Đề Tài :
“ Vấn đề ô nhiễm kim loại nặng trong thực
phẩm ”
I. Đặt vấn đề.
II. Nội dung.
III. Kết luận.
Tài liệu tham khảo.
Mục Lục:
3
I, Đặt vấn đề: 5
II, Nội dung: 7
1. Các khái niệm chung: 7
2. Tìm hiểu về kim loại nặng và ô nhiễm
kim loại nặng trong thực phẩm: 7
3. Nguyên nhân gây ra ô nhiễm kim loại
nặng trong thực phẩm: 10
4. Một số kim loại nhiễm vào thực phẩm
và ảnh hưởng của chúng: 17
5. Các loại thực phẩm dễ bị nhiễm kim
loại nặng: 26
6.Biện pháp khắc phục sự ô nhiễm kim
loại nặng trong thực phẩm: 27
III. Kết luận: 30
Tài liệu tham khảo: 33
I, Đặt vấn đề:
4
Thực phẩm và sử dụng thực phẩm là nhu cầu thiết yếu của mọi người, mọi
nhà, mọi lúc, mọi nơi và mọi thời đại. Vệ sinh an toàn thực phẩm là yếu tố cần
thiết để bảo vệ sức khỏe người dân, vì thực phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến
sức khỏe và tính mạng của mỗi người, tác động đến sự phát triển kinh tế,
thương mại, du lịch và an sinh xã hội, ảnh hưởng đến tuổi thọ, đến chất lượng
năm.
5
Theo thống kê của Cục An toàn thực phẩm, trong giai đoạn 2000 - 2006 đã
có 174 vụ ngộ độc thực phẩm tại bếp ăn tập thể với 14.653 nạn nhân; 97 vụ ngộ độc
thực phẩm tại các khu công nghiệp, khu chế xuất với 9.898 nạn nhân; 58 vụ ngộ
độc thực phẩm trong các trường học với 3.790 cháu bị ngộ độc thực phẩm và 2 cháu
bị chết; 161 vụ ngộ độc thực phẩm do thức ăn đường phố với 7.688 người mắc và 7
người chết. Năm 2010, do đã thực hiện hàng loạt các biện pháp thanh kiểm tra,
chấn chỉnh tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm trong cả nước, nên số vụ ngộ độc
thực phẩm trong cả nước đã giảm hẳn. Thống kê mới nhất, trong quí 4 năm 2011,
cả nước chỉ có 18 vụ ngộ độc, giảm 3 vụ so với cùng kỳ năm ngoái, bên cạnh đó, số
người cần đến bệnh viện cấp cứu vì ngộ độc cũng như số người mắc cũng giảm rõ
rệt so với các năm trước.
Trên địa bàn Tiền Giang, trong năm 2010 đã xảy ra 11 vụ ngộ độc thực
phẩm, tử vong 02 người, trong đó có 02 vụ mà số người mắc trên 50 người. Điển
hình là vụ ngộ độc thực phẩm tại Công ty TNHH Một thành viên Dream Mekong -
huyện Cái Bè với 583 người mắc không rõ nguyên nhân và vụ ngộ độc thực phẩm
tại xã Vàm Láng, huyện Gò Công Đông với 57 người mắc, do ăn món nham hải sản
và bò kho bị nhiễm vi sinh. Đặc biệt, tại xã Tân Đông, Gò Công Đông có 01 người
ăn cá nóc, ngay sau đó đã tử vong và tại phường Tân Long, thành phố Mỹ Tho 02
người ăn cá nóc tự nấu trên ghe lúc đánh bắt ngoài biển, tử vong 01 người.
Tuy nhiên, những phát hiện đó mới chỉ là phần nổi của vấn đề ngộ độc thực
phẩm. Còn phần chìm chính là tình trạng ngộ độc mãn tính do thức ăn bị nhiễm các
hoá chất, các kim loại nặng tích lũy, gây hại trong cơ thể mà chưa ai lường hết được
hậu quả của nó. Nó luôn âm ỉ , hủy hoại dần dần con người chúng ta mà chúng ta
không hề hay biết , đó mới là vấn đề đáng lo ngại nhất .
