skkn dạy học sinh lớp 5 một số mẹo chính tả - Pdf 19

Sáng kiến kinh nghiệm Đỗ Văn Don
LờI CảM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài “Dạy học sinh lớp 5 một số
mẹo chính tả” tôi đã nhận được sự giúp đỡ, góp ý và phê bình trực tiếp của GS.TS
Lê Phương Nga - Chủ nhiệm bộ môn Tiếng Việt khoa Giáo Dục tiểu học, trường
Đại học Sư phạm Hà Nội I.
Xin được trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Giáo sư đã
gợi mở và bổ trợ về cơ sở ngôn ngữ và phương pháp tiếp cận nguồn tư liệu nghiên
cứu
Nhân đây,tôi cũng xin được trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu và một số giáo
viên khối lớp 5 của trường Tiểu học Hoàn Long (Yên Mỹ) đã tạo điều kiện và
cung cấp số liệu, thông tin cần thiết cho đề tài.
Hoàn Long, ngày 15 tháng 01 năm 2010
Chủ nhiệm đề tài
Đỗ Văn Don
1
Sáng kiến kinh nghiệm Đỗ Văn Don
Phần thứ nhất
Đặt vấn đề
i. Lý do chọn đề tài
Phân môn chính tả trong bậc Tiểu học nói chung và ở lớp 5 nói riêng giúp
học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả theo quy tắc hiện
hành, nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng chính tả văn hóa Tiếng Việt
chuẩn mực. Vì vậy, phân môn Chính tả có vị trí quan trọng như các môn khác trong
cơ cấu chương trình môn Tiếng Việt.
Giống như môn Chính tả từ lớp 2 đến lớp 4, tính chất nổi bật nhất của phân
môn Chính tả lớp 5 là thực hành. Bởi lẽ chỉ có thể hình thành các kĩ năng, kĩ xảo
chính tả cho học sinh thông qua việc thực hành, luyện tập. Do đó trong phân môn
này, các quy tắc chính tả, các đơn vị kiến thức mang tính chất lý thuyết không được
bố trí trong tiết dạy riêng mà dạy lồng ghép trong hệ thống bài tập chính tả. Điều
này thoạt nghe thì có vẻ rất phù hợp với học sinh, nếu nhìn từ góc độ tâm sinh lý

; d /
gi / r ; vần iêu / iu / ưu và iêu / ươu / ưu.
iv. Nhiệm vụ nghiên cứu
1. Tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về mẹo chữa lỗi chính tả
2. Tìm hiểu một số lỗi chính tả phổ biến mà học sinh hay mắc lỗi (thực
trạng, nguyên nhân, giải pháp)
3. Tìm hiểu và đưa ra một số cách chữa lỗi chính tả và tổng hợp thành
mẹo chữa lỗi chính tả.
v. Phương pháp nghiên cứu
1, Phương pháp nghiên cứu lí luận: Phương pháp này giúp tôi có cơ sở khoa
học về ngữ âm, chính tả từ đó giúp tôi có góc nhìn tổng quát và quan niệm đúng
đắn về quy tắc chính tả hiện hành.
2, Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Qua điều tra bằng văn bản (phiếu) và
các cuộc phỏng vấn chính thống hoặc trao đổi ngẫu nhiên trong giao tiếp, phương
pháp này giúp chúng tôi có cơ sở thực tiễn về thực trạng học sinh viết (nói) sai
chính tả.
3
Sáng kiến kinh nghiệm Đỗ Văn Don
3, Phương pháp tích lũy và thống kê: trong hơn 10 năm dạy học phương
pháp này đã cung cấp cho tôi khá nhiều vốn kinh nghiệm liên quan đến đề tài. Đó
là thuận lợi đáng kể.
4, Phương pháp phân loại: phương pháp này giúp tôi phân loại được nhóm
lỗi chính tả hoặc một số lỗi chính tả có nét tương đồng về mặt ngữ âm hoặc cánh
chữa lỗi.
5, Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này hỗ trợ đắc lực trong
việc cắt nghĩa cơ sở lí luận.
6, Phương pháp miêu tả: Phương pháp có tác dụng trong việc giải thích,
thuyết trình cách khắc phục lỗi chính tả.
7, Phương pháp khảo sát: Trong quá trình thực hiện đề tài, vận dụng phương
pháp này để tìm hiểu và rà soát toàn bộ các bài chính tả phân biệt ở lớp 5

