MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đảng ta trong các văn kiện Đại hội lần thứ VIII đến lần thứ XI đều nêu
ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại. Để đạt được mục tiêu đó phải đẩy mạnh CNH,
HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi
hỏi phải tích luỹ, thu hút các nguồn vốn đầu tư phát triển. Vốn đầu tư rất quan
trọng vì đây là yếu tố vật chất quyết định trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng kinh
tế nói chung, nhịp độ CNH, HĐH nói riêng.
Nguồn vốn đầu tư ở nước ta gồm: Nguồn vốn trong nước và nguồn vốn
đầu tư nước ngoài, trong đó vốn đầu tư trong nước là quyết định, vốn đầu tư
nước ngoài là rất quan trọng. Trong nguồn vốn đầu tư nước ngoài có vốn đầu
tư trực tiếp (FDI), nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, và nguồn vốn đầu
tư gián tiếp (FII), trong đó FDI là chủ yếu và đây là nguồn vốn dài hạn. Kể từ
khi thực thi luật đầu tư nước ngoài (1988) đến cuối năm 2009 tổng nguồn vốn
đầu tư nườc ngoài đăng ký là 192.726,5 triệu USD, vốn thực hiện là 66.945,5
triệu USD [34, tr.72].
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; trong khung
cảnh nền kinh tế thế giới đang có sự cơ cấu lại sau khủng hoảng kinh tế, tài
chính toàn cầu năm 2008, vấn đề thu hút FDI của Việt Nam đang đặt ra
những cơ hội thuận lợi mới, đồng thời lại có những khó khăn mới, thách thức
mới (nhất là cạnh tranh gay gắt trên thị trường đầu tư) cần phải có những nỗ
lực mới để vượt qua khó khăn, thách thức đó.
Vĩnh Phúc là tỉnh mới được thành lập năm 1997, là một tỉnh nằm trong
vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có nhiều tiềm năng và điều kiện thuận lợi
cho thu hút đầu tư nước ngoài như: Gần Thủ đô Hà Nội, cận kề cảng hàng
không Quốc tế Nội Bài, có hệ thống giao thông đường thuỷ, đường bộ khá
1
thuận lợi, có lực lượng lao động khá dồi dào, lại có nhiều quỹ đất phát triển
công nghiệp.
Trong những năm qua, Vĩnh Phúc đã thu hút được một lượng vốn đầu
4. PGS.TS Đỗ Đức Bình (2005), Đầu tư của các công ty xuyên quốc
giai (TNC
S
) tại Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. PTS. Nguyễn Khắc Thân - PGS.TS: Chu văn Cấp (đồng chủ biên,
1996), Những giải pháp chính trị, kinh tế nhằm thu hút có hiệu quả đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. PGS.TS Nguyễn Bích Đạt (2006), Khu vực kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
7. Thu hút FDI từ các nước trong khu vực nhằm đẩy mạnh kinh tế Việt
Nam - thực trạng và giải pháp (2004), luận văn thạc sỹ của Đinh Văn Cường,
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia HCM.
8. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng phát
triển bền vững (2008), luận văn thạc sỹ của Trần Thị Tuyết Lan, Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia HCM.
9. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp trên địa bàn Hà
Nội (2006), luận văn thạc sỹ của Trần Văn Lưu, Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia HCM.
10. Thạc sỹ Vũ Văn Hưởng (2007), “Tác động của FDI đến tăng trưởng
kinh tế: Nhìn từ mô hình kinh tế lượng” (2007), Tạp chí Tài chính, (12).
11. Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển công nghiệp Tây Ninh
đến 2010 (2003), luận văn thạc sỹ của Nguyễn Tấn Vinh, Học viện Chính trị -
Hành chính quốc gia HCM.
3
12. Phát triển công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường ở Vĩnh Phúc
(2006), luận văn thạc sỹ của Hà Huy Bắc, Học viện Chính trị - Hành chính
quốc gia HCM.
