng ( chiếm 85.39% tr-ờng hợp tử vong), đây chính là yếu tố nguy cơ liên quan
đến tử vong do viêm phổi ở trẻ em trong bệnh viện.

TCYTTG đã đ-a ra khuyến cáo: nếu bà mẹ biết phát hiện dấu hiệu viêm phổi
và đ-a trẻ đến cơ sở y tế kịp thời, đồng thời trẻ đ-ợc xử trí đúng sẽ làm giảm tử vong
20%. Còn nếu bà mẹ không phát hiện các dấu hiệu bệnh sớm và xử trí ở nhà không
đúng thì diễn biến bệnh của trẻ sẽ nhanh chóng xấu đi và khi đ-ợc đ-a đến bệnh
viện trong tình trạng nặng tiên l-ợng không khả quan, thời gian điều trị kéo dài,
hoặc khả năng cứu sống trẻ thấp.
Vậy có thể thấy rằng hiểu biết và xử trí của bà mẹ về NKHHCT đóng vai
trò rất quan trọng làm giảm tình trạng bệnh và giảm tử vong do mắc NKHHCT.
Theo Huỳnh Văn Nên lý do làm tỷ lệ tử vong trẻ d-ới 1 tuổi cao là do bà mẹ không
đủ thời gian chăm sóc trẻ và thiếu kiến thức nuôi con, tập quán nuôi con sai lầm,
quản lý chuẩn viêm phổi ở tuyến cơ sở ch-a tốt[12].

các dấu hiệu trẻ bị NKHHCT và dấu hiệu cần phải đ-a trẻ đến cơ sở y tế.

*Thực hành của bà mẹ khi con mắc NKHHCT

Khi trẻ mắc NKHHCT thì điều mà các bà mẹ cần làm là phát hiện bệnh sớm,
đ-a trẻ đến cơ sở y tế kịp thời và phối hợp điều trị tại nhà theo h-ớng dẫn của thầy
thuốc. Các khuyến cáo của ch-ơng trình đối với bà mẹ trong việc xử trí và chăm sóc
trẻ tại nhà là:

Trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi nếu không viêm phổi thì không cần sử dụng kháng
sinh mà chỉ điều trị triệu chứng và chăm sóc trẻ tại nhà, những việc bà mẹ cần làm
là tiếp tục cho trẻ ăn th-ờng xuyên hơn, ăn ít một và nhiều bữa trong ngày với thức

16
ăn giàu dinh d-ỡng, tăng c-ờng cho trẻ uống n-ớc tránh mất n-ớc do thở nhanh và
sốt, đồng thời cũng giúp cho đờm loãng ra để trẻ có thể dễ dàng ho ra đ-ợc. Nếu trẻ
bị tắc mũi, nghẹt mũi cần làm thông thoáng mũi bằng cách nhỏ mũi bằng n-ớc muối
9%o và lấy giấy thấm hoặc vải mềm quấn sâu kèn làm sạch mũi. Điều trị ho và đau
họng bằng thuốc nam nh- gừng, chanh, quất, mật ong, đ-ờngkhông nên dùng
những thuốc ho tây y có chứa atropin, codein, kháng histaminsẽ làm cho trẻ chán
ăn, quánh đờm dãi, ngủ nhiều hơn và không ho đ-ợc để đ-a các chất xuất tiết ra
ngoài gây cản trở l-u thông khí làm bệnh nặng hơn. Bà mẹ cần theo dõi trẻ và đ-a
đến cơ sở y tế khi trẻ có một trong những triệu chứng: Khó thở hơn, thở nhanh hơn,
bú kém hơn, mệt hơn.
Tr-ờng hợp trẻ bị viêm phổi, thì ngoài việc chăm sóc con nh- trên bà mẹ cần
theo dõi nhiệt độ của con khi trẻ có sốt, làm hạ sốt bằng cách cho con uống nhiều
n-ớc, nới rộng quần áo và đắp mát ở trán trẻ, chỉ đ-ợc dùng thuốc hạ sốt khi nhiệt
độ trẻ lớn hơn 38.5 độ, dùng thuốc kháng sinh và điều trị khò khè theo chỉ dẫn của
bác sỹ, đ-a trẻ đi khám lại khi trẻ khó thở hơn, thở nhanh hơn, bú kém hơn, mệt hơn
hoặc sau 2 ngày uống thuốc và chăm sóc tại nhà.