Bước 2: Tổng kết kinh nghiệm
Bước 3: Hoàn thiện đề tài
Bước 4: Nộp bản thảo về cho Hội đồng khoa học các cấp
Phần thứ hai
5
Sáng kiến kinh nghiệm Đỗ Văn Don
Giải quyết vấn đề
Chương I
CƠ Sở Lí LUậN Và THựC TIễN
I. Về Tiếng Việt chữ mẹ đẻ
1. Chữ cái chữ Việt
Chữ cái chữ Việt được xây dựng theo hệ thống chữ cái La tinh. Chữ cái tiếng
Việt gồm các chữ cái sau đây:
1.1. Có 11 nguyên âm đơn: (a, ă, â, e, ê, i (y), o, ô, u , ư và 3 nguyên âm
đôi: iê (yê, ia, ya) ; ươ (ưa) ; uô (ua).
1.2. Có 23 phụ âm: a, b (k, q), ch, d, đ, g (gh), h, kh, l,, m, n, nh, ng (ngh),
p, ph, r, s, t, th, tr, v,
x
.
Ngoài các chữ cái do tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu nên chữ viết tiếng
Việt còn sử dụng thêm 5 dấu để ghi 6 thanh điệu: \ (ghi thanh huyền), ~ (ghi
thanh ngã), ? (ghi thanh hỏi), / (ghi thanh sắc), . (ghi thanh nặng) và không dùng
dấu để ghi thanh ngang ( thanh không).
2. Nguyên tắc xây dựng chữ Việt
So với chữ viếtc của nhiều ngôn ngữ trên thế giới, chữ Việt có phần thuận lợi
hơn. Do đó, chính tả của nó cũng giản tiện hơn nhiều. Nguyên nhân sâu xa nhất của
điều này là ở chỗ chữ Việt được xây dựng theo nguyên tắc âm vị học ( còn gọi là
nguyên tắc ngữ âm học). Nguyên tắc âm vị học trong chữ viết yêu cầu giữa âm và
chữ phải có quan hệ tương ứng “một - một”. Để đảm bảo nguyên tắc này, chữ Việt
phải thỏa mãn ít nhất hai điều kiện; mỗi âm chỉ do một ký hiệu biểu thị và mỗi kí

Thí dụ 1: chữ g khi đứng trước các chữ không phải là i, e, ê thì biểu thị là
âm /
γ
/, nhưng khi đứng trước i mà sau i là các chữ không phải là i, e, ê thì biểu thị
là âm /z/ (gia, giữ, giục, ) ; Khi g đi cùng với h thì biểu thị là âm /
γ
/ (ghi, ghét,
ghế, ) ; khi đứng trước i hoặc iê thì một mình g lại biểu thị âm /z/ (gì, gìn, giết )
Thí dụ 2: Chữ O chủ yếu dùng để biểu thị nguyên âm /