Nhìn chung các công trình khoa học nêu trên đã đề cập khá toàn diện
và phân tích sâu sắc từng mặt của nguồn vốn FDI. Tuy nhiên, chưa có công
Luận văn nghiên cứu vấn đề thu hút FDI vào phát triển công nghiệp ở
Vĩnh Phúc dưới góc độ kinh tế chinh trị. Tập trung chủ yếu vào làm rõ vai trò
của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển công nghiệp; thực trạng thu
hút FDI vào phát triển công nghiệp Vĩnh Phúc và nghiên cứu đề xuất các giải
pháp nhằm tăng cường thu hút FDI để phát triển công nghiệp trong thời gian tới.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Địa bàn nghiên cứu là tỉnh Vĩnh Phúc. Cụ thể là các ngành công
nghiệp khai thác, chế biến, sản xuất và phân phối điện, ga, và các khu công
nghiệp trên địa bàn.
- Mốc thời gian để thu thập thông tin, số liệu phục vụ cho việc đánh giá
thực trạng là từ năm 2000 đến nay (chủ yếu từ 2006 - nay).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng lý luận kinh tế
chính trị Mác-Lênin, đường lối chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, và một số lý thuyết kinh tế học
hiện đại về đầu tư quốc tế và quan hệ kinh tế đối ngoại
* Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác-Lênin, luận văn sử dụng phương pháp thống kê kinh tế, phân tích tổng
hợp, so sánh, tổng kết thực tiễn thông qua các tài liệu để hiểu và làm rõ các
vấn đề nghiên cứu của luận văn.
5
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ vai trò của FDI đối với sự phát triển công
nghiệp Vĩnh Phúc, phân tích tình hình phát triển công nghiệp và quá trình thu
hút vốn FDI cho phát triển công nghiệp Vĩnh Phúc, đề xuất các giải pháp cơ
bản để tiếp tục thu hút FDI cho phát triển công nghiệp trong giai đoạn 2011
-2015, tầm nhìn dến 2020.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho
nước (nước nhận đầu tư) và được thực hiện dưới các hình thức như thành lập
công ty hay một doanh nghiệp, mua cổ phiếu và hình thức góp vốn khác: Trái
phiếu, giấy ghi nợ, các quyền theo hợp đồng tài sản hữu hình và tài sản vô
hình, quyền sở hữu trí tuệ.
Đầu tư nước ngoài gồm 2 hình thức là đầu tư trực tiếp (đầu tư các hoạt
động sản xuât kinh doanh nhằm thu lợi nhuận và các lợi ích khác) đầu tư gián
tiếp (cung cấp tín dụng, cho vay, đầu tư vào thị trường chứng khoán…).
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là loại hình di chuyển vốn giữa các
nước, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và
điều hành hoạt động sử dụng vốn. FDI là một trong những hình thức đầu tư
chủ yếu của hoạt động đầu tư quốc tế.
7
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI (Foreiga Direct investment) được
định nghĩa là:
Một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong
một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh
nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác, mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là
muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế
khác đó [46, tr.31].
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa về FDI như
sau: FDI xẩy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được
một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài
sản đó, phương tiện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính
khác. Trong phần lớn trường hợp cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản
lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó nhà đầu
tư thường hay gọi là "Công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "Công ty con"
hay "chi nhánh Công ty" [50].
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm "một
doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân trong
đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc có quyền
tư, theo đó, FDI sẽ là người chủ sở hữu hoàn toàn hoặc đồng chủ sở hữu với
một tỷ lệ góp vốn nhất định, đủ mức khống chế và trực tiếp tham gia quản lý
hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ tư, thông qua FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ,
kinh nghiệm quản lý, mạng lưới marketing rộng lớn. Các yếu tố này có vai trò
quan trọng đối quá trình CNH, HĐH ở các nước đang phát triển nói chung và
Việt Nam nói riêng.