Càng ngày ngộ độc thực phẩm do các kim loại nặng càng được quan tâm
nhiều hơn bởi những tác hại khôn lường của nó đối với sức khỏe người tiêu dùng và
bởi sự gia tăng của loại nguy cơ ô nhiễm này trong cuộc sống. Hiện tại có nhiều
nguyên tố kim loại nặng có thể là nguồn gây ô nhiễm thực phẩm, nhưng những
3
) như : Vàng ( Au) , platin hay bạch kim ( Pt ) , chì
( Pb), thủy ngân (Hg), Asen ( As ) ,đồng ( Cu ) , kẽm ( Zn ) , thiếc ( Sn ) , selen
(Se ) vv
b. Như thế nào được gọi là ô nhiễm kim loại nặng trong thực phẩm ?
Kim loại nặng ( Hg, Cd, Pb, As, Sb, Cr, Cu, Zn, Mn, v.v ) thường không
tham gia hoặc ít tham gia vào quá trình sinh hoá của cơ thể sinh vật và con người ,
chúng thường được tích luỹ trong cơ thể sinh vật và con người nếu ăn phải , uống
phải . Vì vậy, chúng là các nguyên tố độc hại với sinh vật và con người .
Một số kim loại như : đồng ( Cu ) , sắt ( Fe ) , selen (Se ) vv bất cần thiết
cho chuyển hóa bình thường của cơ thể , nhưng tồn tại với số lượng cực kỳ ít ,
thường được một phần triệu gam cho một gam trọng lượng ướt , và sẽ trở nên độc
nếu có nồng độ cao trong cơ thể . Một số kim loại khác như : chì và thủy ngân là
những chất lạ đối với cơ thể , và theo lý thuyết thì chúng có thể gây độc với bất cứ
nồng độ nào trong cơ thể .
7
Ô nhiễm kim loại nặng biểu hiện ở nồng độ cao vượt quá mức cho phép
của các kim loại nặng trong thực phẩm mà khi con người hay các sinh vật khác ăn
phải thực phẩm đó thì các kim loại đó tích lũy trong cơ thể và gây ra ngộ độc thực
phẩm , hoặc hơn nữa có thể dẫn đến tử vong .
c. Ngộ độc thực phẩm do kim loại nặng .
Ngộ độc thực phẩm hay còn được gọi tên thông dụng là ngộ độc thức ăn
hay trúng thực ,là các biểu hiện bệnh lý xuất hiện sau khi ăn, uống và cũng là hiện
tượng người bị trúng độc, ngộ độc do ăn, uống phải những loại thực phẩm nhiễm
khuẩn, nhiễm độc hoặc có chứa chất gây ngộ độc hoặc thức ăn bị biến chất, ôi thiu,
có chất bảo quản, phụ gia nó cũng có thể coi là là bệnh truyền qua thực phẩm, là
kết quả của việc ăn thực phẩm bị ô nhiễm.
Người bị ngộ độc thực phẩm thường biểu
Nhóm 2 chính là nhóm chính gây ô nhiễm trong thực phẩm .
Bảng phân loại kim loại
8
3. Nguyên nhân gây ra ô nhiễm kim loại nặng trong thực phẩm:
a. Hàm lượng kim loại nặng cho phép có trong thực phẩm .
Theo “ QCVN 8-2:2011/BYT do Ban soạn thảo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về vệ
sinh an toàn thực phẩm biên soạn, Cục An toàn vệ sinh thực phẩm trình duyệt và
được ban hành theo Thông tư số 02 /2011/TT-BYT ngày 13 tháng 01 năm 2011 của
Bộ trưởng Bộ Y tế ”.
QUY ĐỊNH CHUNG như sau :
• Phạm vi điều chỉnh
H He
Li Be B C N O F Ne
Na Mg Al Si P S Cl Ar
K Ca Sc Ti V Cr Mn Fe Co Ni Cu Zn Ga Ge As Se Br Kr
Rb Sr Y Zr Nb Mo Tc Ru Rh Pd Ag Cd In Sn Sb Te I Xe
Cs Ba La * Hf Ta W Re Os Ir Pt Au Hg Tl Pb Bi Po At Rn
Fr Ra Ac ** Rf Db Sg Bh Hs Mt Ds Rg Cn
* Ce Pr Nd Pm Sm Eu Gd Tb Dy Ho Er Tm Yb Lu
** Th Pa U Np Pu Am Cm Bk Cf Es Fm Md No Lr
Kim loại nhẹ < 5 g/cm³ Kim loại nặng < 10 g/cm³ Kim loại nặng > 10 g/cm³
9
Quy chuẩn này quy định mức giới hạn an toàn cho phép đối với các kim loại nặng ô
nhiễm trong thực phẩm và các yêu cầu quản lý có liên quan.
• Đối tượng áp dụng
Quy chuẩn này áp dụng đối với:
- Các tổ chức, cá nhân nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh các sản phẩm thực phẩm
có nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng.