/; nhưng khi đứng
ngay sau a hoặc e, với tư cách là một âm cuối, thì biểu thị bán nguyên âm /u/ (gạo,
kẹo, ) ; còn khi đứng trước a hoặc e, thì lại biểu thị một giới hạn âm ( âm đệm),
đó là /u/ (hoa, hoe, )
* Tiếng Việt - chữ Quốc ngữ - do các giáo sĩ người Âu sáng tạo ra hồi thế kỷ XVI - XVIII
theo chữ La - tinh để tiện cho việc truyền giáo ở nước ta
Trên đây la hai trường hợp chính tả thể hiện các bất hợp lý trong chữ Quốc
ngữ. Nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ còn phân vân về tình trạng dùng nhiều dấu
7
Sáng kiến kinh nghiệm Đỗ Văn Don
phụ, như các trường hợp: ă, â, ô, ơ, ư; hoặc ghép nhiều con chữ để biểu thị một âm,
như các trường hợp: ch, gh, kh, nh, ng, ngh, ph, tr, th.
Điều đó quả không thuận tiên lắm song cũng là giải pháp riêng. Đó không là
những bất hợp lý việc vi phạm nguyên tắc cơ bản của chính tả ngữ âm học, và
không gây cản trở hay sự lộn xộn nào do chính tả Quốc ngữ, thậm chí ngay cả khi
dùng chữ Việt trên máy vi tính.
2. Chính tả chữ Việt.
1. Đặc điểm tiếng Việt
Tiếng việt là ngôn ngữ phân tiết tính tức là các âm tiết được tách bạch rõ
ràng trong dòng lời nói. Đây chính là điểm khác biệt với các ngôn ngữ khác như

không ghi dấu gì thì có nghĩa đó là “dấu không” chứ không phải là không có dấu.
Một âm tiết mất nguyên âm, hoặc dấu của nó thì tan rã, không được coi là một âm
tiết Việt.
2. Một số quy định về chữ viết tiếng Việt.
2.1. Viết theo nguyên tắc ghi âm
Về nguyên tắc, chữ viết ghi âm phải căn cứ trên một cách phát âm. Mà tiếng
Việt thì tồn tại nhiều phương ngữ. Các cách phát âm địa phương có tính bảo thủ cao
và thực tế là chúng đều được tôn trọng. Người Hà Nội vẫn có niềm tự hào với phát
âm “con châu” thay vì “con trâu”. Cũng như vậy, người Sài gòn chẳng bao giờ mặc
cảm khi hỏi “tai đâu?” mà người nghe không biết chỉ vào tai hay đưa tay ra thay
cho câu trả lời. Đặc biệt Đài tiếng nói Việt Nam - cơ quan ngôn luận của Quốc gia
cũng mặc nhiên phát đi bằng cả ba thứ giọng: Hà Nội, Huế và Sài gòn đại diện cho
ba phương ngữ lớn trên phạm vi cả nước. Thế nhưng về mặt chữ viết, chỉ cho phép
một cách duy nhất dùng để ghi mọi phương ngữ. Vậy đâu là cơ sở cho chữ viết?
Cách viết ấy tôn trọng chuẩn chính tả đã được xác định và được phản ánh về cơn
bản trong Từ điển phổ thông.
* Tiếng Việt có sáu dấu thanh: dấu không (ngang), dấu huyền, dấu ngã, dấu hỏi, dấu sắc
và dấu nặng.
9
Sáng kiến kinh nghiệm Đỗ Văn Don
Nghĩa là chữ viết tiếng Việt căn cứ trên cách phát âm của người Hà Nội cộng với
năm sự phân biệt mà cách phát âm địa phương này còn đồng nhất nói. Đó là tr/ch ;
s/
x
; r/gi/d ; ưu/iu ; ươu/iêu
2.2. viết rời từng chữ
Một âm tiết được ghi bằng một chữ. Viết “Yên Mỹ” chứ không viết “ Yên
Mỹ”. Tuy nhiên trong giao tiếp bằng văn bản , các kiểu chữ viết liền nhau như trên
vẫn tồn tại và được sử dụng đôi khi. Sự cố chấp ấy có thể có hai lý do:
Một là, cách viết đó đơn thuần chỉ mang tính cá nhân: Thư từ, nhật ký,