9
Thứ năm, chủ thể của FDI chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia, đa
quốc gia. Đây là những tập đoàn có hệ thống các chi nhánh sản xuất ở nước
ngoài, có tiềm lực lớn về vốn, công nghệ, nhãn hiệu sản phẩm có uy tín và
danh tiếng trên toàn cầu, đội ngũ các nhà quản lý có trình độ cao, có khả năng
điều hành các hoạt động sản xuất và phân phối trên toàn cầu, có năng lực
cạnh tranh cao. Hiện nay các công ty đa quốc gia nắm giữ khoảng 90% lượng
FDI trên thế giới.
Thứ sáu, FDI đảm bảo cho nhà ĐTNN tham gia kiểm soát, điều hành
quá trình đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp. Việc trực tiếp điều hành và
quản lý, trực tiếp ra quyết định đầu tư là điều kiện để các nhà đầu tư thực hiện
chiến lược kinh doanh một cách chủ động và tối ưu. Tuy nhiên, trên thực tế
lại thường xảy ra sự không ăn khớp giữa mục tiêu thu hút FDI của nước tiếp
nhận đầu tư với chiến lược kinh doanh của nhà ĐTNN. Nếu sự bất cân xứng
ngày càng lớn thì hiệu quả đầu tư đạt được sẽ càng thấp.
* Đầu tư trực tiếp nước ngoài còn có những đặc điểm khác so với đầu tư
gián tiếp, thể hiện ở những điểm dưới đây:
(1) FDI là loại vốn đầu tư chủ yếu có thời hạn dài.
Vốn FDI là nguồn vốn chủ yếu trong vốn đầu tư nước ngoài và là nguồn
vốn dài hạn nên không dễ rút đi trong thời gian ngắn kể cả trường hợp bên
ngoài khủng hoảng thì nó chỉ vào ít hơn chứ không bị rút ra. Bởi vậy nước sở
tại nhận được nguồn vốn lớn bổ sung cho vốn đầu tư trong nước trong một
thời gian dài mà không phải lo trả nợ. Đây là đặc điểm phân biệt FDI với đầu
Thứ hai, doanh nghiệp liên doanh là loại doanh nghiệp do hai bên hay
nhiều bên phía nước ngoài và nước nhận đầu tư (nước chủ nhà) hợp tác cùng
góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận, cùng chia sẻ rủi ro theo tỷ
lệ góp vốn.
11
Hình thức này thường được các nước chủ nhà ưa chuộng vì thông qua
doanh nghiệp này nước chủ nhà có điều kiện tiếp thu kỹ thuật, công nghệ
mới, học tập kinh nghiệm quản lý đào tạo đội ngũ lao động và tiếp cận thị
trường quốc tế, nhưng yêu cầu đặt ra đối với nước chủ nhà là phải đáp ứng
được những yêu cầu về vốn, trình độ quản lý doanh nghiệp cùng với bên nước
ngoài thì mới đạt hiệu quả như mong muốn.
Thứ ba, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của
nhà đầu tư nước ngoài, do nhà ĐTNN thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý
và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một thực thể kinh doanh có tư
cách pháp nhân, được thành lập dựa trên các mục đích của chủ đầu tư và nước
sở tại, hoạt động theo sự điều hành quản lý của chủ đầu tư nước ngoài. Doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới dạng Công ty TNHH hoặc
Công ty cổ phần.
Hình thức này được phía nước ngoài ưu chuộng vì họ tự mình độc lập
ra các quyết định quản lý và hưởng lợi nhuận do kết quả đầu tư mang sại sau
khi đã làm tròn nghĩa vụ nộp thuế cho nước chủ nhà. Một số lĩnh vực đầu tư
cần vốn lớn thời gian thu hồi vốn dài thường được nước chủ nhà chấp nhận
đối với hình thức doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN.