- Tổ chức, cá nhân có liên quan.
cầm
- - 0,5 - - -
8
Các loại thịt nấu chín đóng hộp
(Thịt băm, thịt đùi lợn, thịt vai lợn),
Thịt bò muối, Thịt chế biến đóng
hộpĐối với sản phẩm trong hộp tráng
thiếc
- - - - - 200
Đối với sản phẩm trong các loại
hộp không tráng thiếc
- - - - - 50
9 Dầu và mỡ động vật 0,1 - 0,1 - - -
10 Bơ thực vật, dầu thực vật 0,1 - 0,1 - - -
11 Rau họ thập tự (cải) - 0,05 0,3
(1)
- - -
12 Hành - 0,05 0,1 - - -
13 Rau ăn quả - 0,05
(2)
0,1
(3)
- - -
10
TT Tên sản phẩm Mức giới hạn tối đa cho phép (mg/kg)
Arsen
- - 0,1 - - -
23
Các loại trái cây nhiệt đới, không
ăn được vỏ
- - 0,1 - - -
24 Quả mọng và quả nhỏ khác - - 0,2 - - -
25 Quả có múi - - 0,1 - - -
26 Nhóm quả táo - - 0,1 - - -
27 Nhóm quả có hạt - - 0,1 - - -
28 Mứt (mứt quả) và thạch - - 1,0 - - -
29 Các loại rau, quả khô 1,0 - 2,0 - - -
30 Các loại rau, quả đóng hộp - - 1,0 - - 250
31 Nước ép rau, quả (mg/l) - - 0,05
(8)
- - -
32 Chè và sản phẩm chè 1,0 1,0 2,0 0,05 - -
33 Cà phê 1,0 1,0 2,0 0,05 - -
34
Cacao và sản phẩm cacao (gồm
sôcôla)
1,0 0,5 2,0 0,05 - -
35 Gia vị (trừ bột cà ri) 5,0 1,0 2,0 0,05 - -
36 Bột cà ri 1,0 1,0 2,0 0,05 - -
37 Nước chấm (mg/l) 1,0 1,0 2,0 0,05 - -
38 Muối ăn 0,5 0,5 2,0 0,1 - -
39 Đường 1,0 1,0 2,0 0,05 - -
40 Mật ong 1,0 1,0 2,0 0,05 - -
41 Dấm (mg/l) 0,2 1,0 0,5 0,05 - -
42
Cá cơm, cá ngừ, cá vền hai sọc,
46
Các loại cá (không bao gồm các
loại cá ăn thịt)
- - - - 0,5 -
47
Các loại cá ăn thịt (như cá mập,
cá kiếm, cá ngừ, cá măng và các
loại khác)
- - - - 1,0 -
48
Giáp xác (trừ phần thịt nâu của
ghẹ, đầu và ngực của tôm hùm và
các loài giáp xác lớn)
- 0,5 0,5 0,5 - -
49 Nhuyễn thể hai mảnh vỏ - 2,0 1,5 - - -
50
Nhuyễn thể chân đầu (không nội
tạng)
- 2,0 1,0 - - -
51
Thủy sản và sản phẩm thủy sản
khác
- 0,05 - 0,5 - -
52 Nước khoáng thiên nhiên (mg/l) 0,01 0,003 0,01 0,001 - -
53 Nước uống đóng chai (mg/l) 0,01 0,003 0,01 0,006 - -
54 Rượu vang (mg/l) - - 0,2 - - -
55 Đồ uống đóng hộp (mg/l) - - - - - 150
56
Thức ăn công thức cho trẻ sơ
sinh và trẻ nhỏ (ăn liền)
+ Qua đất trồng trọt .
+ Qua nguồn nước .
- Nguyên nhân trực tiếp : Qua các vật liệu va chạm trong quá trình sản xuất
và đóng gói .
Nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng:
* Gián tiếp :
Các nguyên tố kim loại nặng tồn tại và luân chuyển trong tự nhiên thường có
nguồn gốc từ chất thải của hầu hết các ngành sản xuất công nghiệp. Những nhà
máy, xí nghiệp này trực tiếp hoặc gián tiếp sử dụng các kim loại nặng trong quá
trình sản xuất hoặc từ chất thải sinh hoạt của con người. Nước thải của các khu
công nghiệp, các nhà máy hóa chất, các cơ sở in hoặc dưới dạng bụi trong khí thải
của các khu công nghiệp hóa chất, các lò cao, khí thải của các loại xe có động cơ
xăng sau khi phát tán vào môi trường, chúng bám dính vào các bề mặt, tích lũy
trong đất và gây ô nhiễm các nguồn nước sinh hoạt, đó là căn nguyên chính dẫn đến
tình trạng thực phẩm bị ô nhiễm. Rau quả cũng sẽ bị ô nhiễm nếu trồng trên đất có
chứa KLN và dùng nước ô nhiễm để tưới rau. Cá, tôm, thủy sản nuôi trong ao, hồ,
sông cũng thường bị nhiễm độc. Gia súc, gia cầm nuôi bằng thức ăn bị ô nhiễm
(rau, cỏ) và uống nước ô nhiễm thì thịt thành phẩm khó tránh khỏi ô nhiễm KLN.
13
Nguồn nước, đất bị ô nhiễm là 2 tác nhân chính dẫn đến thực phẩm bị ô nhiễm.
Các loại rau quả sẽ bị ô nhiễm nếu được trồng trên nguồn đất ô nhiễm kim loại
nặng hoặc được tưới nước bị ô nhiễm. Những loại cá, tôm, thủy sản được nuôi
trong nguồn nước bị ô nhiễm cũng trở thành những loại thực phẩm có chứa kim loại
nặng. Gia súc, gia cầm được nuôi bằng thức ăn bị ô nhiễm hoặc được uống nguồn
nước ô nhiễm thì thịt thành phẩm cũng khó tránh khỏi ô nhiễm các kim loại nặng.
• Trực tiếp :
Thực phẩm có thể bị ô nhiễm các kim loại nặng một cách trực tiếp do thực phẩm
bị tiếp xúc với các vật liệu dễ thôi nhiễm kim loại nặng trong quá trình sản xuất và
bao gói chứa đựng thực phẩm, thực phẩm cũng có thể bị ô nhiễm do việc sử dụng
các nguyên liệu chế biến không tinh khiết, kể cả các phụ gia thực phẩm, có hàm
Dinh tưới dinh
dưỡng tiêu dưỡng
15
Đất trồng trọt
Nguồn nước
kim loại nặng
chuỗi
thức chuỗi
ăn
thức
ăn
chuỗi thức ăn
4, Một số kim loại nhiễm vào thực phẩm và ảnh hưởng của chúng:
• Chì (Pb ).
_ Chì có thể xâm nhập qua đồ uống và thức ăn như sau :
- Đồ uống :
+, Nước bị nhiễm do hệ thống dẫn .
+, Rượu vang bị nhiễm do việc xử lý nho bằng chì arseniat , do tồn trữ và
đóng chai.
_ Thức ăn :
+, Thức ăn có nguồn gốc thực vật : bám bụi từ môi trường .
+, Thức ăn có nguồn gốc động vật : Chăn nuôi gần đường cao tốc .
+, Từ dụng cụ nấu và đựng thức ăn , các vật dụng bằng sứ tráng men , bao
bì kim loại ….
_ Độc tính : Kim loại nặng chì ở dạng muối như axetat chì, cacbonat chì… rất
nguy hiểm bởi độc tính của chúng rất cao. Ngoài việc dùng các muối chì để tạo ra
các màu đẹp trong pha sơn, pha xăng dầu, dùng làm chất màu trong công nghiệp sứ,
nhuộm giấy màu… chì còn được dùng để hàn các lon đựng đồ hộp. Chính chất thải
16
Sản phẩm từ trồng trọt
việc gây tổn thương đến các tiểu động mạch và moa mạch não phù
não , tang áp suất dịch não tủy , thoái hóa các nơron thần kinh .
Các biểu hiện lâm sang như : mất điều hòa , vận động khó khăn , giảm ý
thức , ngơ ngác , hôn mê và co giật . Khi phục hồi thường kèm theo các di
chứng như động kinh , sự đần độn, một vài trường hợp bị bệnh thần kinh
về thị giác và mù.
- Ở trẻ em , tác động này xảy ra khi nồng độ chì trong máu là 70 mg/dl .
Ngoài ra trẻ còn bị triệu chứng hoạt động thái quá , thiếu tập trung và
giảm chỉ số IQ.
17
- Chì gây ung thư thận thông qua việc thay đổi hình thái và chức năng của
các tế bào ống thận giảm chức năng vận chuyển năng lượng
tiểu đường , tiểu đạm .
- Chì ảnh hưởng đến chức năng sinh sản , do độc tính của nó với giao tử
đực và cái gây vô sinh , sảy thai và chết sơ sinh .