bệnh.
Một nghiên cứu ở vùng nông thôn Myanma cũng cho thấy tỷ lệ các bà mẹ xử
trí trẻ NKHHCT không đúng là 61.5%, còn thuốc tây đ-ợc sử dụng phổ biến (
56.9%) , và có 33% bà mẹ cho con ăn bình th-ờng, chỉ có 10% bà mẹ cho con uống
nhiều n-ớc[28].
Tại Việt Nam, các các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của các
bà mẹ cho thấy vẫn còn tỷ lệ cao các bà mẹ ch-a biết cách xử trí và chăm sóc con
mắc NKHHCT. Nghiên cứu của Trần Ph-ơng Lan tại Hà Nội 2002 [9] cho thấy khi
trẻ mắc NKHHCT chỉ có 34% bà mẹ cho con ăn hoặc bú nhiều hơn bình th-ờng, có
28.9% bà mẹ dùng kháng sinh khi con bị ho đơn thuần, còn khi trẻ bị sốt đơn thuần
thì tỷ lệ này là 17.1%, và có 88.8% nhỏ mũi và 4.6% sử dụng kháng sinh khi trẻ bị
nghẹt mũi, chảy n-ớc mũi.
Nghiên cứu của Phùng Quốc V-ợng tại Ch-ơng Mỹ, Hà Tây [11] cho thấy có
đến 77.8% bà mẹ dùng kháng sinh khi trẻ bị ho, sốt đơn thuần và tỷ lệ dùng thuốc
tây y giảm ho là 52.1%, tỷ lệ thực hành chung chăm sóc và xử trí của mẹ đạt chỉ
chiếm 28.7%.

18

Tác giả Hàn Trung Điền [3] cũng cho rằng vẫn còn nhiều bà mẹ tự chữa cho
trẻ ở nhà bằng thuốc tây dự trữ hoặc mua thuốc về nhà, nhiều bà mẹ tự ý dùng kháng
sinh khi trẻ bị ho sốt. Đây là tình trạng phổ biến tại Việt Nam, là một trong những
nguyên nhân khiến tỷ lệ tử vong vẫn còn cao trong cộng đồng.

Nghiên cứu của Phùng Quốc v-ợng tại L-ơng sơn, Hoà Bình về xử trí ban đầu
của các bà mẹ đ-a ra kết luận là khi trẻ mắc NKHHCT thì có 42.6% trẻ đ-ợc đ-a
đến trạm y tế, 41.2% bà mẹ tự chữa ở nhà, còn 16.2% đến các cơ sở y tế khác.

Theo La Viết Khởi khi phỏng vấn các bà mẹ có con mắc NKHHCT tại khoa
nhi bệnh viện Sóc Trăng cho thấy chỉ có 12 bà mẹ biết dấu hiệu nặng cần đ-a con đi

Mục tiêu chính của nghiên cứu là mô tả cách bà mẹ chăm sóc và xử trí tại nhà khi
con bị NKHHCT. Vì vậy tỷ lệ bà mẹ đã chăm sóc con đúng khi con bị NKHHCT
đ-ợc coi là chỉ số cơ bản để tính cỡ mẫu nghiên cứu. Theo nghiên cứu của Phùng
Quốc V-ợng tại Ch-ơng Mỹ- Hà Tây thì tỷ lệ bà mẹ chăm sóc trẻ bị NKHHCT đạt
là 28.7%.
Chúng tôi tính cỡ mẫu dựa vào công thức:
n =
2
2
)2/1(
)1(
.
d
PP
Z


Với: Z = 1,96 (hệ số tin cậy với mức ý nghĩa
05,0

)
P = 0,29 ( tỷ lệ thực hành đạt của bà mẹ có con bị NKHHCT tại
Ch-ơng Mỹ )
d = Tỷ lệ sai số cho phép bằng 0,07
(Chúng tôi chọn d = 0.07 vì với thời gian và nguồn lực cho phép cũng nh- l-u l-ợng
bệnh nhân d-ới 5 tuổi đến khám vì NKHHCT tại TTYT )
Theo công thức trên chúng tôi tính đ-ợc cỡ mẫu là 160

Số liệu đ-ợc nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS 11.5 .
5. Một số chỉ tiêu nghiên cứu
* Tình trạng bệnh của trẻ: Trẻ mắc NKHHCT có một hoặc một số các triệu
chứng nh-: Sốt, ho, thở nhanh, khò khè, thở rít, rút lõm lồng ngực, tím táiTuỳ theo
mức độ nặng nhẹ và theo lứa tuổi sẽ đ-ợc phân loại theo h-ớng dẫn của TCYTTG