3.1. Các chữ cái biểu thị các phần của âm tiết.
3.1.1. Tất cả các chữ cái ghi phụ âm đầu đều có thể làm kí hiệu ghi âm đầu
của âm tiết.
3.1.2. Tất cả các chữ cái gi nguyên âm đều có thể làm kí hiệu ghi âm chính
của âm tiết.
3.1.3. Hai chữ cái ghi âm đệm là o và u, giữa chúng có sự phân bố vị trí rõ
rệt.
3.1.4. Các kí hiệu: p, t, m, n, c, ng (nh), i (y), u (o) biểu thị các âm cuối
3.2. Sự phân bố vị trí giữa các kí hiệu cùng biểu thị một âm. Một bộ quy tắc
kết hợp hoàn chỉnh, cần thiết, đủ mạnh để loại bỏ khả năng tùy tiện, nước đôi khi
viết. Các quy tắc bổ sung này đã được xã hội hóa và trở thành thói quen chính tả
của người việt. Nhờ chúng mà chính tả việt khắc phục được tính phức tạp, rắc rối.
Sau đây là các quy tắc bổ sung:
3.2.1. Đối với k/ c /q:
- K viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm ( bộ phận nguyên âm đôi) :i, e, ê, iê,
ia.
- C viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm (bộ phận nguyên âm đôi): a, ă, â, o,
ô, ơ, u, ư, ua, uô, ưa, ươ.
- Q viết trước âm đệm u. Riêng trường hợp “ka ki” , “kách mệnh”, “ Bắc
Kạn” là do theo thói quen chứ “k” vẫn viết trước “a”.
11
Sáng kiến kinh nghiệm Đỗ Văn Don
3.2.2. Đối với g/gh và ng/ngh
- G và NG viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm (bộ phận nguyên âm đôi): a,
ă, â, o, ô, u, ư.
- GH và NGH viết trước các kí hiệu nghi nguyên âm (bộ phận nguyên âm
đôi): i, e, ê.
3.2.3. Đối với IÊ/ IA/ YÊ/ YA.
- IÊ viết sau âm đầu, trước âm cuối: chiến , tiên tiến,
- IA viết sau sau âm đầu, không có âm cuối: chia, phía,

Anh, Hồ hoài Anh, Hồ - Hoài - Anh, ; cùng một tên địa danh, tồn tại những cách
viết khác nhau như: Liên Hợp quốc, Liên hợp quốc, Liên Hợp Quốc,
4.2. Quy định về cách viết hoa tên riêng:
4.2.1. Đối với tên riêng tiếng Việt: tên người và tên địa lý, viết hoa tất cả
những âm vị đứng đầu các âm tiết và không dùng dấu gạch nôi: Võ Thị Sáu, Hưng
Yên, Tên tổ chức, cơ quan thì chỉ viết hoa âm vị đứng đầu của các âm tiết thứ
nhất trong tổ hợp dùng làm tên: Trường tiểu học Hoàn Long, Phòng giáo dục Yên
Mỹ,
4.2.2. Đối với tên riêng không phải tiếng Việt
Nếu chữ viết của nguyên ngữ dùng chữ cái La - tinh thì giữ đúng nguyên
hình trên chữ viết trong nguyên ngữ (kể cả các chữ cái f, j, w, z và dấu phụ ở một
số chữ cái có thể lược bỏ: Paris, London, )
Nếu chữ viết của nguyên ngữ dùng hệ thống chữ cái khác chữ cái La - tinh
thì dùng lối chuyển trị chính thức sang chữ cái La-tinh : “ 人 ” chuyển thành “
nhân”, “人” chuyển thành “thượng”, “人” chuyển thành “cổ”.
Nếu chữ viết của nguyên ngữ không phải là chữ viết ghi âm bằng chữ cái thì
dùng lối phiên âm chính bằng chữ cái La - tinh.
13
Sáng kiến kinh nghiệm Đỗ Văn Don
Những chữ viết riêng có hình thức phiên âm Hán - Việt quen dùng trong
tiếng việt thì nói chung không thay đổi, trừ một số trường hợp như Anh, Pháp, Bắc
Kinh, Lỗ Tấn,
4.2.3. Viết hoa để đánh dấu đầu câu, đầu dòng thơ.
4.2.4. Viết hoa để biểu thị sắc thái tu từ tức là viết hoa chỉ khái niệm thiêng
liêng hay được người quý trọng (đôi khi theo chủ ý của người viết).
Thí dụ: “Tự Do và Ái Tình
Vì các ngươi ta sống
Vì Tình Yêu lồng lộng
Xin hiến cả đời tôi ”
(Pê - tô - nhi)