- Các hợp chất hữu cơ của chì như : tetraethyl , tetrametyl chì dễ xâm nhập
vào cơ thể qua đường hô hấp xâm nhập hệ thần kinh gây ra các
bệnh về não .
• Các yếu tố ảnh hưởng đến độc tính của chì .
- Khả năng hòa tan của chì .
- Hệ số xâm nhập qua đường ruột : 25 – 30 % được hấp thụ , 70 – 75 % bị
đào thải ra ngoài cơ thể qua đường phân .
- Tuổi tác : Trẻ em 3 – 8 tháng tuổi tỉ lệ hấp thụ là 53 % . còn với người
trưởng thành tỷ lệ là 10 % .
- Giới tính : đàn ông là 18,7 % , phụ nữ là 26,9 % .
- Điều kiện sinh lý : tình trạng nhịn ăn làm tăng sự hấp thụ chì tới 70 % .
- Dạng vật lý của thực phẩm .
- Thành phần của thực phẩm : Thức ăn giàu canxi , photphat giảm lượng
chì . Thức ăn giàu lactose ,giàu chất béo làm tăng sự hấp thụ chì.
• Cadmi ( Cd ).
trình hô hấp , đặc biệt là thuốc lá .
- Nấm ăn có khả năng hấp thụ thủy ngân qua môi trường cơ chất qua hệ sợi
nấm nên cần phải kiểm soát tốt các cơ chất nuôi trồng nấm .
- Các cơ quan nội tạng của động vật tích lũy hàm lượng thủy ngân cao nhưu
: gan , thận ( 20ppb – 40ppb ).
- Trứng cũng có hàm lượng thủy ngân thấp ( 2 – 20 ppb).
- Cá và các sản phẩm chuyển thể có chứa hàm lượng thủy ngân cao ( 200 –
1000 µg/kg ).
+, Độc tính :
- Là nguyên tố có tính tích lũy.
- Tác động lên hệ thần kinh ( nói , viết ) và thận ( viêm ống thận , tăng ure
huyết do sự hoại thư ống thận .
- Hơi thủy ngân : khi tiếp xúc phát sinh bệnh viêm phế quản cấp tính và
bệnh phế nang .
- Tác động mãn tính là tác động lên hệ thần kinh trung ương với các biểu
hiện lâm sàng như run rẩy , phình tuyến giáp , tim đập nhanh , nổi mề
đay , sưng lợi .
- Muối thủy ngân ( HgCl
2
) có tính ăn mòn cao co cứng cơ bụng , đi
ngoài chảy máu , viêm loét , hoại tử dạ dày và ruột , kèm theo trướng
bụng tác động lên thận , làm giảm chức năng thận , tăng ure huyết
- Hg
2
Cl
2
ít độc hơn , nhưng gây ra đau đầu , giãn mạch dưới da , tăng sừng
hóa , tăng tiết tuyến mô hôi .
- Metyl thủy ngân : gây hiệu ứng độc thần kinh , độc thai nhi ( quái thai , dị
tật ở trẻ sơ sinh ) . Biểu hiện lâm sàng bao gồm :
trường hợp kéo dài dẫn đến tử vong.
Triệu chứng ngộ độc cấp tính: bị dịch tả, xuất hiện rất nhanh, có khi ngay sau
khi ăn phải asen. Nạn nhân nôn mửa, đau bụng, ỉa chảy, khát nước dữ dội, mạch
đập yếu, mặt nhợt nhạt rồi thâm tím, bí đái, chết sau 24 giờ.
Ngộ độc mãn tính: Do tích lũy những liều lượng nhỏ asen trong thời gian dài, có
triệu chứng: mặt xám, tóc rụng, viêm dạ dày và ruột, đau mắt, đau tai, cảm giác về
sự di động bị rối loạn, có asen trong nước tiểu yếu dần, gày còm, kiệt sức, chết sau
nhiều tháng hay nhiều năm.
● Ô nhiễm nhôm:
_ Ô nhiễm nhôm luôn là một vấn đề ám ảnh các nhà môi trường và các nhà y
học trên thế giới. Sự xâm nhập của nhôm vào cơ thể trong một thời gian dài đã làm
xuất hiện và phát triển sự suy thoái trí tuệ do lão suy não theo kiểu bệnh Alzheimer
(bệnh lú lẫn người già). Ở trạng thái tự nhiên, phần lớn các loại thực phẩm thường
chứa dưới 5mg nhôm/kg. Tuy nhiên, một số thực phẩm như các loài ốc, rau húng,
20
rau bina, đậu lăng… là những thực phẩm chứa nhiều nhôm, đặc biệt như chè có thể
chứa hàm lượng nhôm lên đến 2g/kg. Từ những kết quả được tiến hành phân tích
trên 200 loại thực phẩm, bộ môn Môi trường và Y tế cộng đồng của Khoa Y học
Nancy (Pháp) đã tính toán rằng việc đưa lượng nhôm trung bình hàng tuần vào cơ
thể là 30mg/kg thể trọng (bằng khoảng 7% liều hàng tuần được phép dung nạp –
theo WHO).