21
gồm: không viêm phổi ( ho, cảm lạnh, viêm mũi, viêm họng, viêm tai), viêm phổi,
viêm phổi nặng và rất nặng.
*Một số thông tin chung về bà mẹ: Tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp.
* Tuổi con: Tuổi của trẻ tính theo tháng kể từ ngay sau đẻ cho đến khi tròn 60
tháng ( tính đến ngày điều tra)
*Kinh tế gia đình: Tính theo chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2001 -2005 ở
vùng nông thôn, đồng bằng:
Nghèo: Thu nhập bình quân <100.000đ/ng-ời/tháng.
Không nghèo: Thu nhập bình quân 100.000 đ/ng-ời/tháng.
*Cách đánh giá về kiến thức và thực hành xử trí chăm sóc trẻ mắc NKHHCT của
các bà mẹ đ-ợc xây dựng dựa trên tài liệu của ch-ơng trình NKHHCT Quốc Gia.
- Đánh giá kiến thức xử trí và chăm sóc trẻ NKHHCT của bà mẹ: Khi trả lời các câu
hỏi trong phần kiến thức, nếu bà mẹ trả lời và số điểm đạt trên 50% tổng điểm kiến
thức Kiến thức đạt, còn lại là không đạt
-Đánh giá xử trí của bà mẹ:Khi trả lời các câu hỏi trong phần thực hành xử trí, nếu
bà mẹ trả lời và số điểm đạt trên 50% tổng điểm xử trí thực hành xử trí đúng, còn
lại là không đúng
- Đánh giá chăm sóc của bà mẹ:Khi trả lời các câu hỏi trong phần thực hành chăm
sóc, nếu bà mẹ trả lời và số điểm đạt trên 50% tổng điểm chăm sóc thực hành
chăm sóc đúng, còn lại là không đúng
- Đánh giá thực hành chung của bà mẹ: Tính gộp cả 2 phần thực hành xử trí, chăm
sóc, nếu bà mẹ trả lời và số điểm đạt trên 50% tổng điểm thực hành đúng, còn lại
là không đúng

tỷ lệ%
D-ới 20 tuổi 20 30 31 40 Trên 40 tuổi
nhóm tuổi

Biểu đồ 1. Tuổi của mẹ
Đa số các bà mẹ tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi 20-30 tuổi ( chiếm 63%), đặc
biệt có 10 bà mẹ d-ới 20 tuổi ( chiếm 7.1%), tỷ lệ bà mẹ trên 40 tuổi có tỷ lệ thấp
nhất.
1.1.2.Trình độ học vấn của bà mẹ
14.9
49.7
29.8
2.8
2.8
0
10
20
30
40
50
Tỷ lệ %
TH THCS THPT TC, DN CĐ, ĐH
Trình Độ

Biểu đồ 2. Trình độ học vấn của bà mẹ

23
Trong nghiên cứu này trình độ học vấn của các bà mẹ cấp THCS chiếm tỷ lệ
cao nhất ( chiếm 49.7%), các bà mẹ có trình độ từ trung cấp dạy nghề trở lên chiếm
tỷ lệ rất ít.

Bảng 1. Kinh tế hộ gia đình
Kinh tế gia đình
Tần suất
Tỷ lệ %
Hộ nghèo
4
2.8
Hộ không nghèo
137
97.2
Tổng
141
100

Hoài đức là một huyện kinh tế khá phát triển nên trong nghiên cứu này các bà
mẹ có hộ gia đình xếp vào diện hộ nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia chiếm tỷ lệ
thấp (2.8% ).

24
1.1.5. Số con của bà mẹ

>= 3 con
12.8%
2 con
45.4%
1 con
41.8%

Biểu đồ 4. Số con của bà mẹ



12.8
56.7
30.5
0
10
20
30
40
50
60
VP nặng &
Rất nặng
VP Không VP
tỷ lệ %

Biểu đồ 7. Bệnh của trẻ
Trong nghiên cứu này, tỷ lệ trẻ bị viêm phổi chiếm tỷ lệ cao nhất ( 56.7%), trẻ
VP và VP nặng có tỷ lệ thấp nhất, có 30.5% trẻ đ-ợc chẩn đoán là không viêm phổi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status