Thứ tư, đầu tư theo hợp đồng
Hợp đồng BOT là hình thức đầu tư được ký kết giữa cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ
tầng trong một thời hạn nhất định. Sau khi hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển
giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam [31, tr.11].
cầu của sản xuất và đời sống công nghiệp còn thực hiện việc sửa chữa một số
tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng (dịch vụ mang tính chất công nghiệp).
13
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, lịch sử phát triển công
nghiệp là một quá trình diễn ra có tính quy luật phổ biến đó là: công nghiệp từ
vị trí phụ thuộc nằm trong nông nghiệp sản xuất tự cấp tự túc tách ra khỏi
nông nghiệp thành một ngành sản xuất độc lập tự sản xuất nhỏ, thô sơ đến
hiện đại. Ngày nay, ở hầu hết các quốc gia phát triển cũng như các quốc gia
đang phát triển, công nghiệp có vị trí hàng đầu trong cơ cấu kinh tế của mỗi
nước, đối với những nước đang phát triển mà nền kinh tế phổ biến ở nông
nghiệp đi lên công nghiệp được coi là ngành kinh tế chủ đạo, sự phát triển của
công nghiệp sẽ có ý nghĩa phát triển đến ý nghĩa quyết định đến tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế.
* Phân loại công nghiệp:
Sự ra đời và phát triển của công nghiệp gắn liền với sự tiến bộ kỹ thuật
và phân công lao động xã hội. Trong thời kỳ đầu của xã hội loài người đã có
một số hoạt động mang tính chất công nghiệp, sản xuất các loại sản phẩm đáp
ứng nhu cầu sản xuất, đời sống. Những hoạt động sản xuất này tồn tại trong
khuôn khổ nền kinh tế tự túc, tự cấp với trình độ hết sức thấp kém, quá trình
phát triển của phân công lao động, chuyên môn sản xuất đã đưa đến là một số
người được chuyên môn hóa vào các hoạt động mang tính công nghiệp và trở
thành người thợ thủ công chuyên nghiệp. Sản phẩm của họ sản xuất ra là hàng
hóa được sản xuất để trao đổi, mua bán trên thị trường.
Ngày nay, công nghiệp đã trở thành một ngành sản xuất vật chất lớn
của xã hội và có một cơ cấu hết sức phức tạp.
Dựa trên những tiêu trí khác nhau, người ta chia công nghiệp thành các
loại hình khác nhau. Có một số cách phân chia phổ biến thường gặp trong
thực tế:
- Căn cứ vào tính chất tác động vào đối tượng lao động, công nghiệp
được chia thành công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến.
bộ phận độc lập thực hiện. Sau đó chúng sẽ được kết nối, lắp ráp lại với nhau
thành một sản phẩm hoàn chỉnh theo thiết kế kỹ thuật. Do đó tính kế hoạch là
khá cao, lao động được chuyên môn hóa và hợp tác hóa trên cơ sở kỹ thuật.
15
- Về công nghệ sản xuất, công nghiệp chủ yếu là quá trình tác động
bằng phương pháp cơ lý hóa làm thay đổi các đối tượng lao động thành các
sản phẩm thích ứng với nhu cầu của con người.
Công nghệ sản xuất trong công nghiệp do con người tạo ra. Quá trình
tạo ra sản phẩm công nghiệp được thực hiện thông qua hệ thống máy móc,
thiết bị với đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề cao. Hay nói cách khác lao
động tạo ra sản phẩm trong công nghiệp là lao động có kỹ thuật lao động
bằng máy móc.
Vì vậy mỗi quốc gia tùy vào khả năng và hoàn cảnh cụ thể mà có chiến
lược đầu tư đổi mới và hiện đại hóa công nghệ cũng như đào tạo đội ngũ công
nhân lành nghề trong quá trình phát triển công nghiệp. Đây là vấn đề có ý
nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các ngành công nghiệp trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.