Hậu quả gây ra khi thực phẩm bị ô nhiễm kim loại nặng .
_ Khi thực phẩm đã bị ô nhiễm kim loại nặng mà con người ăn phải thì có thể
gây ra hậu quả nghiêm trọng .
Có 2 trường hợp có thể xảy ra :
- Cấp tính:Ô nhiễm kim loại nặng trong thực phẩm có thể gây lên những
hậu quả khôn lường cho sức khỏe, ô nhiễm nặng thường gây những biểu
hiện ngộ độc cấp tính, đặc hiệu, gây tử vong
- Mãn tính: Đây là tình trạng nguy hiểm và thường gặp hơn do ăn phải thức
ăn có hàm lượng các nguyên tố kim loại nặng cao; chúng nhiễm và tích
(thuộc huyện Mac Sot, tỉnh Tak, Thái Lan) và kết luận: vùng này bị ô nhiễm cadmi
hết sức nặng nề. IWMI cho biết trên 154 ruộng lúa của 8 làng trong khu vực đều bị
nhiễm cadmi cao (trên 94 lần so với tiêu chuẩn an toàn quốc tế). Cụ thể, gạo ở khu
vực này đã chứa từ 0,1 đến 44mg/kg, cao hơn nhiều lần tiêu chuẩn an toàn lương
thực là 0,043mg/kg gạo. Ngoài ra, tại khu vực này, các loại rau như tỏi, đậu nành
cũng đều chứa hàm lượng cadmi cao hơn từ 16 đến 126 lần so với tiêu chuẩn vệ
sinh cho phép. Theo Cục Kiểm soát ô nhiễm của Thái Lan, trong 1.180 triệu tấn gạo
sản xuất tại huyện MacSot có đến 91% bị tích tụ cadmi, trong đó có 130 triệu tấn là
không an toàn lương thực. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Thái Lan đã
công bố loại gạo nổi tiếng Hương Lài (Jasmine) của vùng Phra That Phadaeng
thuộc huyện Mac Sot, tỉnh Tak của nước này (từng đoạt giải thưởng trong nước các
năm 2002-2003), đã chứa hàm lượng cadmi ở mức không thể chấp nhận được.
IWMI dự báo nạn ô nhiễm gạo bởi cadmi đã ảnh hưởng đến 50.756 cư dân thuộc 8
làng trong khu lòng chảo nói trên và 106.413 cư dân ở huyện Mac Sot - những
người trực tiếp tiêu thụ lương thực, thực phẩm từ các làng nói trên. Giám đốc Bệnh
viện Sae Sol (Thái Lan) cho biết: qua hai vòng xét nghiệm, trong tổng số 1.850 cư
dân địa phương, đã xác định 142 người bị nhiễm cadmi quá quy định, trong đó, 5
người có vấn đề về bệnh thận. Đến ngày 17/1/2004, tờ báo The Nation của Thái
Lan lại tiếp tục đưa tin là Viện Quản lý nước của quốc gia này đã cho biết ở tỉnh
Tak có 110.000 người có nguy cơ bị nhiễm độc cadmi.
* Ô nhiễm thủy ngân .
Ở Nhật Bản , vào năm 1939 nhà máy Chisso đã đổ xuống vịnh Minamata một
khối lượng chất xúc tác , phế thải chứa thủy ngân và kim loại nặng . Khối lượng
chất phế thải này bị dìm xuống đáy vịnh không bị biến đổi , làm cho nước vịnh và
thủy hải sản sống trong vịnh bị ô nhiễm thủy ngân nặng. Trong kho đó , con người ,
động vật và chim ở đây không hay biết vẫn ăn hải sản rất nhiều từ vịnh . Đầu tiên
vào năm 1950 , người ta quan sát những con chim hải âu khi đang bay tự nhiên đâm
đầu vào tường nhà hay dây điện , rồi xuất hiện những con mèo có dáng đi như nhảy
múa và có những cơn điên. Its sau hiện tượng đó , một căn bệnh quái ác xảy ra
22
Ở vùng Địa Trung Hải thuộc Tây Ban Nha đã phát hiện 31 loài cá, nhuyễn thể,
giáp xác có chứa hàm lượng chì, cadmi và thuỷ ngân tăng lên 30 lần từ mùa hè năm
1994 và có thể gây nhiễm độc cho người qua dây chuyền thực phẩm. Khi phân tích
các lớp trầm tích ở các hồ tại Thụy Điển, người ta đã thấy sự gia tăng lớp chì ở đáy
hồ xảy ra vào thế kỷ XIX và tăng nhanh trong thế kỷ XX do việc sử dụng xăng pha
chì đạt mức cao nhất vào năm 1970. Vì vậy, nước hồ và các loại thuỷ sản ở đây đã
bị ô nhiễm bởi chì.