5.6. Nguyên tắc tìm nghĩa của những nhóm âm tiết, của những hình thức
láy.
Chẳng hạn một cách rất tiện để phân biệt “ưt” với “ức” là tất cả những chữ
viết với vần “ưt” đều chỉ một cái gì đó đứt ra (rứt, đứt, bứt, giựt, ). Những ngoại
lệ chỉ thu hẹp vào danh từ là những từ đã vay mượn từ tiếng nước ngoài chứ có rất
ít ngoại lệ là động từ hoặc tính từ là những từ khó vay mượn.
6. Một số cách phân biệt chính tả phổ biến ở bậc Tiểu học.
6.1. Cách phân biệt từ Hán - Việt.
Từ Hán - Việt chiếm quá nửa tổng số từ vựng trong kho tàng tiếng Việt.
Chúng lại có những đặc điểm riêng về chính tả rất khác những từ thuần Việt. Thí
dụ: “gi” (Hán - Việt), chỉ đi với dấu hỏi và dấu sắc; “d” (Hán - Việt) chỉ đi với dấu
ngã và dấu nặng; không có từ Hán - Việt nào viết với vần “ui”, “ơn”, “it”, Cho
nên một điều căn bản nhất đối với học sinh để viết đúng chính tả là sự phân biệt từ
Hán - Việt với từ không phải Hán - Việt.
6.2. Cách nhận mặt từ láy âm.
Một cơ sở chữa lỗi chính tả là xét hiện tượng láy âm. Vậy ta phải nhân mặt
được láy là gì. Chữ “nhận mặt” ở đây chỉ có nghĩa nhìn về mặt hình thức cấu tạo
15
Sáng kiến kinh nghiệm Đỗ Văn Don
biết ngay được một số từ có phải là láy âm hay không. Một từ láy âm là một từ
trong đó hai chữ có sự lặp lại nhau nào đó. Ngoài yêu cầu về hình thức, hai chữ
này phải có ít nhất một chữ không hoạt động một mình thành từ. Nếu cả hai chữ dù
có vẻ láy âm đi nữa, những đều hoạt động thành từ được thì đó không phải là từ láy
âm (lành mạnh, thung lũng, bình minh, tươi tốt, ). Trong từ láy âm, ta cần phân
biệt giữa điệp và láy. Điệp là láy lại hoàn toàn một bộ phận nào đó. Vì âm tiết tiếng
Việt có năm bộ phận nên có năm cách điệp và có năm cách láy.
Trong việc chữa lỗi chính tả, các quy tắc điệp không có tác dụng bằng các
quy tắc láy, bởi vì nhờ quy tắc láy mà ta phục hồi được cái âm cần phải có. Chẳng
hạn, căn cứ vào quy tắc láy (dấu ngang đi với dấu hỏi, dấu ngã đi với dấu nặng) ta
có thể kết luận “nghĩ” trong “nghĩ ngợi” viết các dấu ngã; trái lại, “nghỉ” trong