- Sản xuất công nghiệp có khả năng tập trung với mật độ rất cao, với
không gian hạn chế, vì vậy tính chủ động trong sản xuất công nghiệp rất cao ít
bị ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên (trừ công nghiệp khai thác). Nhận thức
đặc điểm này đòi hỏi trong chính sách phát triển công nghiệp phải quan tâm
xây dựng các khu, cụm công nghiệp tập trung với các điều kiện kết cấu hạ
tầng kỹ thuật thuận lợi cho sản xuất công nghiệp.
- Hoạt động công nghiệp liên quan đến môi trường. Một mặt, các
nguyên, nhiên, vật liệu Yếu tố đầu vào của sản xuất công nghiệp, suy cho
cùng đều có nguồn gốc từ tự nhiên, có loại không thể tái tạo được. Vì thế nếu
không sử dụng hợp lý, có hiệu quả sẽ làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên, gây
ra sự hủy hoại môi trường. Hoạt động sản xuất công nghiệp còn là tác nhân
gây ra các chất thải làm ô nhiễm môi trường, nước, không khí
Mặt khác, công nghiệp lại tạo ra được các công nghệ, thiết bị hiện đại
* Thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong 25 năm qua
(1986-2011) ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của FDI trong công
cuộc hiện đại hoá nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Do đó, Đảng và
Nhà nước ta đã thực thi nhiều chính sách ưu đãi nhằm thu hút FDI. Riêng với
lĩnh vực công nghiệp FDI có vai trò to lớn như sau:
Một là, FDI trong ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
FDI được thu hút vào các ngành kinh tế; điều này được lý giải bởi:
- Công nghiệp là một trong những ngành có sức hấp dẫn căn bản đối
với các nhà đầu tư; FDI thường tập trung chủ yếu ở các khu công nghiệp, khu
công nghệ cao vì các khu công nghiệp (KCN) khu công nghệ cao (KCNC)
thường ở những vị trí đắc địa, có vị trí thuận lợi cho quá trình giao lưu kinh tế
với nước ngoài, mở rộng được các hoạt động du lịch và dịch vụ quốc tế. Ở
một số nước chậm phát triển, trong giai đoạn đầu phát triển thì lao động phổ
thông, giá rẻ có thể là ưu thế để phát triển các ngành công nghiệp sử dụng
nhiều lao động giản đơn: May mặc, giày dép, lắp giáp điện tử, sản xuát đồ
chơi, chế biến lương thực thực phẩm
FDI năm 2008 phân theo nhóm ngành: Công nghiệp - xây dựng chiếm
54,1%, dịch vụ chiếm 45,5%, nông - lâm nghiệp - thuỷ sản chiếm 0,4%. Tính
từ 1988 đến nay (2008) tương ứng là: 58,2%, 39%, 2,8%. FDI đăng ký chia
theo nhóm ngành và các ngành đạt trên 1tỷ USD vốn đăng ký (tính đến cuối
năm 2008) như sau: Lâm nghiệp - thuỷ sản: 4.221,0 triệu USD, công nghiệp -
xây dựng: 105.091,9 triệu USD (trong đó công nghiệp 97.304,4 triệu USD,
xây dựng là 7.787,4 triệu USD); dịch vụ: 83.413,6 triệu USD [34, tr.30] [34,
tr.72].
- FDI là nguồn vốn gắn với khoa học kỹ thuật hiện đại, có sự hậu thuẫn
mạnh mẽ của các công ty mẹ ở nước ngoài, có thế mạnh về vốn, lao động chất
lượng cao, trình độ quản lý tiên tiến, hệ thống tiêu thụ rộng lớn
18
Bên cạnh vai trò là một nguồn vốn phát triển những lợi ích lan toả ngày
càng khẳng định tầm quan trọng của FDI đối với sự phát triển công nghiệp;
công nghệ của nước chủ nhà trong dài hạn, đây chính là lợi ích căn bản nhất
đối với nước tiếp nhận đầu tư.