23
Vào đầu thập kỷ 80, nhiều trẻ em ở Paris (Pháp) mắc một chứng bệnh rất
giống nhau mà các bác sĩ nghi ngờ là do hội chứng rối loạn tiêu hoá. Kết quả kiểm
tra dịch tễ học thực hiện tại Bệnh viện Troussean năm 1985 đã phát hiện một hiện
tượng đáng sợ: hàm lượng chì trong máu của 2.600 trẻ em cao gấp nhiều lần tiêu
chuẩn cho phép của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Nguyên nhân nhiễm độc chì ở
trẻ em Pháp là do các em hay ăn những mảnh sơn tường nhà bị bong ra có vị ngọt.
Bởi, sơn tường nhà chứa những hạt trắng, đó là axetat chì. Cứ ăn một mảnh sơn
tường nhà hơi ngọt cơ thể các em sẽ hấp thụ 5.000mg chì mà khi vào ruột, dưới tác
động của dịch vị, chúng sẽ chuyển thành clorua và gây nhiễm độc. Ở thành phố
Pritsbone của Australia, nhiều trẻ em bị nhiễm độc chì do ăn phải sơn tường cũng
đã được xác nhận. Ở Mỹ, theo điều tra, có đến 42 triệu nhà quét sơn tường có pha
chì. Cuộc xét nghiệm tiến hành trong các năm 1976 đến 1980 cho biết mỗi năm
người ta phát hiện thêm 40.000 trẻ em (từ 6 tháng tuổi đến 6 tuổi) bị nhiễm độc chì
với hàm lượng cao hơn 3.000 microgam/lít máu do ăn những mảnh sơn tường.
Tác động gây nhiễm độc của chì qua nước uống đã được biết rõ. Ở Lyon
(Pháp), trong năm 1989, nhiều ca nhiễm độc chì đã được chẩn đoán ở những ngôi
nhà vẫn còn sử dụng hệ thống ống dẫn nước bằng chì. Nhiều ca nhiễm độc chì như
vậy cũng đã xảy ra ở Anh, nhất là ở đô thị Glasgow. Năm 1991, ở nước Mỹ vẫn còn
32 triệu người được cấp phát nước bởi 130 - 660 hệ thống dẫn nước mà hàm lượng
chì trong nước uống vượt tiêu chuẩn cho phép là 15ppb gây ra nhiều trường hợp
nhiễm độc.
Ở nước ta, hầu hết các thành phố vẫn còn sử dụng một phần hệ thống dẫn
Alzheimer. Bệnh này ngừng lại khi máu được lọc bằng phương pháp thẩm tích, khi
làm cho hàm lượng nhôm từ 30mg/lit giảm xuống còn 10mg/lit.
Ô nhiễm nhôm cho người cũng có thể thông qua sữa. Một phóng viên y học của
tuần báo Anh The Observer (Người quan sát) ngày 20/11/1998 khẳng định rằng ở
Anh sữa bột dùng cho trẻ em đã bị ô nhiễm nhôm, đôi khi nhiều hơn sữa mẹ 100 lần
làm cho trẻ sơ sinh hấp thụ một lượng nhôm cao. Rất có thể sự tiếp xúc sớm và lâu
dài kim loại nhôm trong nhiều năm đầu tiên của đời sống đã ảnh hưởng đến sự suy
thoái nhanh chóng trí tuệ vào những năm cuối đời, nghĩa là dễ mắc bệnh Alzheimer.
Vào cuối năm 1993, các nhà chức trách Anh đã cho tiến hành một cuộc điều tra về
sự ô nhiễm nhôm trong thực phẩm của trẻ em và đã phát hiện ra hàm lượng nhôm
rất cao trong một số loại sữa bột; trong đó, có một số trường hợp cao gấp 500 lần
so với hàm lượng trong sữa mẹ.