tiếng Việt mà cụ thể là dạy - học chính tả trong trường phổ thông mà trực tiếp là
17
Sáng kiến kinh nghiệm Đỗ Văn Don
bậc Tiểu học vẫn luôn là vấn đề
“nóng” thường xuyên được diễn đàn
trên các báo, tạp chí. Đã xuất hiện
một số công trình nghiên cứu về mẹo
chính tả, được công bố và xuất bản.
Song đó chỉ là những quyển sách có
tính chất tham khảo là chính đối với
lứa tuổi trưởng thành có nhu cầu về vấn đề chính tả do ảnh hưởng của chuyên môn,
công việc. Cũng có một số bài viết được giới thiệu trên tạp chí như tạp chí Tiểu
học, Nghiên cứu giáo dục. Đó là những bài viết trao đổi kinh nghiệm ở một vài
khía cạnh nhỏ lẻ hay một thủ pháp trong dạy học chính tả ở bậc Tiểu học. Còn vấn
đề về mẹo chính tả dành cho học sinh lớp 5 thì dường như chưa nhiều, nếu không
muốn nói là chưa có một công trình nào được công bố hay một bài viết nào chọn
vẹn được đăng tải trên diễn đàn giáo dục. Tuy nhiên, một số công trình nghiên cứu
về chính tả hay những bài viết trên diễn đàn dạy học cũng có ảnh hưởng ít nhiều tới
đề tài của tôi đây. Có thể phân loại như sau:
1.
Một số công trình nghiên cứu về chính tả
18
Sáng kiến kinh nghiệm Đỗ Văn Don
1.1. Cuốn “ Từ điển chính tả tiếng Việt” của hai soạn giử Nguyễn Như í và
Đỗ Việt Hùng do nhà xuất bản giáo dục ấn hành năm 1997 thể hiện tầm vóc như
chính “cha đẻ” của nó. Cuốn sách thể hiện quan điểm hành dụng, phục vụ trực tiếp
cho dạy học, rèn luyện, tra cứu chính tả trong nhà trường phổ thông. Hình thức
trình bày của cuốn sách theo phép đối chiếu, so sánh thể hiện sự phân biệt cách viết
khác nhau của những từ dễ nhầm lẫn chính tả với nhau.
Với cuốn sách đồ sộ đó, các tác giả đã thực hiện được việc thu thập tất cả các

20
Sáng kiến kinh nghiệm Đỗ Văn Don
Chương III
THỰC TRẠNG HỌC SINH LỚP 5 MẮC LỖI CHÍNH TẢ
I, Một số lỗi thường gặp:
Trong quỏ trỡnh dạy học chớnh tả ở lớp 5, qua việc kiểm tra cỏc mụn học
khỏc ở lớp 5, tụi đó thống kờ và phõn loại một số lỗi phổ biến mà học sinh mắc
phải dưới đõy:
Bảng 1
Lỗi ghi phụ õm
Viết sai Sửa đỳng Viết sai Sửa đỳng
lổ tung nổ tung liềm vui lỗi buồn niềm vui nỗi buồn
Mang lú theo Mang nú theo Dong đuổi Rong đuổi
Noang lổ Loang lổ Trõu bỏu Chõu bỏu
Lúi với nú Núi với nú Dơi xuống Rơi xuống
lỗ nực nỗ lực Trừ xuống Chừ xuống
Nay động Lay động Dong dờu Rong rờu
Sưa lay Xưa nay Tõm cảm Tõm khảm
Cha thuốc Tra thuốc Kinh tế Tinh tế
Dũ trả Dũ chả Chõn trọng Trõn trọng
Áo lõu Áo nõu Khột rắng Khột nắng
Lụ nệ Nụ lệ viết song viết xong
Xụi lổi Sụi nổi tiệc chà tiệc trà
Bảng 2
Lỗi ghi nguyờn õm
21
Sáng kiến kinh nghiệm Đỗ Văn Don
Viết sai Sửa đỳng Viết sai Sửa đỳng
đại sảy đại sảnh biếu cổ bướu cổ
Trỡu tượng trừu tượng Liu luyến Lưu luyến

viết sai phụ õm đầu và lỗi viết sai phần vần(viết sai õm cuối).
2. Do sai nguyờn tắc chớnh tả hiện hành.
Là lỗi do học sinh lớp 5 khụng nắm được cỏc đặc điểm và nguyờn tắc kết hợp
cỏc chữ cỏi, quy tắc viết hoa. Lỗi do khụng nắm được quy tắc phõn bố và kớ hiệu
cựng biểu thị một õm: nghành, ngi ngờ, qoăn qoeo
3. Do chưa cú thúi quen viết đỳng chớnh tả.
Xuyờn suốt quỏ trỡnh học ở bậc tiểu học, học sinh luụn được rốn luyện viết
đỳng chớnh tả theo hỡnh đồng tõm. Tuy nhiờn, khụng phải học sinh nào cũng cú
được thúi quen viết đỳng chớnh tả. Nhiều học sinh viết sai ngay trong tiết chớnh tả.
Bởi lẽ, học sinh vẫn chưa cú thúi quen học một cỏch tự giỏc, nờn nhanh quờn. Hơn
nữa, học sinh cũng cú khi khụng được giỏo viờn phỏt hiện và uốn nắn, sửa lập thúi
quen ở mọi tiết, mọi lỳc ở trường.
23
Sáng kiến kinh nghiệm Đỗ Văn Don
Chương IV
MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
I, Phương hướng chung:
Hiện nay, cỏc nhà nghiờn cứu ngụn ngữ cũng như cỏc nhà sư phạm đều cú
chung quan điểm việc viết đỳng chớnh tả Tiếng Việt là yờu cầu bắt buộc đối với
mỗi học sinh và là yờu cầu dặc biệt khắt khe đối với những người dạy học ở bậc
tiểu học và đối với học sinh hoàn thành chương trỡnh tiểu học.
Một là, đọc và viết nhiều lần để ghi nhớ cỏc chữ hay viết sai. Đọc càng nhiều, viết
càng nhiều, tần số xuất hiện của cỏc chữ ấy càng cao và càng cú cơ hội để trỏnh lỗi
khi viết. Chớnh vỡ vậy mà cú một thực tế là, học sinh càng lờn lớp cao thỡ càng ớt
viết sai chớnh tả.
Hai là, cần luụn cú ý thức về hệ thống phỏt õm được lấy làm cơ sở cho chữ
viết. Đặc biệt chỳ ý, quan tõm đến những chữ mà cỏch phỏt õm của địa phương cú
sự sai lệch so với chuẩn. Trong trường tiểu học, người giỏo viờn cú vai trũ đặc biệt
quan trọng trong việc giỳp học sinh viết đỳng chớnh tả. Chữ viết của giỏo viờn cũn
trờn cả mức tỏc động mà thẩm thấu vào thúi quen viết chữ của học sinh. Do đú,

đứng trước một vần bắt đầu bằng “oa, oă, oe, uõ, uờ, uy”, trỏi lại L đứng trước
những vần ấy. Ngoại lệ duy nhất cú “noón”(Hỏn - Việt) nghĩa là “trứng” được dựng
trong hai từ “ noón cầu”, “noón cầu”.
Nếu gặp từ lỏy mà hai õm đầu đọc giống nhau thỡ nhất định đú là một từ điệp
õm đầu và cả hai chữ phải cựng N hoặc L. Vậy ta chỉ cần thiết một chữ là đủ, chữ
kia sẽ được điệp lại õm đầu của chữ này. Thớ dụ, ta gặp từ “nặng nề” và từ “lạnh
lựng”, biết trước từ này đều là điệp õm, ta chỉ cần tỡm cỏch viết chữ “lạnh” chẳng
hạn.
Một chữ ta khụng phõn biệt được là L hay N nhưng nú đứng đầu trong một từ
lỏy õm khụng phải điệp õm đầu thỡ dứt khoỏt đú là L chứ khụng phải N. Lưu ý,
mẹo này chỉ được ỏp dụng trong trường hợp lỏy õm đầu. Thớ dụ: L với B (lệt bệt,
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status