Bên cạnh chuyển giao các công nghệ, các dự án FDI lớn còn tham gia
nghiên cứu và phát triển (R&D) công nghệ của nước chủ nhà, nhờ đó mà
năng lực công nghệ của nước tiếp nhận FDI ngày càng phát triển hơn. Mặt
khác trong quá trình sử dụng các công nghệ hiện đại của nước ngoài, đội ngũ
chuyên gia cũng như công nhân trong nước học được rất nhiều kinh nghiệm.
Muốn học được công nghệ hiện đại như vậy đòi hỏi lực lượng lao động trong
nước (chuyên gia và công nhân) phải nỗ lực rất nhiều mới có thể nhanh chóng
tiếp thu được công nghệ hiện đại, sau đó cải biến cho phù hợp với điều kiện
của nước mình và biến chúng thành công nghệ của mình, công nghệ của nước
tiếp nhận đầu tư được cải thiện làm cho năng suất lao động ngày càng được
tăng lên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Bên cạnh những tác động thuận lợi, chuyển giao công nghệ thông qua
FDI cũng đặt ra nhiều vấn đề trong việc tiếp nhận công nghệ chuyển giao
hoặc là nhập công nghệ lạc hậu, hoặc là máy móc thiết bị đã qua sử dụng…
Điều đó đã từng xảy ra ở Việt Nam trong những năm qua.
Một nghiên cứu về chuyển giao công nghệ vào Việt Nam cho thấy, trên
727 thiết bị và 3 dây chuyền sản xuất nhập khẩu của 42 xí nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài thì có tới 76% thiết bị được sản xuất từ những năm 1950-1960,
50% là các máy móc đã qua sử dụng. Vì thế, cần phải có sự chuyển biến về tư
duy và chiến lược hợp lý để tiếp nhận công nghệ chuyển giao.
Bốn là, FDI góp phần phát triển nguồn nhân lực tạo việc làm và nâng
cao mức sống cho người lao động.
20
Việc thu hút FDI của các nước có nhiều mục tiêu, trong đó có mục tiêu
giải quyết việc làm và phát triển nguồn nhân lực của nước tiếp nhận đầu tư để
các dự án của mình hoạt động ngày càng hiệu quả hơn, các nhà đầu tư FDI
buộc phải đào tạo đội ngũ công nhân, cán bộ quản lý làm việc cho mình đã
tiết kiệm cho nước chủ nhà một phần ngân sách của Nhà nước để đào tạo
Tính đến cuối năm 2008, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tạo việc
làm trực tiếp cho gần 1,2 triệu lao động. Nếu tính độ lan tỏa của nó (hiệu ứng
tràn lan) thì khả năng thu hút lao động còn lớn hơn nhiều. Theo một nghiên
cứu của Viện Khoa học và Lao động và Xã hội - Bộ Lao động Thương binh
và Xã hội, hệ số lan tỏa của khu vực đầu tư nước ngoài từ 1,3 - 1,5. Nếu giữ
lại tỷ lệ nội địa hóa trong gia công cho nước ngoài phát triển mạnh công
nghiệp phụ trợ thì hệ số này có thể còn cao hơn thông qua tạo ra các tầng lao
động khác nhau. Theo hệ số này, khu vực đầu tư nước ngoài thu hút gần 02
triệu lao động (kể cả trực tiếp và gián tiếp). Xu hướng tăng trưởng việc làm
khu vực đầu tư nước ngoài cũng rất lớn, bình quân 10 - 15%/năm do mở rộng
hoặc xây dựng mới các doanh nghiệp theo dự án đuợc cấp phép.