5. Các loại thực phẩm dễ bị nhiễm kim loại nặng:
1, Các loại nông sản trồng trên vùng đất bị ô nhiễm kim loại nặng, sử dụng
nguồn nước tưới tiêu không đảm bảo, nước thải thừ khu dân cư, nhà máy xí
nghiệp… Sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc là kim loại nặng…
2, Các loài cá, sò ốc là những thực phẩm dễ nhiễm kim loại nặng (thủy ngân,
thạch tín) nhất. Nếu sử dụng hải sản trong 1 thời gian dài sẽ dẫn đến sự tích tụ các
kim loại nặng và chất độc hại có hại cho sức khỏe.
3, Thuốc bắc ít có tác dụng phụ vì vậy nhiều người thường coi đó là thuốc bổ để
cải thiện sức khỏe. Tuy nhiên một số loại thuốc bắc có tác dụng dùng độc trị độc
như hùng hoàng (có asen) và chu sa (có thủy ngân). Nếu sử dụng trong thời gian dài
sẽ dẫn đến tích lũy thủy ngân và asen trong cơ thể.
25
4, Nội tạng động vật thường là nơi tích tụ kim loại nặng nếu thức ăn cho chúng
có nguồn gốc không rõ ràng, bị ô nhiễm.
5, Thực phẩm được chứa đựng trong các bao gói có màu sắc sặc sỡ, các loại hộp
chứa, bảo quan trong các dụng cụ kim loại dễ bị thôi, gỉ…
6, Thực phẩm có màu sắc sặc sỡ do nhuộm phẩm màu, các loại bánh kẹo sản
xuất trái phép tại các cơ sở không dảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cũng nhưng
cấm phép và không có trong danh mục cấm…
+, Đối với các sản phẩm chăn nuôi:
26
Nên sử dụng nguồn ước sạch trong chăn nuôi, các loại thủy sản nên nuôi bằng
nguồn nước đảm bảo vệ sinh, tránh nuôi trong các ao tù, hồ chứa nước thải sinh
hoạt, công nghiệp…
Sử dụng các loại thức ăn hợp vệ sinh, có nguồn gốc rõ ràng, sử dụng thuốc kích
thích đảm bảo an toàn, nhanh phân hủy và chứa ít kim loại nặng… Với gia súc ăn
cỏ, chăn thả cách xa khu công nghiệp, cơ khí có nguồn chất thải chứa kim lại nặng
nguy hiểm như chì, thủy ngân do nguy cớ nhiễm độc gián tiếp qua cỏ rất cao…
Hạn chế sử dụng các loại thủy sản sống dưới đấy ao hồ nhiễm bẩn, các loại cá
gần nhà máy hóa chất…
+, Đối với các thực phẩm chế biến:
Tránh sử dụng hóa chất bảo quản có chứa kim loại nặng, sử dụng các loại giấy
bọc an toàn, tránh sử dụng các loại bao, thùng chá kim loại bị gỉ, hỏng, không đảm
bảo an toàn…
Ướp thực phẩm bằng các loại phụ gia có nguồn gốc xuất sử rõ ràng,có thành
phần không chứa kim loại nặng vượt quá mức cho phép…
_ Các cơ sở sản xuất tạo ra nguồn ô nhiễm chì phải xử lý chất thải theo quy định
của Luật Bảo vệ môi trường. Cộng đồng dân cư tốt nhất là không cư trú trong vùng
chịu ảnh hưởng của các cơ sở sản xuất có phát thải chì. Khi phải cư trú làm việc hay
đi qua vùng chịu ảnh hưởng ô nhiễm chì, có thể hạn chế phần nào sự thâm nhập của
chì vào cơ thể bằng cách hạn chế để da trần tiếp xúc với bụi chì, đeo khẩu trang khi
đi đường, kiểm soát vệ sinh nước uống, lương thực thực phẩm, thực hiện khám định
kỳ để phát hiện và chủ động xử lý sớm các bệnh do ảnh hưởng của ô nhiễm chì gây
nên.
_ Nguồn gây nhiễm Asen thường gặp là nước chảy ra từ mỏ có chứa Arsenopyrít
và Py rít hoặc từ các nhà máy sản xuất axit sulfuric. Ngoài ra nước ngầm trong các
giếng khoan nông cũng có thể bị nhiễm Asen vì khi bơm hút, mực nước trong giếng
hạ thấp, tầng nước bị tác động của o xy làm cho các khoáng vật chứa Asen bị o xy