Khu vực đầu tư nước ngoài là nơi sử dụng lao động có chuyên môn kỹ
thuật trình độ cao (các nhà quản lý, chuyên gia và lao động lành nghề) phù
hợp với kỹ thuật mới và công nghệ mới áp dụng vào sản xuất đạt trình độ
quốc tế. Do đó, khu vực này đóng vai trò rất lớn vào đào tạo nguồn nhân lực,
nhất là lao động lành nghề cho Việt Nam để hình thành đội ngũ lao động lành
nghề của một nền công nghiệp Việt Nam hiện đại. Hiện nay các doanh nghiệp
đầu tư nước ngoài tham gia tích cực vào dạy nghề (xây dựng các trường nghề
tại các KCN); đặc biệt đã hình thành mô hình liên kết đào tạo nghề và sử
dụng nhân lực giữa các KCN và trường cao đẳng, đại học, trường nghề để giải
quyết tình trạng thiếu lao động chuyên môn kỹ thuật như hiện nay. Tính
22
chung khu vực đầu tư nước ngoài đã tham gia đào tạo cho khoảng hơn 1,5
triệu lao động Việt Nam, trong đó 65% là kèm cặp tại doanh nghiệp, 35%
được đào tạo bổ sung kỹ năng mới cho phù hợp với cộng nghệ áp dụng trong
sản xuất.
Tiền lương cao trong khu vực FDI đã tạo ra sức cạnh tranh trên thị
trường sức lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong nước, lao
động làm việc trong khu vực FDI có chất lượng cao hơn hẳn so với các khu
vực khác, thể hiện qua những tiêu chí như: ý thức kỷ luật lao động, trình độ
ngạch xuất khẩu trên GDP; tỷ lệ kim ngạch nhập khẩu trên GDP; tỷ lệ FDI
trên tổng đầu tư và tỷ trọng khu vực nước ngoài trong GDP… Các thước đo
này có tính không ổn định nên tồn tại hiện tượng sai số phép đo. Trong số các
thước đo ấy, thì tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu trên GDP là thước đo
cơ bản nhất thường được sử dụng cho độ mở của nền kinh tế. Chỉ số các
thước đo ấy cao cho thấy độ mở của nền kinh tế trong nước là lớn.
Độ mở của nền kinh tế trong nước có thể góp phần nâng cao trình độ
công nghệ thông qua thúc đẩy nhập khẩu kỹ thuật và công nghệ tiên tiến cũng
như kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài vào nền kinh tế trong nước.
Mặt khác có thể mang nhiều ngoại tệ để nhập khẩu nhiều thiết bị máy móc và
các loại hàng hoá trung gian, hình thành nên vốn vật chất góp phần thúc đẩy
tăng trưởng thông qua xuất khẩu.
Độ mở của nền kinh tế lớn là một yếu tố làm gia tăng vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài. Có thể minh chứng điều này qua các số liệu sau đây: Năm
2007, một năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO, GDP theo giá hiện hành đạt
1.143 nghìn tỷ VND (tương đương 71,3 tỷ USD), tổng kim ngạch xuất khẩu
hàng hoá của Việt Nam đạt trên 109 tỷ USD. Đem so sánh 109 tỷ USD/71,3
tỷ USD thì độ mở của nền kinh tế là 150%. Từ đó vốn FDI thu hút vào Việt
24
Nam là 20,3 tỷ USD, tăng 69,1% so với năm 2006 (năm 2006 thu hút là 12 tỷ
USD, đây là coi là mức kỷ lục từ khi Việt Nam ban hành Luật Đầu tư trực
tiếp nước ngoài) [31, tr.21], [31, tr.43]. Dĩ nhiên đi liền với độ mở của nền
kinh tế là việc cải thiện môi trường đầu tư, hoàn thiện thể chế kinh tế… Tạo
nên sự hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ ba, môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh và các chính sách
đầu tư.
- Môi trường kinh doanh.
Môi trường kinh doanh tổng thể của một quốc gia bao gồm nhiều yếu
tố từ vĩ mô đến vi mô, từ kinh tế đến kỹ thuật. Có nhiều cách tiếp cận đánh
giá về môi trường kinh doanh của một quốc gia: